Loading...

Bồ Tát và Long hoa (1)

Thảo luận trong 'Phật giáo' bắt đầu bởi admin, 26/6/18.

  1. admin

    admin Administrator Thành viên BQT

    Tham gia ngày:
    26/11/16
    Bài viết:
    148
    Đã được thích:
    72
    Điểm thành tích:
    28
    ĐỨC DI LẠC VÀ LONG HOA



    Chương I: Những Hoá Thân Của Đức Di Lạc

    Theo lời thọ ký của Đức Bổn Sư Thích Ca Mâu Ni Phật trước khi nhập Niết Bàn, sau này vào thời Mạt Pháp, Bồ Tát Di Lạc vì Đại Bi nguyện mà Hạ Sanh xuống thế gian, tận độ chúng sanh. Ngài sẽ thành Chánh Qủa, là một vị Phật nối tiếp Đức Phật Thích Ca, chỉnh trang Phật Đạo, giữ gìn Chánh Pháp của Như Lai Phật trường tồn được 5000 năm.


    Chiếu theo Phật Lịch, nay đã hơn 2500 năm, được ghi nhận ba lần Đức Di Lạc Hạ Lai khai đạo tại Ta Bà thế giới này, được số đông người tu theo Phật biết tiếng. Ba lần lai trần nữa nhưng Ngài im lặng nên không mấy ai biết đến. Một lần làm Quốc Sư, một lần làm vua đều ở nước Tàu, một lần dạy đạo ở Tây Tạng sẽ được trình bày chương sau.


    • Phó Đại Sĩ. Có một kiếp Bồ Tát Di Lạc lai trần ở nước Trung Hoa, Ngài lấy tên Phó Đại Sĩ đến lúc nhập diệt, người thế gian mới được biết Phó Đại Sĩ là hóa thân của Đức Di Lạc.

    • Bố Đại Hòa Thượng. Đến đời nhà Lương cũng ở nước Tàu, Bồ Tát Di Lạc lai trần lấy tên Bố Đại Hòa Thượng. Thân hình Ngài khác thường hơn người thế tục, trán thì nhăn, bụng thì lớn và thân người mập mạp. Đến lúc nhập diệt, Ngài ngồi thiền tọa, không tật bệnh gì cả. Lúc đó người thế gian mới được biết Bố Đại Hòa Thượng là Bồ Tát Di Lạc hiện tướng ở Ta Bà thế giới này.

    • Long Thọ. Lại một kiếp khác, khi Bồ Tát Di Lạc lai trần ở Ấn Độ, Ngài lấy tên Long Thọ, đến lúc ra đi người thế gian mới được biết Ngài Long Thọ chính là hóa thân Đức Di Lạc. Mỗi lần thị hiện ở cõi ta bà thế giới này, Ngài đều vì bổn nguyện làm những việc lợi ích cho chúng sinh.


    Sau thế chiến thứ hai cho đến bây giờ, Hòa Thượng, Thượng Tọa, Đại Đức, Tăng Ni đều cho rằng thời này chưa đến lúc Đức Di Lạc xuất thế. Ngài còn ở trên cung trời Đâu Suất, nhiều kiếp nữa mới thị hiện ra đời để tiếp nối Chánh Pháp của Đức Bổn Sư Thích Ca Mâu Ni Phật.


    Trái lại trong lúc đó biết bao lời tiên tri của các đạo giáo như Cơ Đốc Giáo, Phật Giáo, Cao Đài Giáo, Phật Thầy Tây An, Phật Giáo Hòa Hảo lại có cả nhà Bác Học cùng các bậc Dị Nhân ở miền Nam nước Việt Nam cùng các kinh sấm cho biết, Đức Di Lạc đã Hạ Lai tại Việt Nam nhưng còn ẩn.

    Họ hoàn toàn tin vững vàng rằng Đức Di Lạc đã ra đời tại Việt Nam. Thực tại vẫn yên lặng, ngày tháng vẫn trôi, nhưng không ai nghe, không ai thấy, những hiện tượng kỳ lạ của kinh sấm xuất hiện để diện kiến Ngài. Dần dần khiến nhiều người bâng khuâng, lo lắng sanh ra nghi ngờ. Theo Đại Tập Kinh, sau khi Đức Phật Thích Ca nhập Niết Bàn, 2500 năm sau là thời Mạt Pháp, Đức Di Lạc Hạ Sanh. Nay đã đến 2538 năm Phật Lịch mà vẫn chưa có Đức Di Lạc ra đời, càng làm cho nhiều bậc học giả cùng những bậc tín tâm tu Phật hoài nghi hơn nữa.


    • Đức Di Lạc chính là Khổng Minh. Gần ngày nhập Bát Đại Niết Bàn, Ngài viếng thăm Đà Lạt và mua một tượng Khổng Minh đem về Nha Trang, Ngài ghi chú dưới tượng câu:

    “Đời là BIỂN KHỔ, không mấy ai tránh được cái khổ của đời.

    Còn vũ trụ không bao giờ giúp ta, chỉ có tâm ta mới cứu ta mà thôi.

    Kẻ VÔ TÂM là độc ác nhất” –T.V.


    Đường đạo Ngài xác định thật rõ ràng: Bậc tu không thể nương tựa chỉ biết cầu vái van xin mà phải chính mình tinh tấn sửa đổi tánh tình cho thật tốt, vạn pháp diễn cảnh phải chịu đựng và tự hóa giải cho sạch nghiệp. Sau khi chánh giác, bỗng tự phát lòng đại bi thương chúng sinh như thương thân mạng mình, không thể ngồi yên thấy chúng sinh đang trầm luân trong biển lửa.


    Một hôm Ngài dạy tôi nghe như vầy: Tôi với ông nhiều kiếp luôn ở bên nhau, có một kiếp Tôi làm Quốc Sư ở bên Tàu, thấy người dân bị rên siết trong đau khổ không thể làm ngơ được, Tôi phải đem trí tuệ làm phương thức cứu đời. Ngày nay tu hành tuy không có binh hùng tướng mạnh, không có quyền hành, một người lính canh cũng không có, lại không có một loại vũ khí thô sơ nào ở bên cạnh, nhưng với sự quyết chí tu hành, Tôi lấy Phật Lực đầy quyền uy gấp vạn lần hơn thời trước cứu đời rất hữu hiệu.


    Rồi Ngài cho vẽ tượng Quan Công treo trong Tịnh Thất của Ngài. Khi vào phòng, tôi thấy hình Quan Công treo ở tư thế hộ giá, bỗng nhiên tôi trực giác nhớ tiền kiếp của tôi và của Đức Ngài. Tôi ngạc nhiên khi biết Ngài là Khổng Minh đời nhà Hán làm Quốc Sư thời Lưu Bị còn được gọi Lưu Huyền Đức. Lạ thật! rất nhiều ngạc nhiên đối với tôi khi nhìn được từ quá khứ xa xôi vào khoảng năm 191 Lưu Bị-Quan Công-Trương Phi sau khi bàn luận, hẹn nhau hôm sau kết nghĩa trong vườn đào phía sau nhà Trương Phi, bày lễ vật cáo tế Thiên Địa.


    Lúc đó Khổng Minh chính là hóa thân của Bồ Tát Di Lạc. Dưới mắt Thiền Sư, nhìn biết tình nghĩa đã trở nên nhân duyên cao dày, tan hợp, hợp tan với bao phong ba, nay ở bên nhau trong thời đại nguyên tử của thế kỷ 20 này! Hai câu thơ của Đức Tịnh Vương hóa thân Đức Di Lạc cũng là Khổng Minh của thuở trước nhắn nhủ sự luân hồi quay tròn không dừng của kiếp người, có tình nghĩa vẫn tái hợp!


    [​IMG]


    –Tịnh Vương


    Từ ngàn xưa nay là thế kỷ 20, trình độ, sự tiến bộ của văn minh nhân loại, Ngài Khổng Minh nay lại với cái tên Tịnh Vương Nhất Tôn cũng chuyển mình theo sự tiến bộ ấy và Ngài đã thành công trên khoa học và trên cả những chính trị gia thế giới mới là vi diệu. Ngài thị hiện ở cõi Ta Bà thế giới này, trình độ học vấn chỉ mới lớp ba, chưa hết bậc tiểu học mà biết bao nhà khoa học gia với bằng cấp tiến sĩ, bác học đã phát minh bao điều dù cho tối tân cũng không qua nổi sự chỉ đạo kín nhiệm của Ngài từ xa rất xa. Kinh sách Ngài nhập Chánh Định Tam Muội ghi chép lại những nhân vật trình độ Đại học đọc đã phải thán phục và chưa hiểu hết nổi. Thế mới biết cái học không qua được Chánh Giác.


    Trong thời Đức Tịnh Vương tận độ chúng sinh, có Quan Công ở cấp Thần thuộc hàng Hộ Pháp vô hình, nguyện ứng trực hộ trì chánh pháp. Quan Công đã tinh tấn dùng thần lực đi đến những nơi cần trên các nước Cộng Sản, giải tỏa chùa chiền bị đóng cửa được mở cửa lại cho các bậc tín tâm vào lễ bái, chiêm ngưỡng Phật và tu hành theo ý nguyện.


    Tăng Ni các nước Cộng Sản được tiếp tục ở chùa tu hành cho đến khi nước nhà đổi mới phải kể đến nguyện độ sinh của Chư Thiên, Chư Thần, Chư Long Thần Hộ Pháp...và nhất là của Quan Công. Quan Công thường đến Trung Hoa và Đài Loan giúp giữ gìn dân hai nơi sống trong hòa bình, nhiều lúc gay cấn chính Quan Công nhận mệnh lệnh của Đức Tịnh Vương hóa thân Đức Di Lạc, đi hóa giải thật là khó diễn tả ra hết được. Cũng chính Quan Công đến nhiều lần ở Liên Xô trong những thời gian Liên Xô và Trung Hoa căng thẳng ở vùng biên giới để ngăn không cho Cộng Sản Liên Xô xua quân tràn sang nước Cộng Sản Trung Hoa.


    Quan Công thật có công lớn cùng với Chư Thiên, Chư Thần, Chư Hộ Pháp, Chư Long Thần Hộ Pháp... góp phần xây dựng hòa bình trên thế giới và hộ trì Chánh Pháp do Đức Tịnh Vương điều động và lãnh đạo. Thật không thể tưởng nổi ngày xưa là Khổng Minh ngày nay cũng chính là Khổng Minh trở lại với cái tên Tịnh Vương ẩn dưới bao điều huyền diệu mà giới khoa học Tây Phương đành chịu! Ngày nay Hộ Pháp Quan Công ở đẳng cấp Thần, theo Đức Tịnh Vương lập công đức tu hành, nhóm Ngũ Hổ cùng các cận thần đời Lưu Bị của Hán Triều cũng đều phát tâm tu hành trong Pháp Tạng Phật Giáo Việt Nam tức trong Long Hoa Hội Thượng.

    Các vua, quan thời đại Đinh-Lê-Lý-Trần cũng lai sinh theo tu quanh Ngài với xác thân mới tên tuổi mới của kiếp này. Không có gì lạ vì nhân duyên đã gieo từ trước, ta thấy lịch sử ghi chép lại những triều đại này đều sùng ái đạo Phật, nay họ cầu Tri Kiến Giải Thoát nên gặp lại. Thời này Lưu Bị cùng những cận thần xưa lai sinh làm người theo tu hành con đường Giác Ngộ.

    Quan Công còn gọi Quan Vân Trường không lai sinh làm người mà vẫn giữ vị trí cấp Thần vô hình theo hộ trì chánh pháp, ông cũng thường đi Hoa Kỳ và nhiều nơi của thế giới tự do. Còn Trương Phi ngày xưa nay chính là Tổng Thống Tưởng Giới Thạch ở Đài Loan. Gần ngày nhập Bát Đại Niết Bàn Đức Tịnh Vương chứng minh cho Quan Công là Hộ Pháp và căn dặn:

    “Sau này ông truyền cho các chùa nên thờ Quan Công vì ổng đi giúp mở cửa các chùa cho chúng sinh tu hành!”


    Ngày xưa pháp tánh như thế nào thì nay cũng diễn y thời Ngài Khổng Minh thật khó nghĩ bàn. Nhóm Ngũ Hổ cũng nằm Bộ Trung Ương điều hành suốt lộ trình hành đạo của Ngài cho chúng sinh được tu hành. Đặc biệt chân tử Ngài đông và bên cạnh có khá nhiều con cháu Đề Bà Đạt Đa cũng tu nhưng lòng dạ đầy trắc ẩn, đầy tỵ hiềm, luôn tìm cách quấy nhiễu.


    Đức Tịnh Vương còn cho ghi bốn câu thơ thể hiện chữ hiếu của Quan Công:

    “Bất hiếu tử nạn tai khiên

    Khổ hình sài giải bệnh tương truyền.

    Oan hình lao ngục oai xiên phối (đem ngục hình tới)

    Thủy hỏa chi tai mạt khải liên.” (liên tục chuyện dữ mang tới)

    –Quan Công


    Về phương diện thần bí, dưới mắt Thiền Sư giải đáp thì khoa học, không chấp nhận vì họ đòi hỏi phải có hiện vật thí nghiệm cụ thể chứng minh nhưng dù cho có cụ thể chứng minh để giải đáp mà họ chưa có cặp mắt Thiền Định, chưa có trình độ Thiền Sư khó mà nhận được để chấp nhận.


    Ví như khi Đức Tịnh Vương Chánh Giác Ngài nhớ tiền kiếp quá khứ, rất nhiều kiếp cả trăm ngàn năm về trước nay thấy đủ chuyện tương lai của nhân loại trên quả địa cầu này cùng của Tam Thiên Đại Thiên Thế Giới, giờ này có nói ra càng thêm cải vả. Vài năm mới đây chuyện bảy hành tinh cùng hiện một lúc mà báo chí đã đăng tin, thế giới đâu có biết chính Đức Di Lạc đã thực hiện, dù có biết cũng không thỏa mãn cho họ được. Chỉ trừ họ quay về Việt Nam nguyên cứu, theo học Đông Phương, khám phá ngay chính thân mạng họ, may ra mới thỏa mản được mà giao cảm đồng thể với vũ trụ, với Thượng Đế như trong Hịch chứng minh, Ngài quả quyết có thế giới vô hình hằng hà sa số trong Tam Thiên Đại Thiên Thế Giơi trong khi đó khoa học tìm có vô số hành tinh nhưng lại không tìm ra được sự sống của các sinh vật mà chỉ mắt Thiền Sư mới thấy.


    Vì sao? Vì Thiền Sư luôn hướng thượng nhờ ý thức thi hành trong cuộc sống điều ngự tánh tình, kết quả trở thành Siêu Nhân, Thánh Triết, nhận thấy cái gì cũng chân thật, ngoài ra còn cá tánh lấy cái học để nghiên cứu khó mà thấy đặng.


    • Vua Lý Thế Dân. Đời nhà Đường ở Trung Hoa Vua Lý Thế Dân chính là Bồ Tát Di Lạc trong lúc đó hóa thân Tôn Giả Mục Kiền Liên chính là Trần Huyền Trang đi thỉnh kinh từ Trung Hoa đến Ấn Độ. Đức Tịnh Vương hóa thân Đức Di lạc khai thị tôi nghe như vầy:

    “Bồ Tát được đích Bất thối tuyệt đỉnh, bậc này an nhiên không còn ái nhiễm, bước ra đi dạo khắp các cảnh giới. Lễ bái Đức A Di Đà Phật, một là an trú tịnh độ hai là phát Đại nguyện lai trần.

    Nếu lai trần xuống đặng làm Vua minh chánh, làm lãnh tụ cứu nước, cứu an dân lành, giải khổ ách nô lệ. Bậc này dù tái sanh nơi nào trong lục đạo cũng đặng làm thủ lãnh cứu nguy, chớ không bao giờ làm thường dân cả. Vì sao phải làm vua hoặc làm lãnh tụ? Vì có làm vua hay làm lãnh tụ sau này mới có trang nghiêm quốc độ thành Phật, trước tiên làm chủ giúp dân, sau làm chủ vũ trụ, đó chính là lẽ đương nhiên nó phải như thế.” –T.V.


    Ngài còn dạy: Làm vua để đào tạo tài có Tài mới có Trí. Đức do tu tập nhiều kiếp đã có sẵn. Nay có trí được Đức trí tương song. Bậc tu thực hiện được Siêu Thiện mới có đức lớn như biển cả. Trí Vô Thượng Đẳng là trí không ai địch nổi. Đức trí siêu việt như vậy là Phật.


    Cho nên bậc này không hiền mà cũng chẳng dữ. Không thiện mà cũng chẳng ác. Chỉ thực hiện đúng pháp vô sanh trở thành bất tử, nó phải như vậy.


    Bậc Thánh Hiền chỉ đi có một mặt phải, còn mặt trái của đời không đủ tài nên dể bị chết mà không oán, lại đem tình thương ban cho họ nữa. Pháp này không có Chánh Giác cũng không có Vô Thượng Đẳng Trí, chỉ có trí Thánh Hiền đến giác ngộ là cùng. Bậc giác ngộ rốt ráo tức Chánh Giác, bậc này phải chờ diện kiến Đức Đại Lực Di Lạc thành Phật thử thách, kiểm tra rồi chứng minh mới được nhập thể.

    Như Đức Bổn Sư Thích Ca Mâu Ni Phật đã từng chứng minh Ngài Quán Thế Âm Bồ Tát, Địa Tạng Vương Bồ Tát, Di Lạc Bồ Tát... Thời hạ kiếp này cũng vậy, Đức Di Lạc đã khai mở Long Hoa 37 năm mà những vị tự xưng Chánh Giác không vào diện kiến để chứng minh, dù có xưng Phật cũng không phải Phật thật vì chưa đủ công năng công đức mà xưng bị kẹt ở Phật Giới thật tai hại vô lượng kiếp. Bởi vậy bậc tín tâm biết rằng, mỗi khi Đức Di Lạc lai trần đều có tất cả các vị Tổ thời Đức Bổn Sư Thích Ca Mâu Ni Phật theo tu học ở quanh Ngài.


    Như đời nhà Đường ở bên Tàu, vua Lý Thế Dân ra đời chính là Bồ Tát Di Lạc thì có Tôn giả Mục Kiền Liên hóa thân là Trần Huyền Trang đi thỉnh kinh. Một điểm đặc biệt mà bậc tín tâm cần lưu tâm là trước khi viên tịch, chân tử của Pháp sư Huyền Trang tên là Phổ Quang và những người khác có hỏi “Thầy có chắc được tái sinh lên cõi Trời Đâu Suất không?


    – Pháp sư trả lời: “Chắc chắn như vậy” Rồi Pháp sư nói “Nhục thân độc địa này của Huyền Trang thật đáng nhàm chán. Nay công việc đã xong, tôi quả không nên lưu lại ở đây nữa. Tôi xin hồi hướng tất cả công đức và tri thức của tôi cho tất cả chúng sinh, cầu mong tất cả chúng ta sẽ được sinh lên cõi trời Đâu Suất theo học Bồ Tát Di Lạc và phụng sự Ngài. Khi Đức Phật lại xuống trần, chúng ta cầu mong sẽ được xuống lại cùng với Ngài để tiến hành Phật sự cho đến khi chúng ta đạt được mục đích Tối Thượng”


    Sau khi nói lời từ biệt ấy, Pháp Sư lại Thiền định. Đoạn Ngài đọc lên một bài kệ tán Phật Di Lạc và lập nguyện được tái sinh lên cõi Trời Đâu Suất. Nói xong hơi thở Ngài yếu dần và Ngài tịch một cách bình an. Da Ngài vẫn hồng hào và sắc mặt Ngài hoan hỷ. Trong bảy ngày nét mặt của Ngài vẫn không đổi và nhục thân không thoát ra mùi gì khó chịu. Lúc bây giờ là năm 664 tức là thế kỷ thứ bảy.


    Lời thệ nguyện này, nay là thế kỷ thứ 20, đã được trả lời hùng hồn nhất, chân thật nhất được Đức Tịnh Vương Nhất Tôn hóa thân Đức Di Lạc đã chứng minh. Thế mới xác minh sanh tử luân hồi là có thật. Đức Di Lạc Hạ Lai kỳ này ở vào hậu bán thế kỷ thứ 20. Ngài hiện cư sĩ. Trần Huyền Trang cũng hiện cư sĩ. Chư Tổ thời Đức Phật Thích Ca cũng hiện diện đầy đủ với hạnh cư sĩ tại gia. Tất cả đều có gia đình, vợ, con làm tất cả các ngành nghề trong xã hội miền nam Việt Nam.


    Nay đã hội tề đông đủ, theo tu học Đức Di Lạc. Trong đó Trần Huyền Trang với hóa thân mới, tên mới của kiếp này đã được Đức Tịnh Vương hóa thân Đức Di Lạc chọn đứng đầu Bộ Trung Ương, tiến hành Phật sự suốt lộ trình hành đạo của Ngài ở thế giới này. Ông cũng chịu muôn vàn gian nan, khắc nghiệt của thời mạt kiếp còn hơn thời đi thỉnh kinh nữa. Có rất nhiều chân tử Ngài Tịnh Vương đồng tu với Huyền Trang đã tìm đủ cách xô, lật, đập đổ... đủ hình thức nhưng họ không đủ trí bát nhả nên đã nhiều đợt bị thất bại.


    Thật hy hữu thay lời nguyện xưa ở thế kỷ thứ bảy đã được thể hiện đúng vẹn vừa ở thế kỷ 20 này, thế kỷ nguyên tử mà Đức Di Lạc đã hiện thân. Ngày nay đã được giải có đáp số đúng.


    Một lần nữa: “Khi Đức Di Lạc xuống trần chúng ta cầu mong sẽ được xuống lại cùng với Ngài để tiến hành Phật sự cho đến khi chúng ta đã đạt được mục đích Tối Thượng” đã được thực hiện và đã đạt Vô Thượng Đẳng Chánh Giác, duy nhất được Đức Di Lạc ban hành Hịch vào hàng Bồ Tát Ma Ha Tát trong Đại lễ 30 tháng 9 năm 1989.


    Thế mới biết bậc tu hành thành thật tâm và thiết tha tâm đều được Chư Phật mười phương gia hộ chứng minh không có sai chạy. Giả sử nếu thời pháp sư Huyền Trang không được sanh về cõi Trời Đâu Suất như đã hạnh nguyện, sao ta thấy kỳ hạ lai này Đức Di Lạc hiện cư sĩ ở tại gia, Huyền Trang cũng hiện cư sĩ tại gia và gặp nhau kiếp cuối thành Phật của Đức Di Lạc. Huyền Trang cũng đã phụng sự đúng nguyện và đã thành công. Kiếp nào Chư Tổ cũng xuất gia nhưng khi Đức Di Lạc sống tại gia là tất cả cũng tại gia. Do đó chúng ta phải biết rằng đã có sắp xếp của Ngài trước khi lai trần và đã hội tề với nhau trước là chuyện chắc chắn.

    Vào hậu bán thế kỷ thứ 11, Tôn giả Mục Kiền Liên lai sinh ở Tây Tạng là một La Ma Milarepa có lịch sử ghi chép cuốn "Milarepa Con Người Siêu Việt". Lúc đó Đức Di Lạc là Thầy dạy đạo cho Milarepa. Bao nhiêu kiếp hạnh nguyện năng động thuộc phẩm Bất Khả Tư Nghì, chờ đến thời Hạ Lai này mới được chứng minh là cả một chuổi dài qua nhiều kiếp tinh tấn không ngừng, không mệt mỏi, cùng sự chịu đựng vạn pháp diễn hành có lắm lúc kiệt sức. Nhiều bậc chạy dài trong thời mạt pháp này, không chịu đựng nổi phải quay lại vào chùa, vào cốc, trốn không gặp vạn pháp diễn hành ở thế gian!


    Một hôm Đức Tịnh Vương hóa thân Đức Di Lạc khai thị: Chân tử của Ngài hàng hàng lớp lớp hiện nay, người nào thấp nhất cũng làm quan ở triều đình còn thì Đại Thần của Ngài thời Khổng Minh và thời vua Lý Thế Dân đời Đường nay đều phát tâm tu hành. Thế mới xác nhận được nhân duyên đã cao dày nay mới tái hợp được./-



    Chương II: TỪ Đâu Ta Đến

    Bối cảnh xã hội trên thế giới sau Đệ Nhị Thế Chiến.

    Sau Đệ Nhất và Đệ Nhị Thế Chiến chỉ tính sơ qua những biến cố kinh tế, xã hội, chính trị của các quốc gia trên thế giới, dồn dập nghiêm trọng đến mức độ những nhà bác học, những nhà phát minh khoa học, những nhà xã hội học hoang mang và lo sợ.


    Nhiều người bi quan cho rằng thế chiến thứ ba sẽ bùng nổ do những công trình phát minh của họ đồng thời cũng báo hiệu ngày tận thế sẽ xảy ra. Song song với việc con người tác tạo quá mức, còn có những trận cuồng phong bão tố tàn phá dữ dội, những trận động đất cực mạnh, nạn hạn hán kéo dài, nạn lụt lội tệ hại nhất thế kỷ, đã làm chết không biết bao nhiêu người mà kể cho hết được.


    Đặc biệt nhất là nạn ô nhiễm môi trường sống thiên nhiên trong đất, trong nước ao, hồ, sông, biển. Khí độc thải ra phá tầng ozone của bầu khí quyển mỗi ngày một lớn dần. Trong khi những nhà lãnh đạo của các nước tiên tiến về công nghiệp chưa ý thức nhanh chóng làm chấm dứt những vấn nạn trên.


    Chỉ bấy nhiêu tác hại trên cũng là nguyên nhân gây bệnh hiểm nghèo mỗi ngày một lan tràn cho nhân loại. Hậu quả thảm khốc và đau thương khủng khiếp hơn nữa trong trận Thế Chiến một và hai, những cuộc được gọi là cách mạng, đã để lại cho những người dân vô tội bị tan thương, mất mát không sao kể cho hết được.


    Nhiều bậc có đạo đức, có trình độ hiểu biết về sự tồn vong của nhân loại, rất lo lắng. Họ tự hỏi, nhân loại cứ tiếp diễn bị sống bấp bênh quá mức chịu đựng, cuối đường sẽ đi về đâu? Có phải đây là triệu chứng của thời Mạt Kiếp?


    Hủy diệt hay có Đấng Cứu Thế ra đời? Không một ai dám khẳng định cho nhân loại yên lòng được.


    Riêng tại Việt Nam, kinh sấm đã lan truyền nhanh nhiều nơi trong nước: Tu mau kẻo trễ – sắp đến rồi – Đức Di Lạc đã ra đời. Hãy vững tin chờ đợi, nhưng không ai dám nói chính xác bao giờ Ngài ra đời. Cùng lúc, cũng có lắm kẻ cười chế diễu, vì họ cho là tin nhảm, ảo tưởng đối với những lời tiên tri trên. Họ hô hào hãy dùng hai bàn tay lao động để sống.


    • Bối cảnh xã hội Việt Nam.

    "Một nghìn năm bị đô hộ bởi người Tàu, một trăm năm bị đô hộ bởi giặc Tây, năm mươi năm nội chiến từng ngày”, bất cứ ai mới nghe qua cũng đủ biết từ thời ông Sơ, ông Cố của dân Việt Nam đã gánh chịu bao đau thương tang tóc, sự khốn cùng kéo dài lê thê qua nhiều thế hệ, đã chứng minh bao cảnh chém giết đầy man rợ, cảnh lầm than khốn khổ, cảnh chết vì đói, vì tù đày, vì gia đình ly tan quá đau buồn... Phải thán phục sức chịu đựng của ông cha ta đứng đầu trên thế giới.

    Với tình hình xã hội vô cùng khắc nghiệt và vô cùng hỗn loạn như vậy, nhiều bậc hiểu biết càng ngày càng nhận định rõ: Con người đã và đang sụp đổ về tinh thần cùng sự suy đồi thường diễn hàng ngày khiến họ tin rằng Đức Di Lạc sắp ra đời vì Cùng Tất Biến là lẽ thường.


    Để tán thán lời Đức Bổn Sư Thích Ca Mâu Ni Phật cách đây đã hơn 2500 năm, Ngài đã khai thị hoàn toàn đúng với trăm ngàn chân thật. Đọc xong, quý vị Tăng Ni, Phật Tử, các nhà xã hội học, bác học, nhà phát minh khoa học hãy lập thành phái đoàn đến miền Nam Việt Nam, khảo sát và kiểm chứng lại. Qúy vị sẽ thấy bỗng nhiên ĐÊM hóa NGÀY của thế giới chúng ta đang sống đầy mầu nhiệm, đầy kỳ bí.


    Nó thực tiễn lắm! Không một chút ảo tưởng, không hề viễn vông! Qúy vị còn tìm được nguồn sống mới an vui và tràn đầy hạnh phúc cho hiện tại và những kiếp tương lai nữa. Nếu không có luân hồi sao rất nhiều bậc tu nhớ kiếp trước của mình là ai? làm gì? ở đâu? rồi ghi chép lại rành mạch. Đối với các bậc Thánh Nhân, Thiền Sư nhớ quá khứ kiếp, đã ghi chép lại. Ngày nay các nhà khoa học cũng đã nghe, thấy, nhiều tài liệu đã để lại có chứng minh.


    Các Nhà Khoa Học, Thực Nghiệm kiểm chứng các vật bên ngoài, còn các Thiền Sư Đông Phương kiểm soi khám phá ngay trong thân mạng mình để biết vũ trụ.

    • Đức Tịnh Vương Nhất Tôn là ai? Ngài đã làm gì cho nhân loại?

    Điều mà người tu hành lẫn người thế gian cần biết, Đức Trí của Chư Phật quá siêu đẳng, đã từng đem lại nguồn sống và hạnh phúc cho tứ loài mà tứ loài chẳng hay biết.

    Bậc Chánh Giác chỉ sử dụng thần thông như một phương tiện khi cần thiết. Chư vị cũng không muốn những mầu nhiệm của vũ trụ được sử dụng để tiết lộ cho kẻ phàm tục đầy kiêu ngạo biết. Làm xong Ngài âm thầm ra đi, không cần chúng sanh tranh cãi đúng sai, không cần ở lại hưởng gì của thế gian, miễn sao tận độ chúng sanh an lành là đủ. Mùa Vu Lan năm 1969 tức năm 2513 Phật Lịch, nhờ một đại duyên lành, tôi theo tu học Đức Tịnh Vương Nhất Tôn. Một hôm Ngài gọi tôi và bảo:

    - Này ông Pháp Khả, ông là Chân Phật Tử có căn cơ, quyết tâm cầu đạo giải thoát rốt ráo, trước Tam Thế chứng minh, Ta tuyên đọc bài kệ sau đây đặng ông cùng tất cả nhân sinh mai sau biết Ta hóa thân kiếp này, hiện tướng ở cõi Ta Bà Thế Giới làm tất cả những lợi ích gì để tận độ chúng sinh trong thời Mạt Pháp này.


    TỪ Đâu Ta đến

    THỊ Hiện cư nhân

    DI truyền bảo pháp

    LẠC quốc an khương

    TÔN giả cúng dường

    PHẬT Vương minh chứng


    Đọc xong, Đức Tịnh Vương im lặng, không khí trong căn nhà quanh chỗ Ngài ngồi bỗng nhiên có mùi trầm hương bay thơm ngát đầy vẻ trang nghiêm, ấm cúng lạ thường. Đem từng chữ đầu mỗi câu của bài kệ trên kết lại cho ta biết được:


    " TỪ THỊ DI LẠC TÔN PHẬT "

    Tôi đảnh lễ Ngài mà lòng hoang mang suy ngẫm, chẳng lẽ nay tôi gặp Đức Di Lạc hiện thân bằng xương bằng thịt, đang ngồi trước mặt tôi là thật chăng? Tôi cùng các bậc tu và bậc không tu đang ở tôn giáo nào cũng cần xem xét lại, Đức Di Lạc đã thị hiện đúng thời điểm, đúng hoàn cảnh, đúng thời Mạt Pháp. Ngài hoan hỷ lấy Đại Lực để gánh chịu. Ngài tận dụng Phật Lực chuyển hồn loạn của thời Mạt Kiếp đến Thượng Kiếp.


    Lần Hạ Sanh này, Đức Di Lạc lấy danh hiệu Tịnh Vương Nhất Tôn, khai Đạo tại số nhà 42 đường Hồng Bàng Nha Trang, những năm gần mãn đời, Ngài dời về ở số 6 đường Huỳnh Thúc Kháng Nha Trang. Hôm nay thời điểm đã đến, khi ghi lại sự kiện lịch sử hi hữu này, tôi mong nhân sinh cùng quý vị chân tử nào nhận chân được Đời là bể khổ vô tận, là giả tạm, hãy dõng mãnh phát tâm cầu Đạo Giác Ngộ, thoát khỏi Sanh Tử Luân Hồi. Dù của cải giàu có chất đầy cả thế gian này, khi nhắm mắt cũng ra đi với hai bàn tay trắng. Lại không biết mình đi về đâu mới là điều sầu khổ không tả hết.


    • Bình Định nơi Đức Di Lạc Hạ Sanh

    Lúc 8 giờ sáng một ngày cuối mùa đông năm 1969 dương lịch, tại căn gác gỗ nhỏ số 42 đường Hồng Bàng Nha Trang, Đức Tịnh Vương Nhất Tôn khai thị, tôi nghe như vầy:


    Từ Cung Trời Đâu Suất, Ngài mặc chiếc áo tràng dài, rộng, màu thanh thiên tức màu xanh da trời tươi đẹp, hai bên có Chư Thiên, Chư Long Thần Hộ Pháp, Chư Hộ Pháp Bồ Tát, Chư Bồ Tát cung nghinh theo tiễn. Ngài bước xuống thế giới Ta Bà này đến giáp ranh tầng khí quyển, Chư Thiên, Chư Long Thần Hộ Pháp nhìn thấy bụi hồng trần bao phủ dày đặc, đầy chất bẩn, tất cả đều dừng lại, cung kính chiêm bái Ngài và không dám đi theo nữa.


    Chỉ một mình Ngài đi thẳng đến tỉnh Bình Định thuộc miền Trung nước Việt Nam. Ngài đứng trước cửa nhà, chờ bà mẹ tên là Nguyễn thị Phụng sắp sanh. Khi bà vừa hạ sanh ra một bé trai, Ngài liền nghiêng mình khẽ nhẹ bước vào thân chú bé. Lúc bấy giờ khoảng 9 giờ sáng ngày 24 tháng 12 âm lịch năm Kỷ Mùi (1918) tức năm 2462 Phật lịch. Ngày tháng này thời tiết đang chuyển mình sang ngày đầu Lập Xuân.



    Cha Ngài tên Từ Như Ý đặt tên cho Ngài là Từ Thế Thọ. Tứ Chúng Pháp Tạng tức chân tử của Ngài, hàng năm cứ đến ngày 24 tháng 12 Âm lịch đều sum vầy về nơi Tịnh Thất của Ngài làm Đại Lễ mừng Đản Sanh Ngài. Cũng ngày này năm Tân Hợi tức ngày 08-12-1972 Dương lịch, Ngài nhắn nhủ một lần nữa cho thế gian cùng chân tử của Ngài biết Di Lạc đã ra đời, qua bài thơ do chính Ngài ghi bút và cũng chính Ngài đánh máy:


    TÌNH LỜI HẠ SANH

    KỶ NIỆM NĂM KỶ MÙI (1918)


    Giữa buổi trời xanh, nắng dịu hòa
    Thuyền con, bườm trắng chạy xa xa,
    Nha Trang bãi biển chiều thanh lịch,
    Tôi kể thời xưa chuyện đã qua:

    Năm ấy Đông đi, xuân sắp về,

    Cánh đồng thịnh trị khắp thôn quê,
    Lương dân vui hưởng ba ngày tết,
    Giải sạch lo phiền chuyện gớm ghê.

    Năm bốn năm qua... Tết những gì?

    Nhà nhà vôi trắng, dựng Nêu Quy,
    Có câu Liễn Đỏ hai bên cửa,
    Có pháo huy hoàng mong chứng tri.

    Trong lúc ấy, kẻ đi người lại,
    Mua sắm đồ cầu vái Chư Thiên,
    Huyền linh chung khắp các miền,
    Thực hư, hư thực bởi duyên thanh bình.

    Cùng ngày hai bốn viên minh,
    Cũng trong tháng chạp, một mình Ta Thôi.
    Phất phơ trên đảnh mây trời,
    Đương Lai Sanh Hạ hợp thời Hạ Nguyên.

    Ta có nói vẫn lời dư dả,
    Ngày hôm nay thư thả như nhiên.
    Phú cho mạt thế vẹn tuyền,
    Của Như Lai Dụng, một phiên diễn tuồng.
    Thiện Chân Tử chính nguồn an ủi,
    Pháp Tạng nầy, chung tuổi ấm êm,
    Miễn sao dưới mái gương thềm,
    Chung vui hoàn giác, nỗi niềm Tôi mong.


    –TỊNH VƯƠNG NHẤT TÔN

    Ngày Đản Sanh: 24-12 Tân Hợi

    (08-02-1972)



    “Giải sạch lo phiền chuyện gớm ghê”


    Thế chiến thứ nhất năm 1914-1918 chấm dứt, nhân loại nhất là các nước kém mở mang đã giải thoát được thế chiến thứ hai 1939-1945. Hiệp định Geneve 1954 ra đời và nhiều người lo sợ nạn xâm lăng của chiến tranh. Trong bối cảnh khắc nghiệt báo hiệu cường độ hỗn loạn gia tăng, Ngài đã ra đời được một tuổi.

    “Huyền linh chung khắp các miền”


    Trong lúc dân chúng đi lại mua sắm vật dụng Tết thì cả một thể vô hình của Chư Long Thần, Địa Thần, Tứ Bộ Thần, Thượng Đẳng Thần quanh vùng Ngài thị hiện, đã có huyền cơ linh ứng chung khắp canh giữ Ngài.


    “Thực hư hư thực bởi duyên thanh bình”


    Nhìn gần, duyên thanh bình làm lương dân vui sắm Tết, nhưng nhìn xa, thế chiến thứ Ba đang âm ỉ không thực thanh bình, như thực hư hư thực vậy.

    “Cùng ngày hai bốn viên minh”


    Hai mươi bốn viên minh là ngày đặc biệt, rất hiếm có dịp đến. Vì sao? Vì ngày này năm ấy, theo lịch Trung Hoa là ngày Lập Xuân, tức ngày cuối đông thời tiết đang chuyển sang xuân tươi sáng.


    “Phất phơ trên đãnh mây trời

    Đương Lai Sanh Hạ hợp thời Hạ Nguyên”


    Từ cõi Trời Đâu Suất, Ngài đi vào bầu khí quyển và các tầng mây đến thế gian. “Đương Lai Sanh Hạ”. Từ lâu Kinh Phật Giáo vẫn thường dùng để chờ đợi Đức Di Lạc, nay Ngài ghi bút cũng là nhắc cho thế gian biết hiện nay đã là Hạ Kiếp rất hợp thời cơ cứu đời của Ngài.


    “Ta có nói vẫn lời dư dã

    Ngày hôm nay thư thả như nhiên”


    Ngài biết dù Ngài có nói thực, thời này vẫn là lời nói thừa, chúng sinh điên đảo chẳng tin. Phần Ngài vẫn bình thản theo lời đã nguyện.


    “Phú cho Mạt Thế vẹn tuyền”

    Của Như Lai Dụng, một phiên diễn tuồng”


    Thời Mạt Kiếp thế giới muốn phát sinh độc hại như thế nào cũng mặc sức, còn Ngài đã biết được nó là diễn cảnh một thời của Như Lai để tiến đến Thượng Kiếp.

    “Thiện Chân Tử chính nguồn an ủi

    ... Chung vui hoàn giác, nổi niềm Tôi mong”


    Tuy thế gian diễn cảnh độc nhiễm tùy thích, nhưng Ngài vẫn còn niềm vui là số Chân Tử cầu giác ngộ đang theo Ngài. Long Hoa mà hầu hết những bậc tu trông chờ chính là:


    PHÁP TẠNG PHẬT GIÁO VIỆT NAM


    Còn Đức Di Lạc của quá khứ nay ẩn dưới danh hiệu TỊNH VƯƠNG NHẤT TÔN.

    Lãnh đạo Pháp Tạng làm chủ mối đạo, Ngài lập danh xưng: TĂNG CHỦ NHẤT TÔN.

    Khi mới sanh ra, thân hình Ngài đẹp, tướng hảo quang minh nhưng gia đình rất nghèo khổ, nhà vách bằng tre trét đất sét với rơm rạ, mái lợp tranh ở thôn quê. Chư Long Thần Hộ Pháp (vô hình) thấy vậy gỉa hiện mặt Qủy dữ tợn, bà mẹ nhìn thấy sợ quá bế con chạy sang nhà bà con sạch sẽ hơn, cao ráo hơn. Vì mới sanh được ba ngày nên ánh nắng chiếu vào mắt làm cho một con mắt Ngài phải bị tật.

    Âu đó cũng do Như Lai báo trước, căn cơ của chúng sinh thời Mạt Kiếp, Phật ra đời mà chúng sinh không gặp được. Chỉ công đức Chư Tổ, tâm rỗng rang, lại có tâm tu cầu Giác Ngộ mới có Đại Duyên Lành đến được với Ngài mà thôi.

    Ngài dạy tiếp: Tôi dùng thần thông hiện đầy đủ 32 tướng tốt giống Chư Phật rất dễ, nhưng thời Mạt Pháp chúng sinh đang ưa chuộng sắc tướng, âm thinh mà hiện thân như vậy, bá tánh chỉ vào cúng lạy, chớ không tu sửa tánh xấu thì đâu có ích lợi gì.


    • Thành Phố Nha Trang thuộc tỉnh Khánh Hòa nơi Đức Di Lạc Hành Đạo.

    Tôi nghe như vầy: Trong Thế Chiến thứ hai 1939-1945 tình hình nước Việt Nam bấy giờ chiến tranh lan tràn khắp nơi. Lúc đang ở Bình Định, vì bị tình nghi, chính quyền Cộng Sản Việt Nam kết án Ngài 10 năm nhưng mới ở tù được 26 tháng thì Hiệp Định Geneve ra đời và Ngài được thả tự do. Lúc đó, Ngài được 36 tuổi và di chuyển về Nha Trang thuê mướn một căn nhà nhỏ lợp tranh vách đất ở Sinh Trung gần chợ Đầm bây giờ.


    Đến năm 1956 Dương lịch tức năm 2500 Phật Lịch, Ngài đắc Vô Thượng Đẳng Chánh Giác. Từ đó, Ngài dùng công năng trong vô lượng kiếp quá khứ, tận độ chúng sanh trải qua nhiều kiếp tích lũy công đức. Kiếp này Hiển Thị Phật Thân xây dựng Quốc Độ và tạo dựng thời Thượng Kiếp nơi cõi Ta Bà thế giới này. Từ nay, cứ mỗi giáp tức 12 năm, thế giới sẽ biến đổi dần dần đến thanh bình, con người sẽ thanh nhàn, thư thả và có đạo đức trở lại.


    Kinh Phật tự chính Ngài ghi bút lưu lại hiện còn đầy đủ. Để chứng minh Ngài đã thị hiện, tôi xin ghi lại một số điểm chính nữa hầu quý vị nhận định đầy đủ hơn qua Ấn Chỉ 1-2-3-4*


    * Ấn là ấn chứng vũ trụ nhân sinh.

    * Chỉ là trực chỉ.


    Mặc dầu không ai hiểu Ngài lúc này, nhưng Ngài vẫn âm thầm hóa giải thế gian qua Ấn Chỉ 1 cũng do Ngài đánh máy ra:


    PHÁP ĐỘ THỜI ĐÔNG ĐỘ

    Ngày: 20-01-Năm Đinh Tị

    Giờ Ngọ 09-03-77


    PHẦN KỆ:



    Tây Phương cực lạc trổ huỳnh quang,
    Đông Độ Đương Lai đã mở màn,
    Diệu dụng tương song về nhất tướng,
    Tứ loài đang diễn mộng chưa tan.

    PHẦN GIẢI



    Ta đi Tây Độ tỏa huỳnh quang,
    Ta lại Đông Phương vẹt bức màn,
    Hòa hợp tương song đồng hiện tướng,
    An khang lạc quốc trọn vinh quang.

    PHẦN DIỄN:


    Ai hiểu đến Ta giữa lúc nầy,
    Ráp vần xoay vận hiệp Đông Tây,
    Lời thề Vương Bảo tô nền tảng,
    Cốt vãng hồi sanh thoát đọa đày.

    PHẦN HÓA:


    Thiên Tiên mừng rỡ vỗ tay,
    Địa Tiên ngơ ngẩn châu mày thở than
    Nhân sinh đi đứng ngỡ ngàng,
    Các hàng Bồ Tát cười vang vui mừng.
    Tam Giới rung chuyển chưa ngừng,
    Ta ngồi Bửu Tọa vạn tuần xinh xinh.

    PHẦN ẤN CHỈ:


    Thế nhân cầu đạo chân thành,
    Long Hoa nào rõ trở thành đảo điên.
    Thân phàm Long Thọ vẹn tuyền,
    Còn TÂM ÓC TRÍ của Tiên. Thánh. Thần.
    Giác toàn chính thật là THÂN,
    Tại sao chưa tỉnh phân vân nỗi gì?
    Tìm đâu? Nhìn thẳng bài thi,
    Lời Ta đã ngỏ những gì Phật ngôn.


    TỊNH VƯƠNG NHẤT TÔN

    Lúc giờ Ngọ (12) giờ trưa:
    09-03-1977


































    Thời Đông Độ
    : Thời đồng hóa nhân sinh, hiện thân cư sĩ, dìu dắt bậc tu về với Chân Tôn Hiện Giác.


    PHẦN KỆ:

    Tây Phương ý nói Cõi Trời Đâu Suất đầy an vui, an lạc trong ánh Đạo vàng.

    Đông Độ Đương Lai đã mở màn: Ngài Hạ Sanh tại Đông Phương, Đông Độ còn có nghĩa Cư Nhân Hạnh (cư sĩ). Đương Lai: Đức Di Lạc đã mở Đạo.

    Ngài dụng đủ phương tiện tuyệt mỹ để chỉ ĐỜI LÀ ĐẠO LUÔN SONG HÀNH, luôn hiện như hình với bóng, tuy hai nhưng chỉ có một Tướng, Ngài tùy thuận cốt đưa nhân sinh về một lối tu duy nhất là Giác Ngộ.

    Khi Ngài mở màn khai đạo, tứ loài đang gia tăng cường độ, đua tranh sát phạt nhau hỗn loạn, triền miên sống trong cơn mê.

    PHẦN GIẢI:

    “Ta đi Tây Độ... Ta lại Đông Phương”... Hóa thân Đức Tịnh Vương Nhất Tôn hiện nay chính là Đức Di Lạc từ Thiên Thừa Hạnh (xuất gia) thuở trước, nay hiện Cư Nhân Hạnh (tại gia), mở màng vô minh cho lối tu sai lạc của thời Mạt Pháp. Ngài hòa hợp cho nhân sinh dụng nghe, thấy, biết trong đời để tu hành, chuyển cái Nghe, Thấy, Biết trở thành vạn pháp không mắc miếu. Thực hiện được con người sống an lành, hạnh phúc, gia đình ổn định, đất nước an lạc.

    PHẦN DIỄN:

    Ngài thường đi Khai Đạo nơi có Chân Tử như Nha Trang, Qui Nhơn, Đà Nẵng, Huế, Sài Gòn. Cũng có một số tu sĩ xuất gia đến gặp Ngài, đọc kinh sách giải thoát của Ngài. Họ chỉ biết Ngài là ông Thầy Tịnh Vương. Suốt lộ trình Ngài không hề có một tu sĩ nào tìm hiểu pháp môn giải thoát, cũng không quan tâm, lại còn xem lối tu này không cần thiết và hoàn toàn xa lạ.

    Song song với việc dạy đạo cho Tứ Chúng chung quanh, Ngài còn một Đại Nguyện khó khăn nữa, đó là quyết đem Bảo Pháp của Chư Phật xây đắp cho thế gian, chuyển từ Phương Đông sang Phương Tây, cho họ có lối tu thực tiễn sửa tánh, giải bỏ đố tật xấu, hóa giải hoàn cảnh đến minh tâm thoát khỏi khổ ải, ngay trong mỗi mỗi gia đình. Việc làm chuyển thế giữa lúc này, không một bậc lãnh đạo tôn giáo nào hiểu gì cả.

    PHẦN HÓA:

    “Thiên Tiên mừng rỡ vỗ tay”

    Vì sao? Ở Cõi Tiên, Chư vị Thiên Tiên đang quan sát theo dõi chuyến Hạ Lai của Ngài. Thiên Tiên là những bậc ở ngoài trái đất của chúng ta, họ rất nhạy cảm. Từ quá khứ cho đến vị lai rất giao cảm, tất cả sự di chuyển điều động vạn pháp xuất hiện hay lưu hoàn thảy đều tỏ thông liễu ngộ, chỉ sút kém với hàng Bồ Tát chưa biết thân mạng mình đổi thay, thay đổi như thế nào để giải quyết sanh, tử, lão, khổ.

    Bậc Thiên Tiên nhìn thấy vũ trụ, nhân sinh an lành, đến thời Hạ Lai Mạt Kiếp địa ngục phát sinh, nghiệp đau khổ tràn đầy liền nhìn thấy được có Đại Lực cứu độ tứ loài nên Thiên Tiên mừng rỡ vỗ tay.

    “Địa Tiên ngơ ngẩn châu mày thở than”

    Vì sao? Vì Địa Tiên luôn hướng về thời Trung Kiếp còn gọi Hiền Kiếp, thời này tu hành trọng Đạo Đức, Thánh Hiền. Đến khi thấy hỏa ngục phất, Đại Lực Di Lạc tận dụng nương theo thời Hạ Lai cứu độ, hàng Địa Tiên không hay biết khi thấy Thánh Hiền, Bồ Tát bị khổ như thân trâu ngựa nên cho là Phật Đạo suy đồi, Mạt Pháp mà khóc than. Còn hàng Thánh Hiền, hàng Bồ Tát đều đi trong “Phổ Môn Phẩm” tức đi trong HỎA NGỤC, chịu đắng cay, chịu nhục nhã, chịu cực hình để độ KHỔ cứu độ chúng sinh.

    “Nhân sinh đi đứng ngỡ ngàng”

    Vì sao? Vì nhân sinh bị cuộc sống đảo loạn,từ có hóa không, từ an ổn đến hỗn loạn, từ sum họp đến ly tan, từ nơi mát mẻ hóa nóng bức, từ nơi êm ấm hóa không nhà cửa sống lang thang. Nhân sinh cho đến bậc tu mất thăng bằng, không còn định hướng, không còn tin Phật đúng đắn, chạy theo Hỏa Ngục, chạy đến chân trời mới... ai ai cũng kinh ngạc, lo lắng, bỡ ngỡ, liều lĩnh.

    “Các hàng Bồ Tát cười vang vui mừng”

    Hàng Thánh Hiền, Bồ Tát nguyện đi trong “Phổ Môn Phẩm” nên đứng trước hoàn cảnh khắc nghiệt thân tâm vẫn ghi nhận và rỗng rang vui mừng. Độ khổ là món ăn của hàng Bồ Tát nên vui mừng chịu tận theo vết chân Chư Phật.

    “Tam giới rung chuyển chưa ngừng”

    Tam giới: Dục giới, sắc giới, vô sắc giới. Các Cõi Trời này thấy thế gian bị Hỏa Ngục phất cũng lo âu, bàng hoàng, toàn thân chư vị ở các Cõi này rung chuyển đau đớn theo.

    “Ta ngồi Bửu Tọa vạn tuần xinh xinh”

    Ngài biết chẳng qua chỉ là diễn ảo của thế gian và lần Nhất Sanh Bổn Xứ này, Ngài thành Phật Quả mãi mãi xinh tươi bất diệt.

    PHẦN ẤN CHỈ:

    “Thế nhân cầu đạo chân thành”

    Ngài đã biết thế nhân hiện nay tu theo Đạo Phật số lượng rất đông, hầu hết đều nương tựa vào Tăng Ni ở chùa, cốc núi rừng, lòng rất thành tâm cầu Đạo vì ngao ngán cuộc đời. Riêng Ngài vẫn than:

    “Long Hoa nào rõ trở thành đảo điên”

    Câu thơ này cho biết quá rõ Đức Di Lạc đã ra đời, khai mở Long Hoa, dạy Đạo Đức cho chúng sinh đang sống trầm luân trong bể khổ đến Bờ Giác. Không một ai ở các tôn giáo chờ đợi Ngài, nhận được lối tu thực tiễn của thời Mạt Kiếp: Tự tánh tỏ tánh, hóa giải hoa pháp tánh. Trái lại, đảo điên, ảo tưởng chờ núi Thất Sơn nổ.

    “Thân phàm Long Thọ vẹn tuyền”

    Đến đây Ngài chỉ thẳng, thân Tịnh Vương kiếp này chính là thân phàm Long Thọ thật đúng đắn. Thân Long Thọ ngày xưa của một kiếp, chính là thân Di Lạc đây đang hiện tướng ở Ta Bà thế giới này.

    “Còn tâm óc trí của Tiên, Thánh, Thần”

    Tiên, Thánh, Thần là những bậc có cái nhìn nhạy cảm hơn thế gian, lời nói đây còn sáng suốt tỉnh táo như óc trí của Tiên, Thánh, Thần vậy. Ngài chỉ thẳng, giác ngộ chính nơi thân tâm của mình sao lại không nhận còn vọng cầu bên ngoài làm chi. Lời này là của Chư Phật thật sự.

    “Thời này Ta đến chỉnh trang”

    Chư Phật ra đời duy nhất đem đến nhân sinh trực chỉ hoàn giác. Đó cũng là Ấn Chỉ của Ba đời Phật. Theo lời Khai thị của Đức Tịnh Vương Nhất Tôn hóa thân của Đức Di Lạc, thời này là thời Hạ Kiếp, Chánh Pháp bị Mạt Pháp ngự trị lan tràn. Bậc tu chuộng cái học, chuộng nghiên cứu kinh Phật, chuộng sắc tướng âm thanh cầu đạo trở thành Bị Giác.

    Ngài không tạo ra mối Đạo mới mà chỉnh trang, sửa đổi lại tu theo con đường Tri Kiến Giải Thoát, con đường Tự Giác theo Y Tôn Y Chỉ Ba đời Phật.

    “Thị hiện Cư Nhân *Chỉ-Ấn-Hoàn”

    Ngài cho thế nhân biết rõ ràng: Ra đời với Hạnh Cư Sĩ tại gia còn gọi là Cư Nhân Hạnh.

    *Chỉ: Trực chỉ

    *Ấn: Ấn Chứng vũ trụ nhân sinh.

    *Hoàn: Giác hoàn, hoàn tất ba đời Phật hiện thân.

    Ngày nay, đa số bậc tu không theo Ấn Chỉ trên làm cho Đạo Phật mang tiếng tiêu cực hay lớp tu ngoại giáo tế lễ đưa con người tín tâm vào nơi tu hành cuồng tín, cầu vái van xin hơn là chính bản thân sửa tánh, lập Thiện Căn hóa giải Ma Lực.

    “Phật ra đời có hai lối dụng”

    Một lối không, có nghĩa xuất gia ở chùa, cốc không có vợ, chồng, con cái nên tách khỏi ràng buộc của gia đình. Miễn tâm dung thông, không nhiễm trước ngoại cảnh vẫn hoàn giác.

    Một lối có, tức Cư Nhân Hạnh, ở gia đình có chồng, vợ, con cái, trăm chiều ngược xuôi của bối cảnh gia đình, khi vui lúc buồn, khi sướng lúc khổ... vạn pháp diễn cảnh muôn ngàn lối trong đời sống. Miễn tâm vào ra giới không nhiễm trước vẫn giác ngộ.

    Dù tại gia hay xuất gia, tu đúng con đường trực giác vẫn giác ngộ. Phần Ngài chọn tại gia, sống có gia đình vợ và 6 người con. Giới tu xuất gia ở chùa gặp Ngài bỡ ngỡ không tin.

    Bậc tu xuất gia còn gọi Thiên Thừa Hạnh tiêu biểu cho phái tu Tịnh, chủ về Tịnh để Độ nhưng cũng phải Tín Hạnh Nguyện nơi NGHE THẤY BIẾT tức vạn pháp, cốt sống động mà hóa giải, dần dần tỏ vô minh không còn nhiễm trở về Tịnh Hoàn Giác.

    Bằng sống yên ổn, tránh đụng chạm dù có Tịnh cũng là Tịnh Biệt, một lối tu nguy hại, không bao giờ đến bờ bến Giác. Lối tu xuất ly tránh dơ chọn sạch của bậc xuất gia vô tình trở thành Tiên, Thần Trí không có hoàn giác bao giờ.

    1. Đức Di Lạc xuất Chánh Định gặp Đức A Di Đà Phật

    Tôi nghe như vầy: Trước khi khai đạo, Đức Tịnh Vương hóa thân Đức Di Lạc xuất Chánh Định gặp Đức A Di Đà Phật.

    Đức A Di Đà liền hỏi:

    Thời Hạ kiếp này con dùng phương tiện gì để Đồng Độ chúng sinh?

    Đức Di Lạc thưa:

    – Bạch Đức Thế Tôn, thời này nhân sinh tác tạo quá mức, con phải Đồng Độ theo Cư Nhân Hạnh. Dụng sắc, thinh, hương, vị, xúc, pháp trong thế gian, dạy cho chúng sinh không nhiễm.

    Đức A Di Đà Phật trả lời:

    – Đúng, chính xác lắm. Thời Mạt Kiếp này con phải chuyển thế như vậy.

    Đức Di Lạc :

    – Bạch Đức Thế Tôn, thời này lắm bậc chứng tu, tu chứng dẫy đầy khó phân.

    Đức A Di Đà :

    – Con phải cố gắng, thời này Qủa Phật độc nhất vô nhị đó con. Ta sẽ theo dõi giúp đỡ cho con.

    Đức Di Lạc bái biệt Đức Thế Tôn và trở về Tịnh Thất ở 42 Hồng Bàng Nha Trang./-

    * Tượng cổ Phật A-Di-Đà từ Tây Tạng.

    Do một Cựu Sĩ Quan Mỹ gốc Việt cúng dường

    cho Thiền Sư Bồ Tát Di Như đúng ngày Đại Lễ

    Đông Độ năm 2008 tại Las Vegas, Hoa Kỳ.

    2. Đức Di Lạc xuất chánh Định gặp Đức Bổn Sư

    Đức Di Lạc xuất chánh Định gặp Đức Bổn Sư Thích Ca Mâu Ni Phật.

    Tôi nghe như vầy:


    Trên đường hành Đạo, mỗi lần gặp pháp rối, trắc ẩn quá mức, Ngài nhớ lại những lúc gay cấn mà Đức Bổn Sư Thích Ca Mâu Ni Phật đã gặp phải thì liền khi đó, luồng Huỳnh Quang xuất hiện và Đức Bổn Sư Thị Hiện trên căn gác gỗ của Đức Di Lạc ở Nha Trang. Ngài vui mừng thi lễ Đức Bổn Sư, thầy trò đàm đạo và Đức Bổn Sư chỉ giáo cho Ngài. Có lần khác Đức Bổn Sư Thích Ca Mâu Ni Phật than với Đức Di Lạc cũng tại căn gác gỗ ở số 42 Hồng Bàng Nha Trang rằng:


    “Tại Ấn Độ hiện nay, dưới chế độ cai trị của Bà Gandhi, Tăng Ni lớp con của Tôi, đang ở các chùa trong thành phố lại bị đuổi về thôn quê, về nơi núi rừng. Họ đang gặp nạn!”


    Sau Bà Gandhi bị sụp đổ, con trai của bà lên thay làm Thủ Tướng cũng không đổi mới đường lối lại thực hiện y như mẹ. Sau ông này cũng bị chết vì bom. Hiện nay thể chế chính trị ở Ấn Độ đã đổi thay, kinh tế chuyển đổi theo thị trường.

    Nhắc lại câu chuyện đặc biệt nữa của năm 1963 tại miền Nam Việt Nam, sau vụ tranh đấu của Phật Giáo đòi công bằng tự do tôn giáo thì một số Tăng Ni bị đàn em ông Diệm và Nhu đem bỏ vào bao bố cột lại rồi ném xuống sông. Còn số đông Tăng Ni Phật Tử khác bị dùng bàn chải đinh đập vào đầu chết thảm thiết.

    Trong năm ấy, chế độ bị sụp đổ, ông Diệm và ông Nhu bị chết. Dưới mắt Thiền Sư, có cặp mắt Như Lai Nhãn Tạng nhìn xa về quá khứ, biết được kiếp trước của ông Ngô Đình Diệm là giám mục Alexandre de Rhodes (Đắc Lộ) người Pháp. Thời ấy, ông và một số nhân sĩ giúp dạy chữ Quốc Ngữ cho người Việt và cũng giúp dân về mặt xã hội. Do phước thiện này mà ông được cái quả làm Tổng Thống miền Nam nước Việt Nam mười năm./-


    3. Sự lầm chấp của Chúng Sinh đối với Đức Bổn Sư

    Khi Đức Bổn Sư Thích Ca Mâu Ni Phật 41 tuổi, một chân tử của Ngài tên Purna đã vẽ truyền thần chân dung của Ngài. Bức chân dung này được xem như một bảo vật và hiện đang được lưu trữ tại Bảo Tàng Viện Hoàng Gia Anh.

    Suốt đời hành Đạo, Đức Bổn Sư Thích Ca Mâu Ni Phật vẫn để tóc ngắn gọn như chân dung ở bên cạnh chớ không có cạo sạch tóc như Tăng Ni hậu lai lầm tưởng. Nhắc lại buổi cơm cuối cùng của Ngài do ông Thuần Đà dâng cúng trong đó có một miếng thịt nướng. Điều này cho biết Ngài không có chuyên ròng ăn chay. Đức Di Lạc còn dạy rằng dù Đức Bổn Sư có quay về sống với vợ, con cũng không hề bị mất Chánh Báo của Ngài. Do lớp tu sau này nặng về Thiên Pháp nên phát sinh cạo đầu ăn chay, xa rời thế gian, sống theo trừu tượng dần dần làm xa lìa Chánh Pháp. Do đó, dẫn tới sự tu hành không còn y Tôn Chỉ của Phật, lại nặng Sắc Tướng Âm Thanh sa vào Mạt Pháp cho đến ngày nay.

    Do sự lầm chấp trên nên khi Đức Di Lạc Hạ Lai khai đạo theo Cư Nhân Hạnh ngay giữa thành phố Nha Trang 37 năm mà không có một Tăng Ni nào theo tu con đường Giác Ngộ với ngài./-

    4. Chúa Giêsu và bà Maria đã tái sinh tại VN

    • Bà Phạm-Thị-Ngọc-Anh, Pháp danh Diệu-Tuệ.

    Bà Phạm Thị Ngọc Anh ở Phan Thiết cùng cha mẹ tập kết ra Bắc theo hiệp định Geneve năm 1954. Đến năm 1975 biến cố lịch sử ở Miền Nam Việt Nam, bà trở về Nam năm 1978, là một cán bộ Cộng Sản đang làm việc tại Sàigòn. Chồng bà tên là Võ Thịnh, cán bộ cao cấp ở sở Ngoại Vụ thành phố Sàigòn. Bà sanh được một người con gái ở Bắc, vào Nam sanh thêm một người con trai tên là Võ Thiên Giao. Gia đình ông bà nội của bà Anh tin Đạo Phật và xây chùa ở Phan Thiết để tu hành. Chính bà Anh mặc dù ở ngoài Bắc nhưng vẫn tin Đạo Phật. Do một nhân duyên bà vào tu trong Pháp Tạng, được Đức Tịnh Vương Nhất Tôn hóa thân Đức Di Lạc Tôn Phật ban cho pháp danh là Diệu Tuệ. Một hôm, bà thưa với Đức Di Lạc tại Trung Ương Hội Thượng Nha Trang sự nghi ngờ cái Thấy của bà chưa được rõ, nhờ Ngài giải.

    • Đức Di Lạc Tôn Phật đã xác nhận mẹ con bà Diệu Tuệ là Maria và Chúa Jésus.

    Đức Di Lạc Tôn Phật đã xác nhận chính bà Diệu Tuệ là bà Maria, mẹ Chúa Jésus ngày xưa. Sau đó, Đức Di Lạc hỏi bà Diệu Tuệ con trai bà nay bao nhiêu tuổi.

    Bà Diệu Tuệ: – Thưa đang học lớp một.

    Đức Di Lạc: – Còn nhỏ quá.


    Ngài đã biết và chính bà Diệu Tuệ trước đó cũng nghi ngờ nay đã biết rõ con trai bà hiện tại tên Võ Thiên Giao chính là Chúa Giêsu hạ sanh trở lại, nhưng nay còn nhỏ quá chưa gặp Đức Di Lạc được.

    • Bà Maria và Chúa Jésus là ai?


    Cách đây 2538 năm Phật Lịch, Thái Tử Tất Đạt Đa ra đời, đến năm 19 tuổi cưới công chúa Da Du Đà La và sanh một con trai tên là La Hầu La. Sau Thái Tử bỏ cung vàng, điện ngọc vợ đẹp con thơ đi tìm Chân Lý Giải Thoát, sanh tử luân hồi cứu tứ loài. Ngài đã thành Phật hiệu Bổn Sư Thích Ca Mâu Ni Phật. Sau bà Da Du Đà La cũng tu theo Phật Đạo còn con trai La Hầu La lúc đó còn thiếu nhi được Đức Bổn Sư giao cho Tôn Giả Xá Lợi Phất nuôi Đạo và Tôn Giả Mục Kiền Liên chăm sóc Thiền Định cùng sinh hoạt đời sống thường ngày.


    Kết quả La Hầu La chứng quả A La Hán được Đức Bổn Sư chứng minh cấp Tôn Giả giác ngộ Mật Môn. Tôn giả La Hầu La là một trong 10 Đại Đệ Tử của Phật thuộc hàng Thánh Chúng, còn rất thấp so với Chư Bồ Tát.


    Khi tôi trực giác tiền kiếp biết được bà Diệu Tuệ chính là công chúa Da Du Đà La và cậu con trai Võ Thiên Giao chính là Tôn Giả La Hầu la ngày xưa, tôi đi Nha Trang thưa với Đức Di Lạc Tôn Phật, Ngài cũng xác nhận tôi thấy đúng. Chuyện này bà Diệu Tuệ (Maria) đã biết.


    Từ khi Đức Bổn Sư Thích Ca Mâu Ni Phật nhập Niết Bàn, 600 năm sau Chúa Jésus mới xuất hiện ở Tây Phương. Dù có thần thông Siêu Phàm nhưng Lậu Tận Thông chưa thấu đạt, nay lai sanh tu trong Pháp Tạng chỉ mới nhớ một kiếp thời Đức Thế Tôn là hết. Như vậy, thời Hạ Lai Mạt Pháp này đã giải mã chuyện nghìn xưa.
    [​IMG]

    Đến lúc Đức Di Lạc nhập Bát Đại Niết Bàn, bà Diệu Tuệ chưa Giác Ngộ. Đường tu của bà hiện tại ở hàng học trò của Quán Thế Âm Bồ Tát cùng các vị Tôn Giả cũng là học trò của hàng Bồ Tát mà thôi. Vậy Chúa Jésus là con trai của Thái Tử Tất Đạt Đa là học trò của Phật rất đúng đắn.

    • Bà Maria là nữ đồng-trinh? Nên Tu Trực-Giác để loại bỏ ảo vọng.


    Chuyện bà Maria là nữ đồng trinh là chuyện hoàn toàn không có sự thật. Khi nghe nhắc lại chuyện này bà chỉ cười. Con người sống 100 năm là một kiếp nhưng thực tế tuổi trung bình chỉ khoảng 70 đến 80 tuổi là hết. Thế giới Cõi Trời của Chúa sống 2000 tuổi, nay thì thế kỷ 20 này Chúa đã mãn tuổi thọ ở Cõi Trời và hiện tại còn sanh tử nơi thế gian. Con người lầm Cõi Trời không chết, sự thật chỉ Bậc Chánh Giác như Chư Phật mới bất tử mà thôi.


    Nay bà Diệu Tuệ (Maria) đã có chồng, con trai tức Chúa Jésus đang sống trong môi trường xã hội như vậy nay mai cũng không tránh khỏi phải lập gia đình. Vậy Chủ Chăn cùng Tín Hữu Kito sống tu ép xác để làm gì? Có gia đình thực tế mới giáp mặt với vui-buồn, sướng-khổ, được-mất, có-không. Bậc tu dù ở tôn giáo nào cũng cần Trực Giác mới sống thực tế theo chân lý được. Nay thì Chúa đã hạ sanh tại Sàigòn, Cõi Trời của Chúa đã tan rã, nếu cầu vái van xin về sống đời đời với Chúa là tu theo ảo vọng mong cầu không thực tế chút nào.


    Bà Maria sau còn lai sanh một kiếp có tên Võ Tắc Thiên (Wu Zhao), hoàng hậu của Trung Hoa (624 - 705). Về câu chuyện này Ngài đã khuyên bà phải tu thiện căn và bà đã hứa từ đây về sau luôn giữ thiện căn.


    Một khúc cây, một cục đất nếu ta làm ra hình ông Thánh, ông Phật mà cúng lạy, thì TÁNH THẤY VŨ TRỤ và TÁNH THẤY CỦA TA đồng ứng. Một thời gian hợp hóa, tự nó linh chớ không phải ai ban cho. Chỉ khi nào đến mức Trực Giác cao độ lúc đó mới được Mật Ấn Như Lai Phật hay Thượng Đế ban cho, nhưng chỉ bậc Siêu Thánh mới có được.


    Nếu các phái đoàn Tôn Giáo cùng khoa học kiểm tra lại đúng Đức Di Lạc đã Hạ Lai trong thế kỷ 20 này thì các Chân Phật Tử quanh Ngài không thể là phàm phu được mà phải là Hàng Bồ Tát, Tôn Giả, Hộ Pháp gọi là Thánh Chúng, đều có mặt trong Long Hoa, thì bà Maria và Chúa Jésus hiện diện là chuyện thường tình. Đây là chuyện lịch sử có thật ghi chép đúng đắn để vén màn vô minh cho nhân sinh tu thực tế theo con đường Tri Kiến Giải Thoát, không cần cầu vái van xin nữa.

    • Chủ Chăn John Paul II thiếu hiểu biết về Đạo Phật.


    Qua quyển sách “Crossing The Threshold of Hope” của Chủ Chăn John Paul II, chỉ đề cập đạo Phật qua cấp Tiểu Thừa. Thực ra Phật Đạo còn Đại Thừa, Nhất Thừa, Tối Thượng Thừa siêu đẳng lắm. Tôn Giả La Hầu La chính là Chúa Jésus, Đức Di Lạc đã có ghi là một vị Thánh. Như vậy, cấp tu chứng A La Hán thuộc hàng Đại Thừa còn thấp xa với Chư Bồ Tát lắm./-


    PHẦN TRÍCH DẪN TỪ TÀI LIỆU VỀ ĐỀ TÀI "GIÊSU ĐÃ SỐNG, TU PHẬT TẠI ẤN ĐỘ."
    (→ đọc toàn bộ các công trình nghiên cứu của thế giới)
    Ban Hộ Đạo chỉ trích dẫn một phần nhỏ cuốn sách "Jesus Lived In India" (GiêSu Đã Sống Tại Ấn Độ) của tác giả Holger Kersten, nhà nghiên cứu về thần học và giáo dục tại Đại Học Freiburg, Đức Quốc. Cuốn sách được xuất bản lần đầu năm 1994 tại Anh Quốc, Hoa Kỳ, Úc Châu. Và đã được tái bản năm 1995, 1996, 1997, 1998, 1999.


    • Mục đích của trích dẫn này: Thời gian ở Ấn Độ, Giêsu đã học Phật Giáo với Vị Đại Sư Long Thọ cũng chính là Đức Vô Thượng Di Lạc Tôn Phật, thế danh Từ Thế Thọ kiếp này. Thời Mạt Pháp Mạt Kiếp, bà Phạm Thị Ngọc Anh (bà Maria) cùng Võ Thiên Giao (Giêsu) đã đến gặp Ngài Long Thọ, Vị Thầy từ tiền kiếp. Xin lưu ý là nội dung sự kiện này trong Kinh "Đức Di Lạc và Long Hoa" đã diễn ra vào thời điểm mà trong đất nước Việt Nam rất nghèo nàn về thông tin. Ngay cả thời điểm hiện nay cũng còn nhiều người chưa biết sự kiện này, trong khi phần khác của thế giới đã được thông tin đầy đủ. Đối với những Bậc có tinh thần cầu Đạo Thực Tiễn thì đây chính là một tiếng chuông thức tỉnh, quay về lối Tu Tự Tánh để đạt được Thiền Trí, Trực Giác. Chỉ có Trực Giác mới đạt cái Thấy, Biết vượt tầm giới hạn bởi Không Gian Thời gian của Chúng Sanh Giới, không còn ngăn cách quá khứ, tương lai. Nên chi "Có Tướng mới Thấy" thì dù là ông này bà kia cũng chỉ là chúng sanh mà thôi.


    Tại sao Tín Đồ Thiên Chúa đã phớt lờ sự nối kết với các tôn giáo Phương Đông, và nhiều lần gạt bỏ rằng Giêsu đã trải qua phần lớn cuộc đời tại Ấn Độ?


    Cuốn sách này buộc phải đưa ra bằng chứng không thể chối cãi rằng Giêsu quả thực đã sống tại Ấn Độ và chết ở đó lúc tuổi già. Kết quả của nhiều năm nghiên cứu tỉ mỷ, "Giêsu Sống Tại Ấn Độ" dẫn người đọc đến tất cả các địa điểm lịch sử có quan hệ với Giêsu tại Do Thái, Trung Đông, A Phú Hãn và Ấn Độ. Nó cũng để lộ ra mối liên kết xa xưa giữa người Do Thái và Phương Đông, bằng chứng đó đã được tìm ra bởi Nhà Thần Học Holger Kersten chỉ ra những kết luận giật mình sau đây:

    Trong thời trẻ của Giêsu đã đi theo Con Đường Tơ Lụa đến Ấn Độ. Thời gian đó ông đã nghiên cứu, lĩnh hội Giáo Lý Đạo Phật để trở thành một nhà Tâm Linh.

    Giêsu đã sống sót khỏi sự kiện 'bị đóng đinh'.


    Sau sự kiện 'sống lại' Giêsu đã quay về Ấn Độ rồi chết tại đó lúc về già.


    Giêsu được chôn cất tại Srinagar, thủ đô của Kashmir, nơi ông tiếp tục được tôn sùng như một thánh nhân.


    Ngôi mộ của Giêsu hiện đang còn tại Kashmir.


    HOLGER KERSTEN đã nghiên cứu về thần học và giáo dục tại Đại Học Freiburg, Đức Quốc. Ông còn là một tác giả đặc biệt về lịch sử tôn giáo và là đồng tác giả cuốn sách bán chạy nhất gây tranh cãi, "Mưu Tính Giêsu" với Elmar R. Gruber.


    –Nhà xuất bản ELEMENT


    Dịch sang Việt ngữ trang 224 và 225 của cuốn sách.


    Trong thời gian Chúa Giêsu sống ở Kashmir, Thung Lũng Hạnh Phúc là một tụ điểm của các tôn giáo, văn hoá, trí thức và chính trị quan trọng đang trên đà phục hưng. Vương quốc Kashmir là địa bàn phần lớn là người của đế quốc Indo-Scythian(1) dưới sự cai trị của Đại Đế Kanishka Đệ Nhất (78 -103 sau Công Nguyên) thuộc triều đại Kushan. Là một người tài ba, nhân từ và độ lượng, nhà vua đã cố gắng liên kết các tập hợp chủng tộc trong vương quốc mình bằng chính sách khoan hồng và độ lượng. Sự phối hợp hài hoà của hai nền triết lý Ấn Độ và Hy Lạp đã đạt đến tột điểm trong nền văn hoá Gandhara. Tâm điểm văn học của điểm hội ngộ hai nền văn hoá này là trường đại học lâu đời tại Taxila, đã được vang tiếng khắp nơi.


    Đối với Đạo Phật, vua Kanishka đã thấy rõ một cấu trúc vẹn toàn cho sự nhận thức trong những ý nghĩ của mình, vua đã thỉnh ý kiến chỉ đạo và giáo huấn từ Chư Tăng Phật Giáo. Vua đã bàng hoàng, sửng sốt nhận thấy những lời chỉ dạy của Phật đã vụn vỡ dần trong các trường học và Tông phái. Tuy nhiên, theo sự chỉ đạo của triết gia Parshwa, vua Kanishka đã triệu tập một Hội Đồng Kết Tập Kinh Điển Haran(2) (Harwan tên gọi tại Kashmir) với chủ ý hàn gắn và thống nhất những rạn nứt trong cộng đồng giáo hội bằng cách tiến hành một cuộc khảo sát và nghi thức hoá những kinh điển của Đạo Phật. Hơn 300 năm sau, một hội đồng kết tập kinh điển khác đã được khai mạc- Lần Thứ Tư- với sự tham dự hơn 1500 Vị học giả và Chư Tăng Phật Giáo. Lần kết tập kinh điển này nhằm phát huy một giáo phái mới và Đại Thừa được giữ vai trò là một tôn giáo quảng đại trong quần chúng. Chư tăng của phái Tiểu Thừa (Nguyên Thủy) phải chịu thiệt thòi mất mát những đặc quyền của mình và đã toan tính tìm một thế đứng cuối cùng với vai trò đối lập lại hội đồng kết tập, nhưng họ đã không còn đủ khả năng để cầm chân sự thoái bộ. Sau cùng thay vào đó, phái Đại Thừa đã được công bố chính thức như một tôn giáo độc lập khai mở con đường hoằng hóa cứu độ cho nhân sinh.

    Với bản dịch thuật hiện thời của Lalitavistara - kinh điển Đạo Phật phơi bày những tương quan giống nhau so với Kinh Thánh Tân Ước - cũng cùng thời điểm đó.(3)

    Địa thế của vùng Haran chỉ cách Srinagar 12 ki lô mét, theo dư luận cho thấy rằng Giêsu đã hiện diện trong kỳ kết tập kinh điển quan trọng này và ngay cả chính Giêsu đã đóng góp một phần quan trọng trong kỳ kết tập kinh điển đó.


    Vua Kanishka rất cảm kích với thành quả của hội đồng kết tập, từ đó chính vua đã chuyển thành một Đạo Hữu Phật Giáo và thay đổi đường lối chính sách trị dân, nương theo chiều hướng của cộng đồng Chư Tăng Ni Phật Giáo mà người lãnh đạo tinh thần của giáo hội là Long Thọ(4) Đại Sư, nhà hiền triết lỗi lạc nhất của phái Đại Thừa Phật Giáo.


    Lại thêm một dấu hiệu nữa có liên quan đến sự lưu trú của Giêsu tại xứ cổ Kashmir được cống hiến qua kinh sách của Rajah Tarangini, lịch sử xứ Kashmir đã được viết bằng những câu kệ Phạn Ngữ của Pandit Kalhana vào thế kỷ thứ 12 được ghi nhận như là một trong những chứng từ lịch sử chính xác lâu nhất trong văn chương Ấn Độ. Kinh Rajah Taragini hàm chứa đa phần những huyền thoại và được truyền khẩu trong nhân gian từ thời xa xưa. Phần lớn những văn chương truyền khẩu được tô điểm một cách hoành tráng. Tuy nhiên qua những tiến trình của thời gian làm cho bây giờ khó mà nhận chân được sự thật của lịch sử. Một sự việc có liên quan đến câu chuyện của một Thánh Nhân tên là Isana, người đã diễn đạt những phép mầu rất tương tự như những gì của Giêsu đã làm. Thêm vào đó được biết là Isana đã cứu mạng một vị lãnh đạo tài ba Vajir bị đóng đinh trên cây thập tự giá(5) và đã làm cho vị ấy sống trở lại. Sau đó Vajir trở thành một lãnh tụ của xứ Kashmir và trị vì được 47 năm. Theo lời của Kalhana thì Isana là người cải cách xã hội sau cùng của xứ Kashmir đã từng sống và dạy đạo vào thế kỷ thứ nhất sau công nguyên. Qua sự việc nêu trên giống như Isana người con của Thượng Đế không ai khác hơn chính là Chúa Issa- Giêsu.


    – Phần chú thích dịch thuật:

    (1) một xã hội lâu đời ở vùng Đông Nam Âu- Á.

    (2) thời gian Giêsu có mặt.

    (3) thời gian Hội Đồng Kết Tập Kinh Điển Haran, cùng sự có mặt của Giêsu.
    (4) Long Thọ là Bồ Tát Di Lạc trao lại mối đạo cho Long Trí. Long Trí chính là Hoá Thân của Tôn Giả Mục Kiền Liên. Bà Maria và Giêsu đã thọ giáo hai vị trên.
    (5) bị đóng đinh trên cây thập tự giá là một hình phạt được dùng vào thời đó.

    5. Vết Chân Người-Cư-Sĩ



    VẾT CHÂN Người CƯ – SĨ

    Người CƯ-SĨ, vết chân người cư-sĩ.

    Đạo hay Đời tê-tỉ sắc-son.

    Hiên ngang đâu há mõi-mòn.

    Bên trong Bảo-Pháp, ngoài choàng Cư-Nhân.


    Tuyệt mỹ thay! Đức Thế Tôn đã từng khai thị “Phật pháp bất ly thế gian giác”. Phật Pháp không thể tách rời thế gian mà tìm đặng sự giác ngộ. Do đó, trong cuộc sống thường ngày, Đức Tịnh Vương vẫn luôn dạy các Chân Tử Đạo-Đời song tu theo vết chân Cư Nhân Hạnh.


    Ngoài choàng lớp Cư Nhân nhưng bên trong xây nền Chánh Pháp. Còn thời thế Mạt Pháp cực kỳ khó khăn nhưng Ngài cũng quyết giữ lời Nguyện đền đáp ơn Đức Thế Tôn, ơn Chư Phật đang thúc dục Ngài. Vết chân Ngài lưu lại thế gian, còn hai vai một gánh Đạo–Đời, quyết làm tròn bổn nguyện chứ không cần danh vọng. Đối với bậc Trí, hoàn cảnh hổn loạn luôn tìm phương hóa giải vì cho đó là vạn pháp sẽ thoát sinh, nên dù ở Cư Nhân vẫn ung dung tự tại, Vô Ngại Đại Bi Tri Kiến Giải Thoát.


    Người CƯ-SĨ xây đền Bảo-Pháp.

    Nguyền với nguyền đền đáp ơn sâu.

    Nên chi chẳng có danh cầu.

    Miễn đem Giáo-Lý, trước sau giải bày.


    Người CƯ-SĨ vết chân người cư sĩ.

    Trí-Nguyện này chung-thuy keo-sơn.

    Hai vai một gánh, không mòn.

    Đạo đời duy nhất, trường-tồn PHẬT-TÔN./-


    TỊNH-VƯƠNG NHẤT-TÔN

    Trung-Ương, Ngày 21-01-71 (TÂN-HỢI)

    NHATRANG

    Còn đối với gia đình Ngài, hàng ngày vợ và các con cũng làm các ngành nghề để sinh sống như bao gia đình khác. Ngài hiện thân có khi là người chồng, cha, chú, anh luôn làm tròn bổn phận và trách nhiệm, không có một kẽ hở nào có thể chê trách được.


    Đối với cha mẹ, Ngài là một người con luôn tròn Đạo Hiếu. Tứ chúng theo tu học Ngài, nếu ai ăn chay vẫn giữ, ai không ăn chay vẫn ăn như ý của mình. Gia đình Ngài cũng không ăn chay nhưng cấm sát sanh.


    Thời Hạ Kiếp này, tất cả các pháp ở thế gian đều hiện cái gì cũng tận. Nó phơi bày chẳng thiếu sót một pháp Ác tận cùng nào. Con người sống nô lệ vật chất, tăng trưởng quá mức. Thấy của cải người khác lấy làm của riêng mình, ai khóc than kêu gào thảm thiết chết cứ mặc kệ, thản nhiên không hề có một chút động tâm thương xót. Tánh xấu, ác tính, thú tính hiện dẫy đầy. Ngài thương xót và bảo nếu không Hạ Lai trần thế, khai đạo chứng minh cho nhân sinh thì tuổi thọ của kiếp người hiện nay còn 80 tuổi một kiếp rồi sẽ hạ dần cho đến khi chỉ còn 10 tuổi một kiếp.

    Chính vì vậy mà Ngài đã ban cho tứ chúng, lớp người đại diện nhân thế gặp Ngài, ban đầu tu sửa tánh xấu, tập nhiễm xấu, phải hóa giải để thu nhận cái thần lực sáng tốt tươi, làm tiêu tan dần Ma Lực xấu xa, tâm sẽ được an lạc, không nhiễm độc, thân có sức khỏe, điều hòa. Tuổi thọ tăng dần đến 100 tuổi một kiếp. Ngài cũng đã chứng minh cho tuổi thọ trung bình của một kiếp người là 100 tuổi.


    Ngài tùy căn cơ của chân tử mà dìu dắt, dùng đủ phương tiện cứu cánh đến diệu dụng quyết đem Bảo Pháp trao cho chân tử. Ngài đặt những hạt giống Đạo Đức, Giác Ngộ, Giác Ngộ Rốt Ráo lưu lại hậu thế, để sau này sẽ nối tiếp làm sứ giả của Chư Phật truyền cho chúng sinh trực giác.


    Thế mới hay, tuy nhân sinh không gặp được Đức Di Lạc Hạ Sanh nhưng muôn sự Chân Thiện Mỹ đầy phúc lạc cũng đã được Ngài sắp đặt, an bài sẵn./-


    6. Tuổi thọ con người thời mạt-kiếp giảm?

    Lý do tuổi thọ con người thời Mạt Kiếp giảm.


    Tôi nghe như vầy: Khi khai thị về Vũ Trụ với Con Người, Đức Tịnh Vương hóa thân Đức Di Lạc cho biết, tuổi thọ con người từ lúc khai sinh 8000 tuổi một kiếp, đến nay chỉ còn lại 100 năm. Tuổi thọ của con người bị giảm dần xuống thấp vì tư tưởng loạn gọi là “gỉa tưởng” cùng “tâm ý” ngăn cách quá nhiều trở thành eo hẹp.

    Ngài đã tìm ra con người thời Hiền Kiếp hấp thụ “NGUYÊN TINH” bồi dưỡng thân thể đầy đủ. Đến thời Hạ Kiếp, con người hấp thụ “NGUYÊN TINH” yếu kém, nhiếp thu vào thân thể thiếu hụt mà tuổi thọ phải giảm dần do tánh xấu nhiều.

    Con người cùng các nhà khoa học không hề hay biết tuổi thọ bị tiêu giảm là do chính con người tự tạo ra. Chính sự đau khổ, tham lam, nóng giận, sợ sệt trong cuộc sống phức tạp thời Hạ Kiếp làm giảm tuổi thọ. Muốn tuổi thọ tăng dần trở lại, con người cần thư thả thân tâm để tiếp nhận đủ “Nguyên Tinh.”


    Các tôn giáo bảo tâm rộng rãi không mắc miếu, tư tưởng thanh cao, trí tuệ thoát sinh là tối cần cho con người. Họ chỉ biết có bấy nhiêu đó là tận cùng. Còn Đức Di Lạc dạy rằng: Thời này Chánh Pháp ra đời, Mạt Pháp sắp tàn canh, Ngài công bố chất “NGUYÊN TINH" cho con người biết nên thực hành làm tuổi thọ tăng mà hưởng lấy. Đối với bậc tu Thiền, việc thu nhận “NGUYÊN TINH” không có gì là khó nhưng nó cũng có hại cho bậc không hiểu rõ pháp môn Thiền. Nếu Thiền say đắm làm thu nhận “NGUYÊN TINH” quá nhiều mà trí tuệ còn kém, tư tưởng còn tham mau thành Tiên, Phật thì bị nguy hại.


    Người không tu Thiền khó nhận được chất nguyên tinh nên không khỏe mạnh, không linh động bằng bậc có tu Thiền điều hòa. Bậc Thiền tọa đến mức khá cao thực hành một thời gian sở đắc Chánh Định Tam Muội thì hoàn toàn điều khiển, hoàn toàn sử dụng nguyên tinh. Thiền rất cần thiết cho bậc tu tại gia lẫn xuất gia Trực Giác Pháp Tánh.


    Trong đời sống có một con người tối tăm, hay thất bại nhiều trên trường đời nếu Thiền Định đúng, sẽ sáng suốt trở nên thông minh giải quyết việc gì cũng đúng đắn chính xác.


    Theo các nhà y học, thân thể con người luôn biến đổi, mỗi ngày có hàng triệu tế bào chết đi được bài tiết ra ngoài và được thay thế bởi hàng triệu tế bào mới sinh ra. Thân thể con người được thay đổi hoàn toàn tế bào mới trong vòng bảy năm rưỡi. Do sự thay đổi đó mà con người đi từ chỗ trẻ đẹp đến chỗ già nua xấu xí theo thời gian.

    Có lắm người quyền uy, giàu có tìm đủ phương thức để sống lâu ngang với trời đất nhưng chẳng được kết quả gì. Người Phương Tây cũng lo âu, sợ sệt về cái chết giống như người Phương Đông. Nền y khoa của Phương Tây tìm ra được một loại thuốc nào hay liền thế gian xuất hiện một thứ bệnh ngặt nghèo mới.


    Cuối cùng vua chúa và lãnh tụ phương Tây cũng đành chịu thua với cái chết. Riêng tại phương Đông, nhiều bậc Thiền Sư khám phá ngay trong thân mạng mình, đã điều hành được chất Nguyên Tinh nên tuổi già muốn bỏ xác thân hay còn muốn ở tại thế đều tùy ý. Có vị Thiền Sư ngồi trang nghiêm khuyên dạy chân tử mình, rồi báo cho tất cả biết mà ra đi thật kỳ diệu. Họ không có chút sợ sệt lại còn an ủi chân tử của mình và cho biết sẽ đầu thai hóa kiếp khác ở nơi nào nữa./-


    7. Kinh Di Lạc Hạ Sanh

    • Trong kinh Di Lạc Hạ Sanh, Phật khai thị: “Sau này Bồ Tát Di Lạc Hạ Sanh lấy hiệu là Từ Thị. Khi thành Phật, quốc độ của Ngài là một quốc độ vô cùng trang nghiêm. Lầu đài đều làm bằng bảy báu. Đâu đâu cũng có ao trong, có đủ thứ hoa thơm. Mặt đất thì bằng phẳng chẳng có gai góc, chỉ mọc toàn cỏ nhuyễn xanh, người đi cũng như đi trên thảm. Người sanh vào Cõi này đều là người có duyên lành, sống một đời vô cùng an lạc, không đau khổ, bịnh tật, phiền não. Thân hình đầy đủ oai nghi đẹp đẽ, sống lâu đến mười ngàn tuổi, có đủ các thứ mỹ vị ngon lành, còn mặc thì khỏi cần phải dệt, vì có thứ cây sanh ra quần áo. Đến khi hết số phần thì vào rừng dành cho người đến đó nằm an nghỉ luôn”


    • Ngài Hạ Sanh lần này, trong một gia đình giòng họ Từ. Bài kệ của Ngài được ghi lại ở Chương Một là: TỪ THỊ DI LẠC TÔN PHẬT. Một buổi sáng tại căn gác gỗ, số 42 Hồng Bàng, Nha Trang, Đức Tịnh Vương hóa thân Đức Di Lạc khai thị, tôi nghe như vầy:

    "Thế nhân nghĩ rằng Đức Di Lạc ra đời ở quốc gia nào là nơi đó do đức độ và oai lực Ngài, làm trở nên đẹp đẽ trang nghiêm, không còn cảnh hỗn loạn. Đất đai đều biến thành của quí như vàng, pha lê, xa cừ, mã não, trân châu, xích châu, huỳnh châu, bạch quang châu... Còn Thánh ý cho rằng: Ngài tận độ tất cả chúng sanh tánh của Ngài xong, tâm trở nên Đại Thanh Tịnh, thân hóa trang nghiêm trong tứ thời như đi, đứng, nằm, ngồi và làm chủ bảy báu trong vũ trụ.

    Thời Đức Bổn Sư Thích Ca Mâu Ni Phật cho đến thời Hạ kiếp này, Đức Di Lạc thành Chánh Qủa Phật chỉ có hai vị này có bảy báu mà thôi. Khi vừa Đản Sanh, Thái Tử Tất Đạt Đa Ngài đã bước đi bảy bước có hiện bảy hoa sen biện minh cho bảy báu. Còn Đức Di Lạc có ghi bài thơ kiếm bảy báu chỉ khi nào cần diệu dụng Chư Phật mới đem ra. Khi đến Cõi Trời, Chư Phật viễn dung xử dụng. Còn Ma Vương, Quỉ Vương đều thất kinh sợ hãi. Kiếm bảy báu chỉ dành Chư Phật mới dùng được mà thôi, khi cần nó xô thành quách, tát biển. Kiếm bảy báu linh động, không nơi nào cần mà chối từ, cốt yếu để phá vô minh.

    Con người, ai cũng có bảy báu, nhưng khi còn mê lầm, bảy báu này ẩn, không hiện, khi đạt được Chánh Quả Phật, liền có bảy báu hiện. Bậc có Đại Hùng, Đại Lực, Đại Từ Bi mới tinh thông sử dụng bảy báu. Ba cõi sáu đường kiếm bảy báu này xóa tan. Bảy báu của Phật: Nhất Tâm - Chân Như - Phật Tánh – Pháp Thân – Như Lai Tạng – Pháp Giới – Pháp Tánh. " –T.V.

    [​IMG]
    "Đâu đâu cũng có ao trong, có đủ thứ hoa thơm." Tâm Ngài đã bình nên đâu đâu cũng trong suốt, còn thân đầy đủ ba thân nên mùi hương trầm lúc nào cũng tỏa ngát.

    [​IMG]
    "Mặt đất thì bằng phẳng chẳng gai gốc, chỉ mọc toàn cỏ nhuyễn xanh, người đi cũng như đi trên thảm." Phàm nhân nghĩ rằng khi Đức Di Lạc Hạ Lai, đất không còn gồ ghề, không còn cao thấp, đâu đâu cũng bình. Gai độc không còn, đi đâu cũng như đi trên thảm.

    Thánh ý cho rằng, trong thời Ngài hạ sanh đến lúc hành đạo, ai cũng nghe lời nói ngọt ngào đầy đại bi, không biến tánh khác thường như chúng sinh. Lời nói độc không có, ý nói gai độc không còn. Bất cứ chúng sinh gặp Ngài đều ra về thoải mái như đi trên thảm cỏ.

    Ngay cả nhiều chúng sinh, ma quỉ độc địa, khi gặp Ngài, lúc ra về cũng thoải mái. Ngài đều lấy Đại Bi cứu độ làm cho ý dữ hóa hiền.

    Có lần, một chúng sinh cao cấp đầy uy quyền của Cộng Sản đến gặp, Ngài ôn tồn tiếp. Khi dụng tha tâm thông, thấy chẳng ổn, Ngài liền cho hiện một vị Thần ở Núi Một gần số 6 Huỳnh thúc Kháng Nha Trang. Vị Thần này da ngâm đen, vạm vỡ, mắt mở tròn xoe đang ngồi canh giữ Ngài. Ông này thấy liền giựt mình, khi ra về có nói với đàn em: Ông Thầy này cao đạo. Chỉ có thế chứ không biết Ngài là ai. Ngài cũng chẳng cần phóng hào quang, chẳng hề nâng mình. Ngài thật bình dị mà đầy Đại Bi, Đại Dũng. Ai đã gần Ngài, tin Ngài theo tu học nếu đủ đức tin Ngài thường phát hào quang từ trong thân phóng ra cho thấy.

    [​IMG]
    "Người sinh vào cõi này đều là người có duyên lành, sống một đời vô cùng an lạc, không đau khổ, bệnh tật, phiền não." Ý chúng sanh cho rằng vào được cõi Đức Di Lạc hạ sanh sẽ vô cùng sung sướng không cần tu.

    Thánh ý cho rằng: Nếu chúng sanh nào sanh cùng một quốc gia khi Ngài hạ sanh mà có Đại Duyên Lành theo tu pháp môn giải thoát của Ngài, tâm sẽ an lạc, tất không còn đau khổ. Khi có hoàn cảnh hoá giải tâm được an, bịnh tật cũng được tiêu trừ.

    "Thân hình đầy đủ oai nghi đẹp đẽ, sống lâu đến mười ngàn tuổi." Chúng sanh nghĩ rằng khi gặp Phật Di Lạc thân hình xấu trở nên đẹp, lại được sống lâu.

    Thánh ý cho rằng: Khi gặp Ngài,tu sửa tánh, thiền định, học giáo pháp một thời tánh trở nên tốt nên tướng phải đổi theo như: mặt mày sáng, tươi đẹp, dáng đi cũng oai nghi. Khi đã được giải thoát sinh tử luân hồi, người sẽ được bất tử, nếu về cõi Trời sống, thọ mười ngàn năm.

    [​IMG]
    "Có đủ thứ mỹ vị ngon lành, còn mặc thì khỏi cần phải dệt vì có thứ cây sinh ra quần áo." Chúng sinh nghĩ rằng gặp Đức Di Lạc trong nước này không còn thức ăn dở, hôi thúi, còn mặc thì có sẵn khắp nơi khỏi cần tốn tiền lại có áo quần đẹp.

    Thánh ý cho rằng: Khi gặp Ngài, dù hoàn cảnh khổ ải, gai góc đến đâu cũng hoan hỷ, vui lòng gánh chịu vì nó là món ăn ngon lành của hàng Bồ Tát Nguyện. Khi đã điều ngự được vạn tánh, tức vạn pháp, sẽ có áo giáp bền, đẹp khỏi cần tìm kiếm, khỏi cần làm vất vả... Cây sinh quần áo, ý nói không còn sự nóng giận, đau khổ, lo sợ nào xâm chiếm nữa. Tâm an lạc, thân trở nên xinh đẹp.

    [​IMG]
    "Đến khi hết số phần thì vào rừng dành cho người đến đó nằm an nghỉ luôn." Chúng sinh nghĩ rằng khi già chết sẽ được yên ổn.

    Thánh ý cho rằng: khi tu đến thanh tịnh, thân hết phần số, ra đi nhẹ như bông. Rừng: ý chỉ nơi nào cũng thanh tịnh đầy khắp.

    • Ngài cũng đã từng dạy: Nếu chúng sinh có đức tánh tốt, tâm rộng rãi thương người khổ, thường giúp đỡ kẻ hoạn nạn. Gặp Thánh Tăng hồi hướng công đức rồi theo tu hành, thiền định, nếu chưa được giác ngộ cũng có nhiều phước báo tốt đẹp. Nghiệp tốt này sẽ được tái sinh vào nhà quyền quí cao sang, gặt hái được nhiều may mắn, tuổi thọ cao.

    Nếu gặp Chư Phật cũng công đức, cũng tu thiền định theo sự chỉ đạo của Ngài, sẽ được quả tốt, được hưởng phước báu trong các Cõi Trời và trong cảnh vua chúa quyền quí cao sang. Nếu giác ngộ sẽ chấm dứt tất cả phiền não, cùng tỏ tường không ô nhiễm kiến dục. Bậc này sẽ có một đời sống trường tồn vĩnh cửu. Nếu giác ngộ rốt ráo sẽ ra khỏi vũ trụ, hoàn toàn thoát khỏi sanh tử luân hồi. Tuy được giải thoát rốt ráo hết thảy các nghiệp phiền não nhưng phiền não vẫn còn đủ, cả kiến dục vẫn còn đủ vì các pháp vốn như./-

    8. Sấm kinh nói về Long-Hoa ra đời

    Kinh sấm tiên tri về thời cuộc chiến tranh trên đất nước Việt Nam và sau Đệ Nhị thế chiến 1939-1945, dân chúng sống lầm than khổ sở đã diễn ra đúng. Do đó những lời tiên tri về Long Hoa, Đức Di Lạc Hạ Sanh đã thị hiện miền Nam, càng làm người dân lẫn Tăng Ni, Phật tử tin và mong đợi hơn bao giờ hết.


    • Kinh sấm Cao Đài giáo:
    Cho biết Long Hoa sắp mở.


    Minh Chơn Đạo thời kỳ sắp mở


    Thức tỉnh đời cho kịp Long Hoa


    Thời Mạt Kiếp tận thế luôn được nhắc nhở, xác nhận con người không thoát khỏi trầm luân nơi biển khổ nên phải tinh tấn tu hành.


    …Nguồn tận diệt bày ra trước mắt

    Cuộc xáo trộn Đông, Tây, Nam, Bắc

    Nạn chiến tranh đạo tặc dãy tràn

    Ôi! muôn nhà trăm họ lầm than

    Chịu khốn khổ tai nàn thảm thiết.

    Đạo ra đời là đời tận diệt

    Nên Phật Tiên cho biết mà tu.


    • Phái Phật Giáo Thầy Tây An: Cùng nhận định không khác với Cao Đài giáo.

    Hạ ngươn nay đã hết rồi

    Minh Hoàng cầu Phật lập đời Thượng Ngươn

    Khuyên người cố gắng tu:

    Hạ Ngươn như sợi chỉ mành

    Sao không tu niệm tranh giành làm chi?


    • Ông Sư Vãi bán khoai: ý nói thời tận thế Long Hoa ra đời.


    Trẻ già đừng có nghi ngờ

    Việc đời khó thấy bây giờ tới đây.

    ...Đời đà tận thế vậy mà

    Mùa Nam gió Bấc, Đông thời gió Tây

    Mây trời nay đã đổi thay

    Công danh có một Hội này mà thôi.

    ...Đặng coi cái Hội Long Hoa

    Chọn người tu niệm Hoàng Gia tôn thần

    Thật đáng qúy! Các vị Hộ Pháp có nhiệm vụ rao giảng khuyên bảo chúng sinh đúng thời gian Đức Tịnh Vương hóa thân Đức Di Lạc đã có mặt ở Nha Trang, miền Trung nước Việt Nam.


    Các vị còn tiên tri đúng, chính xác: kỳ này Đức Di Lạc chuyển từ nước Trung Hoa sang Việt Nam, vì có vài kiếp Ngài thị hiện ở Trung Hoa.


    …Bây giờ Phật ở xa ngàn

    Bây giờ Phật lại bước sang Nam trào.

    …Bây giờ Phật ở nước Tần

    Bây giờ Phật lại trở lần về Nam.


    • Ông Ba Thới và một số vị Hộ Pháp cùng một ý.

    ... Ai ai nhẩn chí để dành

    Hạ ngươn tận thế tu hành cần năng


    Ông cũng cho biết thời Mạt Pháp hạ kiếp Đức Di Lạc có ra đời cũng lắc đầu những hành động quái dị của chúng sinh.


    Việc Hạ Ngươn mỗi việc mỗi tham

    Phật chắc lưỡi khó đam lại đủ.

    \…Lại dụng mưu làm quấy làm gian

    Đoạt của thế lo toan bất chánh.


    Những câu thơ của các vị Hộ Pháp đã dẫn chứng được cho đời biết về Long Hoa thật đúng. Thế vì lý do gì các vị này và nhân sinh không gặp được Ngài đang cùng sống đồng thời chung một giải đất ở miền Nam Việt Nam?


    Minh Chơn Đạo thời kỳ sắp mở

    Thức tỉnh đời cho kịp Long Hoa


    Thời Mạt Kiếp tận thế luôn được nhắc nhở, xác nhận con người không thoát khỏi trầm luân nơi biển khổ nên phải tinh tấn tu hành.


    …Nguồn tận diệt bày ra trước mắt

    Cuộc xáo trộn Đông, Tây, Nam, Bắc

    \
    Nạn chiến tranh đạo tặc dãy tràn


    Ôi! muôn nhà trăm họ lầm than

    Chịu khốn khổ tai nàn thảm thiết.

    Đạo ra đời là đời tận diệt

    Nên Phật Tiên cho biết mà tu.


    Tóm lược

    Một điều đáng chú ý là sấm kinh dụng cơ bút, điển linh. Đó chính là Định Tưởng thuộc Ứng Hiện để làm đạo răn đời. Còn Đức Di Lạc luôn dụng TRỰC HIỆN để cho các bậc tu tín tâm có căn cơ sâu dày gặp Ngài, gặp hoàn cảnh khó khăn vẫn tu, hóa giải.


    Ứng Hiện thuộc cầu xin. Trực Hiện thuộc tự sửa tánh tỏ tánh, biết nhận định thế nào là tu, nên nhẹ cảm dễ nhận diện bậc dạy đạo là gốc Chánh Đạo.


    Ngài không dụng Thần Thông chốn công cộng, hay những ngày đại lễ có đông chân tử. Chân tử nào thuộc thành phần xây dựng Chánh Pháp mà có nghi chấp, Ngài mới hiện thần thông mầu nhiệm cho thấy để tin, sau đó Ngài giải toàn chân lý thực tiễn.


    Ngài dạy: Rất nhiều bậc có thần thông bị giết, nhất là thời Mạt Pháp này, có siêu việt cũng phải thân – khẩu – ý kín nhiệm, chỉ dụng để khai ngộ cho tứ chúng mà thôi. Vì vậy Ngài sống một cuộc đời bình dị với tất cả những ai gặp Ngài.


    Do đó, Những ai chờ Đức Di Lạc qua tiếng sấm nổ kinh hoàng ở núi Thất Sơn đều thất vọng. Có lần, một vị tu tiên ở núi Thất Sơn nhìn thấy trên bầu trời hướng Nha Trang có vùng hào quang sáng khắp tỉnh. Vị sư này cho cả chục đệ tử đi ra Nha Trang tìm Đức Di Lạc và đã gặp anh em chúng tôi thuyết pháp cho họ nghe. Họ nhận định đây là Hội Long Hoa nhưng lại chấp vì sao chúng tôi có gia đình và không ăn chay. Đối với họ tu trên núi, ăn chay mới đúng. Quan sát không được sâu, lại nhìn thoáng qua nên khó tin. Họ trở về núi Thất Sơn và bảo tiếp tục chờ Đức Di Lạc ra đời./-


    Phần này được thêm vào từ Ban Biên Tập trang web.


    Thế giới đang nằm trong THỂ của Đức "A Dật Đa Di Lạc Tôn Phật."


    Chỉ những Bậc Hành Giả hoặc Thiền Sư Tu Trực-Giác mới nhận ra những điểm kể ra dưới đây. Vì lẽ đó chúng tôi không cần dẫn chứng nhiều cho dù còn vô số điểm biện minh thế giới đang nằm trong THỂ của Đức "A Dật Đa Di Lạc Tôn Phật".

    1. Nhiều tổ chức tâm linh lấy chữ A (hình Tam-Giác) hoặc Con-Mắt-Trái làm biểu tượng.



    2. Màu xanh mạ non. Thời còn tại thế Đức Di Lạc Tôn Phật đã dạy chân tử quét vôi hoặc sơn thiền viện màu xanh mạ non (green). Nay đi đâu cũng thấy kêu gọi màu xanh lá mạ (go green).

    3. Tượng Di-Lạc hoá thân Thần-Tài. Đâu đâu cũng thấy trưng bày, thờ Phật Di Lạc hoặc tượng Di Lạc hoá thân Thần-Tài.

    9. Khai mở "Long Hoa Hội Thượng-Thời Hai"

    Định nghĩa chữ Long Hoa. Nhiều bậc tín tâm tu Phật đang trông đợi Đức Di Lạc ra đời, khai mở Long Hoa vậy Long Hoa là gì?


    Tôi nghe Ngài khai thị như vầy:


    – Long nghĩa là Rồng. Theo truyền thuyết cổ xưa dân tộc Việt Nam là con Rồng Cháu Tiên.

    – Hoa nghĩa là Hoa Pháp Tánh.


    Hoa Pháp Tánh chung gồm tất cả tánh tốt, tánh xấu, gọi là chủng tánh chúng sanh. Chủng tánh chúng sanh vốn lầm mê trong sanh tử luân hồi. Có hoa pháp tánh nên bậc tín tâm mới tự nguyện độ chúng sanh và Chư Phật ra đời cứu độ. Bậc tu không tự độ hoa pháp tánh dù Phật có ra đời chăng cũng không độ được.


    Chư Tổ cho đắp tượng Phật, tướng Phật ngồi trên tòa sen, tiêu biểu ngự trị hoa pháp tánh. Tỷ như khi có hoàn cảnh, tánh sân hận nổi lên, bậc tu cần nhẫn nhục, nhẫn nhịn hay nhẫn nại có kết quả, điều ngự được tánh sân hận. Tất cả các tánh khác như lo âu, sầu khổ, ngang tàng... đều kềm giữ êm đẹp gọi là Điều Ngự Trượng Phu. Trượng phu là tầng số cao hơn con người.


    Hoa Pháp Tánh diễn hành, biến hóa thành pháp giới cá nhân, ôm giữ pháp giới làm lẽ sống khiến cho tất cả đều mê lầm. Hoa pháp tánh lui tới nơi con người do phổ chiếu từ vũ trụ, nên con người chạy theo diễn cảnh đúng sai, sai đúng. Vũ trụ và con người chạy theo nhau như một vòng tròn gọi là bánh xe luân hồi.


    Vì không rõ được đường đi của luân hồi nên tất cả bậc tu bị sai biệt, sinh ra thực hiện từ bi, bác ái nhưng trí tuệ chưa có, cuối cùng lãnh phước thiện. Còn con đường đi đến Tri Kiến Giải Thoát là thế nào lại không nắm vững.


    Vậy Long Hoa có nghĩa là Đức Di Lạc ra đời tại Việt Nam, khai đạo cho tất cả chân tử tín tâm, giải sạch hoa pháp tánh, tu hành đoạt được tri kiến giải thoát, không còn sanh tử luân hồi.

    Khoa học càng tiến bộ, xã hội càng văn minh, bậc tu hành không kiềm chế được sẽ trở thành bị nhiều mong muốn về dục vọng: gọi là sắc, thinh, hương, vị cứ thế mãi tu cầu. Thời này, khi nghe nói tu điều ngự, hóa giải hoa pháp tánh, lắm bậc không tin pháp môn mới lạ này, họ nổi giận, đánh đổ trở thành an trụ nơi hoa pháp. Đa phần chỉ thích nghiên cứu, học kinh, ăn chay, mặc y áo giống Phật thì cho là Chánh Đạo, còn ngồi nhắm mắt lim dim cho là chân tu.


    Khó khăn lắm mới có bậc chịu tu theo sắc, thinh, hương, vị, xúc, pháp mà không nhiễm. Hoa pháp đáp ứng cho tất cả tứ loài như ý muốn, trở thành hoa pháp giới còn gọi là pháp giới. Hoa pháp giới linh động, vi tế đến nỗi Phật còn phải lầm mà bị trụ chứng nơi Phật Giới còn gọi là Bích Chi Phật, Độc Giác Phật. Bậc tu cầu giác ngộ phải thực hiện thường soi nơi tánh mình, thấy-biết rõ tánh mình thay đổi có tham vọng, thích vọng mà cải thiện gọi là sửa tánh. Bậc tu không chịu sửa tánh, ắt bị thọ nghiệp nơi hoa pháp phải chịu vướng trong sanh tử.


    Đức Di Lạc khai mở Long Hoa hàng ngày cho chân tử tìm đến xin tu học, còn Bên ngoài pháp bảo, Ngài cho treo một cái bảng chiều rộng 1m và chiều dài 4m có ghi:



    PHÁP TẠNG PHẬT GIÁO VIỆT NAM

    TRUNG ƯƠNG HỘI THƯỢNG


    Biết bao Tăng Ni qua lại trên đường Hồng Bàng ở thành phố Nha Trang này nhưng không có một vị nào hỏi hay tìm hiểu. Trung Ương hội tại sao còn chữ “Thượng” là gì? Nếu chú tâm tìm hiểu liền biết đó là dấu hiệu Đức Di Lạc đã ra đời!


    Ý Ngài muốn nhắc nhở thế gian: Thượng có nghĩa Thượng Ngươn, Thượng Kiếp. Bảng được cho phép treo từ năm 1972 nhưng đến năm 1975 bị lao đao. Cho đến năm 1982 thì bị nhà nước Cộng Sản dẹp bỏ.


    Năm 1972, khi treo bảng, Ngài cũng làm lễ treo lá cờ Pháp Tạng đầu tiên. Điều mầu nhiệm liền ngay sau đó, trên không trung hiện ra một lá cờ đủ màu sắc giống y như một lá cờ Pháp Tạng mà Ngài đang treo nhưng rất to lớn, bao trùm khắp bầu trời. Đó là dấu hiệu Chư Thiên, Thần hoan hỷ.


    Lá cờ Pháp Tạng gồm ba phần: Phật–Tăng–Pháp, biện minh Đại diện Tam Thế, nếu bậc Trí nhìn lá cờ cũng biết Phật ra đời.


    [​IMG]
    Mục đích của Long Hoa. Chủ đích của Long Hoa chính là pháp môn giải thoát để cứu nhân loài thoát sanh tử luân hồi, y tôn chỉ Tam Thế Phật: Quá khứ, hiện tại, vị lai.

    Pháp môn giải thoát là một pháp môn tu nơi Nghe Thấy Biết, tức là vạn pháp không vướng mắc. Từ hoàn cảnh trong Đạo tràng khúc mắc, cho đến ngoài thế gian: bà con gia đình, bạn thân hoặc sơ, người trên kẻ dưới, va chạm nhau trở thành diễn cảnh thuận và nghịch. Bậc tu nương nhờ hỷ xả tâm, có công năng kiến tạo không bị vướng mắc sẽ sống động hơn bậc nhắm mắt lim dim, ngồi chỗ vắng tránh né vạn pháp để tận diệt, đặng không va chạm vướng mắc.


    Có trí tuệ hóa giải nghi chấp, hóa giải bờ ngăn bằng con đường nhẫn nhục, nhẫn nhịn, nhẫn nại, tiếp đến vận chuyển bờ ngăn gọi là trí tuệ cứu cánh mới mong giải thoát. Bậc tu không dùng trí tuệ hóa giải, chỉ an trụ từ bi, bác ái, ai giết mình cũng được gọi là Thánh Hiền nhưng không thực hiện tận độ chúng sinh được. Bậc tu chưa có trí tuệ cứu cánh, chỉ thực hiện từ bi, bác ái dù có thần thông vẫn còn kẹt nơi hoa pháp cố thủ không giải thoát được, cao nhất được về Cõi Trời chứ không thoát ra ngoài vũ trụ được. Bậc kiến tánh, không cần sắc tướng vẫn thấy biết, nhờ thường tánh sáng soi nơi không tướng vẫn thấy. Tư tưởng chứa nhóm sanh tánh, vọng đảo tham muốn sanh tánh. Có cảnh tánh liền sanh bởi tự ngã sanh tánh. Tánh đã sanh liền lại diệt nên chi có rất nhiều tánh sanh diệt, diệt sanh gọi là sanh tử luân hồi.

    Bậc tín tâm cầu đạo cần lý kinh và sự hóa giải tánh phải đồng song. Đức và trí đồng song, bất tăng bất giảm mà triệt thấu, viên đạt giải giới hoa pháp. Rất nhiều bậc tu hành bị vướng vào không chấp, bị chấp không, vẫn là hoa Pháp Giới Không. Thật tai hại. Chỉ cần một sơ ý sai lạc phải chịu nằm trong ĐÀI HOA PHÁP GIỚI vô số kiếp. Do đó hàng hàng lớp lớp bậc tu an trụ nơi Đài Hoa Pháp Giới sinh ra Tam Thiên Đại Thiên Thế giới, cho đến ba cõi sáu đường. Bồ Tát nguyện là bậc nương vạn hạnh lìa hẳn chướng đối, hòa mình nương nơi thuận nghịch chứ đừng diệt nghịch pháp. Tâm không quái ngại nhiếp độ lục đạo pháp giới, thâm nhập pháp giới mới tỏ ngộ mà tận giác tướng, thoát khỏi đài hoa pháp giới, Đạt được Vô Thượng Đẳng Chánh Giác.


    Thời Mạt Pháp, tất cả các pháp nơi nào cũng tận. Ngài biết rất khó đắp xây vì bậc tu Phật không quan tâm đến Hoa Pháp Giới. Khi nghe giải thích về Long Hoa như vậy, nhiều bậc tu không cầu giác ngộ, vốn thường trụ, thường chấp, thường bảo thủ cá nhân, thương ghét không chừng và tu theo chí hướng qui định, lòng vẫn tin Phật, nhưng tu chỉ trông chờ siêu hình cùng sự kỳ lạ, liền không thấy có gì hợp ý. Nó cũng không theo ý nghĩ lâu nay của các bậc tu này, với ảo tưởng kỳ lạ nơi cơ đàn ghi bút: như núi Thất Sơn nổ, trời đất tối đen bảy ngày bảy đêm. Sau đó Đức Di Lạc từ trong núi đi ra hào quang sáng chiếu...


    Còn Tiên Thần Trí đức tánh suy tưởng, dụng Thiền, định tưởng, chọn lọc các pháp thanh cao, đẹp đẽ, bỏ và thanh lọc pháp thô, xấu, dơ. Sau đó nhiếp thu tu luyện nên chưa rõ Long Hoa ra đời, núi Thất Sơn nổ như thế nào.


    Một hôm Đức Tịnh Vương hóa thân Đức Di Lạc khai thị, tôi nghe như vầy: Ví như thân Tôi, không từ bà mẹ sanh ra, lại do núi Thất Sơn nổ sanh ra, Tôi từ trong núi đi ra, hào quang sáng chói, thì chắc thiên hạ họ sẽ ùn ùn kéo nhau đi đến xem. Lúc đó, ăn, uống, đi, đứng, nằm, ngồi, mỗi mỗi cử động, họ đều theo hiếu kỳ mà bám sát, chắc Tôi cũng chết sớm chớ sống sao nổi để khai mở Long Hoa. Ngài ghi bút nhắc nhở:


    "Thượng Sanh Đâu Suất Môn,

    Hạ Lai Vô Thượng Tôn." –T.V.


    Qúi thay! Đức Bổn Sư Thích Ca Mâu Ni Phật khéo biết, khéo tường tận chốn Hạ Lai Đồng Độ. Ngài đã thọ ký Đức Di Lạc từ Cung Trời Đâu Suất, hạ sanh nơi thế giới Ta Bà này, hạnh nguyện tu hành nhiếp độ các hàng Tiên Thần, tận độ chúng sanh thành Phật Quả. Cho nên những bậc tín tâm có Đại Duyên Lành, không chướng đối, không chấp, được gặp Long Hoa ra đời tại tỉnh Khánh Hòa này. Còn những bậc quan niệm cho rằng Tu hành sao không ăn chay, sao không cạo đầu, sao lại có gia đình vợ chồng, con cái nặng nghiệp quá, lại vì họ không nhận Nghe-Thấy-Biết là vạn pháp nên chê trách, cho là tà đạo, bỏ đi không vào tu hành theo Long Hoa được.


    Ngày nay, nói đến Phật Giáo, là một tôn giáo mà cả thế giới này đều biết, nó đã đi vào lịch sử của nhân loại, nhưng những ai thiết tha cầu con đường giác ngộ, thật khó tìm bậc đạo sư làm thỏa nguyện. Đức Tịnh Vương Nhất Tôn hóa thân Đức Di Lạc Hạ Lai lần này, đã lưu lại cho hiện tại và hậu thế một pháp môn tu hành, ngay trong gia đình, ngay chốn cơ quan làm việc mà vẫn được giác ngộ. Một Pháp môn giác ngộ hiện đại nó là niềm tin tự hào cho bất cứ chúng sinh nào muốn cầu Tri Kiến Giải Thoát trong hiện kiếp. Đường lối tu này tuy mới lạ nhưng thực sự đã y tôn chỉ thời Đức Bổn Sư Thích Ca Mâu Ni Phật, Đức A Di Đà Phật, Đức Đông Độ Dược Sư Lưu Ly Quang Như Lai cùng Chư Phật mười phương hộ trì.


    Những hình thức nghi lễ rườm rà được Ngài bãi bỏ. Lễ nhập đạo, cùng những ngày Đại lễ khác cũng tổ chức đơn giản nhưng đầy tôn nghiêm, trịnh trọng, không có một giáo điều mê tín. Sự tu hành hàng ngày của chân tử được khai thị rõ ràng, minh bạch, cốt yếu cho bậc tu nhận lãnh được rồi thực hành, áp dụng tu thực tiễn trong đời sống thường ngày, hưởng kết quả không còn đau khổ trong hiện tại.

    Một hôm, Ngài hỏi một Hòa Thượng tu ở chùa đến viếng thăm Ngài, Ngài hỏi:

    - Hòa Thượng tu được bao lâu?


    - Con tu được 47 năm.



    - Hàng ngày Hòa Thượng tu gì?



    - Sáng, tối con tụng kinh, ăn trường chay, học tất cả các loại kinh của Phật.


    - Phải sửa tánh, giải đố tật xấu, hỷ xả để tạo Đạo Đức. Tụng kinh phải hiểu nghĩa kinh thuộc về giáo lý. Cần Thiền Định để Trực Giác. Nói chung ba môn Đạo Đức + Giáo lý + Tọa Thiền phát triển đồng đều vào đời sống thực tiễn của con người sẽ không còn là một mối nguy hiểm đối với bản thân, gia đình, tu như vậy được giác ngộ.


    Hòa Thượng nhận lãnh được và công nhận pháp môn này tu được giác ngộ. Trên đường về lại chùa, Hòa Thượng sơ ý bước một chân sụp vào lỗ chân trâu trên đám ruộng bị trật chân, phải lết về đến chùa, cả tháng mới hết đau. Sau đó, cứ mỗi lần muốn đến viếng Đức Ngài, ở chùa Hòa Thượng đều có xảy ra chuyện bất ổn, ồn, cản trở không đi được.


    Quan niệm của một chúng sinh trong tứ loài, qua tư tưởng, lời nói, hành động nhiều đời kiếp sẽ quyết định cuộc đời của chúng sinh đó trong hiện tại, tương lai và tái sinh. Quan niệm cố định Phật gọi là NGHIỆP, tất cả chúng sinh không thoát khỏi nghiệp lực này. Nó quyết định số phận của chúng sanh không chỉ ngay hiện tại mà còn hiện rõ trong những hoàn cảnh thích hợp về sau nữa. Nếu quyết tâm bền chí, chúng sinh nhờ công năng công đức trong hiện kiếp có thể tự hóa giải, thoát nghiệp được.

    Thời Hạ Lai lạc pháp có lắm pháp đến tận cùng. Ví như có một thầy giáo quen nghề cầm bút và đứng trên bục giảng, nếu bị bắt đi làm ruộng thà chết chứ không chịu. Quan niệm sống thường ngày ăn sâu vào tư tưởng đến lời nói, cuối cùng là hành động quen dần, nếu bị đổi thay khác giới sẽ không chịu nổi. Bậc tu gặp phải hoàn cảnh dù tại gia hay xuất gia, nếu có chí dũng đều được giải thoát nghiệp lực. Hàng Bồ Tát Nguyện, gặp hoàn cảnh như vậy cũng vui lòng ghi nhận, tâm không hờn oán, lại chú tâm tìm cách hóa giải. Trái lại, chúng sinh chỉ than thở hoặc sầu khổ.

    Ví như con cá quen sống ở ao tù nước đọng, nếu bắt đem nó ra mương nước rộng hơn, trong trẻo hơn, nó hoảng hốt chạy trốn và lủi dưới bùn. Dần dần nó quen lối sống, mới dám bơi lội tự nhiên. Nếu đem con cá ở mương nước ra sông rộng rãi hơn, nước chảy siết hơn, nó cũng hốt hoảng chạy trốn. Dần dần nó quen lối sống, mới dám bơi lội tự nhiên. Nếu đem con cá ở sông ra nước hai giòng ngọt và mặn ở cửa biển, nó cũng hoảng sợ và liền quay đầu tìm về chốn cũ, sau quen dần nó mới ra vào biển cả rộng mênh mông, tha hồ đi lại.


    Bậc tu cũng vậy, quan niệm theo môi trường sống của mình bị thay đổi thì thà chết chớ không chịu nghe, hoặc không chịu tìm hiểu, sẽ không bao giờ gặp Phật hay Bồ Tát ra đời để được cứu độ. Dù chư vị Thiện Trí Thức này có ở ngay bên cạnh các cũng đành chịu. Đương thời, Đức Tịnh Vương ra đời thường nhắn nhủ cho chân tử ý thức câu: Phật bất hóa độ Vô Duyên, bất hóa độ Định Nghiệp.


    Bậc tu quan niệm con đường mình đang đi là đúng, dù có Chư Phật cũng không giải cái định kiến này, chỉ trừ bậc đó họ tự hồi hướng, tự tìm hiểu và tự nhận định. Bậc cầu giác ngộ luôn nương tựa Chư Bồ Tát nếu không có đại duyên gặp Phật. Cần vào giới, ra giới, dung thông không dừng trụ, không chấp mới mong tu theo con đường Tri Kiến Giải Thoát được.


    Nghiệp bao phủ chúng sinh trong quá khứ, hiện tại và vị lai. Tu hành muốn tiến bộ hơn hiện tại, tức thì có sự cản ngăn của nghiệp chướng. Nó vô tướng nhưng đầy quyền lực. Phải tu trong Phổ Môn Phẩm và chí bền mới vượt khỏi nghiệp lực được. Bậc Thánh nó cản ngăn không cho đến Bồ Tát, Bậc Bồ Tát nó cản ngăn không cho đến Phật. Chính mình mới thắng được nghiệp lực của mình. Thời nào cũng vậy, do Nghiệp Lực mà chúng sinh không gặp được Phật.


    Nếu tin rằng chúng sinh được sinh ra, do một Đấng Toàn Năng, có quyền quyết định cả số phận của tất cả mà không một chúng sinh nào thay đổi được nghiệp lực của mình, điều đó là trái ngược lời chỉ dạy của Chư Phật.


    Chư Phật hướng đạo, còn chính chúng sinh quyết định đường tu hành của mình: Giác ngộ hay mê lầm, hạnh phúc hay đau khổ, do sự khác biệt giữa cái Nghiệp của mỗi chúng sinh nên mới có sự khác nhau: Chúng sanh gặp chúng sanh không gặp được Chư Phật là như thế.


    Còn kinh sấm của Chư vị Tiên Thần ghi:


    "Mở cuộc Long Hoa chiêu Thánh Đức

    Hưng truyền chơn lý phước cao phong"


    Kinh sấm này ghi đúng thời gian Đức Di Lạc đang khai đạo cho tứ chúng tìm đến tu theo Ngài. Vào khoảng năm 1990 dương lịch, tôi gởi cho một vị tu ở Tòa Thánh Tây Ninh quyển kinh “Biệt Tôn Vô Thượng Đẳng” tập I của Đức Tịnh Vương nhập Chánh Định viết ra. Sau ngày lễ mùng một hàng tháng, cơ đàn Tòa Thánh Tây Ninh biết được chính Đức Di Lạc Hạ Lai nhưng mang tên Tịnh Vương, hiện đang dạy đạo ở Nha Trang. Tòa Thánh liền xin Thỉnh Ngài, nhưng thời điểm này Ngài không đủ nhân duyên hiện thân, Ngài có hẹn một cơ hội khác, khi ra đời sẽ cho nhân sinh biết để viếng thăm Ngài.


    Sau đó, cơ bút Tòa Thánh Tây Ninh bảo “Hàng Tiên Thần như các con chưa gặp được Ngài lúc này, chỉ hàng Bồ Tát, Tôn Giả mới gần bên Ngài lúc ẩn này thôi. Các con phải đợi gặp sau.” Tòa Thánh xin mời tôi, nhưng tôi cũng không đến được mà phải chờ lúc thuận tiện.


    Kinh sấm còn ghi:


    Rán tu gặp Hội Long Hoa

    Trễ rồi một kiếp đọa sa muôn đời.

    Dầu cho vật đổi sao dời

    Tu hành cũng được Phật Trời chở che.


    Chúng sanh gặp hoàn cảnh khổ, tu rất đông ở chùa khắp nơi, nhưng kinh sách của Ngài rất ít người đọc được dù Ngài đã viết và ấn hành nhiều. Có người gặp được kinh của Ngài, cầm lên đọc, tức thì buồn ngủ hoặc có việc này việc nọ đến, nên họ bỏ xuống, đem cất hay trả lại. Cứ trung bình một trăm người nhận được thì có chừng một người vào tu với Ngài mà thôi.


    Kinh sấm cũng ghi chép:


    Lập rồi cái Hội Long Hoa

    Chọn lựa coi thử ít nhiều

    Người lành kẻ dữ còn tiêu kẻ nào


    Kinh sấm cũng ghi đúng Long Hoa ra đời. chúng sinh cũng như Thánh Tăng nào có đủ công công năng, công đức đều được đăng vào bảng Phong Thần, thi chọn bậc Giác Ngộ, Đại Ngộ, Liễu Ngộ đến Chánh Giác, hầu mai sau các bậc này tiếp nối Đức Di Lạc, rộng mở chánh pháp lan rộng khắp, lập lại đời Thượng Kiếp như Di Chúc Đức Ngài đã lưu lại.


    Phật thi Đức, trào quốc thi văn,

    Nhơn tùng thi chánh, nhơn tăng thi lòng.


    Còn Ông Hồ Hữu Tường, một nhà học giả uyên thâm, nổi tiếng của miền Nam, xây dựng thuyết “Tân Xuân Thu”, một quan điểm để chỉ sau này thời Hạ Kiếp chấm dứt sẽ đến thời Thượng Kiếp. Ông thay đổi quan điểm một cách đột ngột. Tân Xuân Thu là một danh từ được thấy trong sấm kinh. Ông đã khám phá được một chân lý cao siêu sẽ ra đời ở Việt Nam. Ông còn kêu to lên “những tiếng gọi đàn”.

    “Tôi muốn cất tiếng mà kêu to. Kêu thực to để ai nấy cùng nghe. Tôi muốn có một giọng tha thiết. Thực tha thiết để ai nấy cùng cảm. Tôi muốn có những luận điệu đanh thép để ai nấy cùng tin. Nghe, cảm, tin… để cùng tôi đem một cái vinh quang chưa hề có trên quả địa cầu về cho dân tộc ta, dân tộc Việt Nam”.


    Ông còn viết nhiều nữa và đúng lúc Đức Tịnh Vương Nhất Tôn hóa thân Đức Di Lạc đang chuyển mình hành đạo. Nhưng viết kêu gọi mà chính ông Tường cũng không có đại duyên gặp Đức Ngài. May mắn thay, giòng họ ông cũng có được một người cháu đã tu theo Đức Di lạc từ năm 1983, sau này đã được Ngài nuôi dưỡng Đạo và được tôi dìu dắt. Theo tôi được nghe Đức Ngài dạy, người cháu ông Tường sẽ được làm Tổ ở một kiếp nào của mai sau.


    Cô Trúc Lâm Nương là Tiên Đạo cũng bảo rằng: Thời kỳ này là thời Mạt Pháp, chúng sanh quá đắm say vật chất, gây tạo không biết bao điều độc hại. Để cứu vớt chúng sinh Phật sẽ xuất hiện ở Việt Nam.


    Là tri kỷ, đôi lời ta xin nhắn

    Phật,Thánh,Tiên xuất hiện nước non nhà

    Độ chúng sinh giữ vững khắp sơn hà

    Đời Mạt Pháp hoằng khai thành chánh pháp


    Cô cũng quả quyết có Long Hoa ra đời và Việt Nam là một giống dân quý.

    Rồng mây Phật hội Phong Thần mạng

    Sen nở, Long Hoa vạn Quốc qui

    Ớ hởi ! Lạc Hồng nền Bích Ngọc

    Vững lòng chúa ẩn, hạnh duyên tùy


    Tuy vậy cô cũng không gặp được Đức Di Lạc trong lúc cô đang viết những lời thơ này. Đúng là Thần Tiên cũng không gặp được Ngài, chỉ hàng Tổ của Tiên, Thần mới đến học đạo được.


    Ông Tám (Lương Sĩ Hằng) cũng nói Phật đã hiện ở Việt Nam nhưng một hôm Đức Di Lạc bảo:


    “Ông Tám tu mức Thần Đạo chớ chưa được Tiên Đạo”
    Do vậy mà Ông Tám cũng không gặp được Đức Ngài. Chỉ Tổ của Tiên, Thần mới đủ công đức gặp Đức Ngài.

    Đức Bổn Sư Thích Ca Mâu Ni Phật đã khai thị: “Người nào nhìn thấy giáo pháp là thấy Như Lai” Giáo pháp của Như Lai Là gì? Như đã trình bày ở phần trước:

    – Đạo đức: Sửa tánh xấu, đố tật xấu, hỷ xả...

    – Giáo lý: Kinh Phật, nghe thuyết giảng...

    – Toạ Thiền: Tu Như Lai Thiền.

    Đạo Đức + Giáo Lý + Tọa Thiền = Tri Kiến Giải Thoát


    Tu như vậy, Chư Phật ra đời liền được đến diện kiến. Chư Phật dạy chân tử của Ngài, nên tu theo giáo pháp của Ngài như vậy để tìm chân lý. Kinh sấm giảng đúng lúc Đức Di Lạc ra đời mà bậc tu không biết giáo môn của Phật ra sao, lại mang nặng thành kiến sẵn cũng không gặp được Ngài.


    Ngài dạy cho Chân tử tự giác, chứ không dụng thần thông để chân tử tìm đến theo học Ngài. Chỉ khi tối cần, Chư Phật mới hiện thần thông để cứu độ những bậc tu đáng được độ. Thử hỏi, khi núi Thất Sơn nổ, số đông đến hỗn loạn, liệu Ngài độ được mấy chúng sinh giác ngộ?


    Không hề có cảnh đăng đàn thuyết pháp mà đắc đạo hết được. Trái lại, phải diệu dụng cho từng chân tử một trong muôn vạn pháp, khó lắm bậc tín tâm mới thọ lãnh được. Nếu chỉ nghe qua một câu kinh mà ngộ là ngộ kinh chứ không phải giác ngộ của Chư Phật, vì nó còn phần vận chuyển vạn pháp quá ư là khó nữa.


    Thời hiền kiếp Đức Bổn Sư Khai Thị, có lắm bậc hữu hình và vô số bậc tu vô hình giác ngộ. Còn thời hạ kiếp này vật chất làm đảo lộn lòng người nên quá khó đắp xây nền chánh pháp, do đó hiếm bậc giác ngộ. Hai câu thơ ghi rõ tâm trạng của Đức Di Lạc:


    “Gối mỏi gối, vai vùn vai


    Chí còn vận chuyển Phật Đài còn xây” –T.V.


    Thời Đức Bổn Sư Thích Ca Mâu Ni Phật cũng vậy, tự người chân tử phải kiên trì tu hành mới mong có kết quả: “Các con phải cố gắng, Chư Phật chỉ là những vị Thầy”
    _________________

    Một hôm tại Trung Ương Hội Thượng, Đức Di Lạc Tôn Phật khai thị cho bà Diệu Tuệ (Maria) như vầy: "Bà có người con trai phá của." Bà Diệu Tuệ không hiểu và hỏi tôi, tôi bảo: Đó là ý Ngài muốn nói sự tu chứng hàng Đại Thừa của Tôn giả La Hầu La tức Chúa Jésus. Chịu đựng đến mức tối đa đến KHÔNG, đạt được bác ái không oán trách, sở đắc thần thông thần kỳ.


    Đây là đỉnh cao của Đại Thừa, sự nghiệp còn dang dở chưa thành công đã bị chết, đạt Tri Kiến Phật, nửa đoạn đường đến chân lý KHÔNG gọi là phá của. Hàng Tôn Giả ở vị trí Thánh Hiền được nhập thể vào Như Lai Phật hay Thượng Đế với chữ bác ái còn tương đối.


    Phật Thừa không bỏ cũng chẳng lấy, không oán hận cũng chẳng chịu đựng. Có nghĩa phải vận chuyển pháp tránh chịu đựng những việc không cần thiết để hoàn thành lòng Đại Bi gọi là Phật Tri Kiến, nửa đường chân lý còn lại Hàng Bồ Tát ở vị trí tiến đến Phật Giác nhập thể sâu hơn vào Thượng Đế.


    Tối Thượng Thừa viên dung vận chuyển Tam Muội ổn định theo ý muốn, đạt được Diệu Dụng Phẩm thuộc hàng Ma Ha Tát, tiến đến sát với Như Lai Phật gọi là Phật Thừa. Phẩm này không thể nghĩ bàn, nó tuy hai mà một, tuy một mà hai./-


    10. Hịch Chứng Minh Vũ Trụ


    Phật ra đời có thẩm quyền độc lập chứng minh Vũ Trụ.


    Bồ Tát có quyền chứng minh chúng sanh cấp bậc tu chứng.

    –Tịnh Vương


    LỜI DẪN CỦA VIỆN HỘ ĐẠO.


    Từ năm 1975 trở về sau, đứng trước vạn pháp diễn tuồng, Đức Vô Thượng Di Lạc Tôn Phật thấy phải đến lúc Chứng Minh thời gian này chính là cực điểm của Địa Ngục Phất. Mạt Pháp, Mạt Kiếp đến lúc phải bị xoá bỏ để đưa Nhân Sinh bắt đầu bước qua thời Thượng Kiếp.


    Ngài đã ban hành Hịch Chứng Minh Vũ Trụ (HCMVT) chính là Mệnh Lệnh từ Tam Thế Phật mà toàn thể vũ trụ phải tuân hành, cùng Chứng Minh Thiện Ác, đồng kêu gọi Chư Long Thần Hộ Pháp như: Thiên Thần, Nhân Thần, Địa Thần, Thượng Đẳng Đẳng Chánh Thần cùng Tứ Bộ Thần thi hành tận độ chúng sanh bình đẳng.

    Đức Di Lạc Tôn Phật đã trao cho học trò Chân Truyền là Thiền Sư Bồ Tát Di Như nắm giữ Hịch Chứng Minh này để tiếp tục thi hành Bổn Nguyện của Ngài. Y theo lời chỉ dạy của Ngài, Thiền Sư Bồ Tát Di Như đã công bố Hịch Chứng Minh Vũ Trụ lần đầu tiên trong cuốn kinh "Đức Di Lạc và Long Hoa", cùng phát hành tại Việt Nam cuối năm 1999. Ngoài trọng trách Thi Hành Bổn Nguyện Đại Diện Chư Phật Mười Phương, truyền Chân Lý Thực Tiễn của Đạo Phật sống lại trên quả Địa Cầu, Thiền Sư Di Như còn có thêm một trọng trách nữa là nương theo sự chuyển mình của Như Lai Tạng mà từng phần vận chuyển Tam Muội để toàn thể vũ trụ thi hành đầy đủ HCMVT của Đức Di Lạc.


    Tính từ lần đâu tiên công bố, ban hành cuốn kinh "Đức Di Lạc và Long Hoa" đầu năm 2000 cùng tuyên đọc HCMVT tại Hoa Kỳ năm 2002 đến nay đã trải qua mười (10) năm, thế giới đã chuyển mình trên một số quốc gia nhưng tình hình cơm no áo ấm của nhân sinh vẫn chưa thấm vào đâu, so với sự đau khổ tận cùng thời Mạt Kiếp. Chúng sanh độc tài, độc đảng, đang nhai nuốt dân lành, từ hình thức bỏ độc chất vào thức ăn khốn khó hằng ngày, cùng vô số sự đàn áp tàn độc của cả một hệ thống bạo quyền cướp đất, cướp biển, cướp ghe thuyền, bắt đòi tiền chuộc, cùng giết hại dân lành không có một thanh sắt trong tay.


    Ngay lúc này, bắt đầu năm 2011 mở màn trở về sau, thời gian không cho phép kéo dài lâu thêm, HCMVT một lần nữa Đại Bồ Tát vang động Tam Thiên Đại Thiên Thế Giới cùng khắp các cảnh giới Thiên, Tiên, Thần, Nhân Loài và riêng đối với Địa Ngục, Ác Căn phải thức tỉnh ngay hoặc phải bị loại bỏ trở về nơi đồng chủng đồng tánh cảnh giới Điạ Ngục do quyền lực Siêu Đẳng Bất Nhường Thần Thông từ Tâm Kinh Bát Nhã và Tam Muội.


    Nay Bồ Tát Ma Ha Tát đại diện Phật Vương Di Lạc thỉnh cầu Chư Thiên Thần, Nhân Thần, Địa Thần, Thủy Thần, Hỏa Thần, Thượng Đẳng Đẳng Thần, Chư Long Thần cùng Tứ Bộ Thần hãy vì bổn nguyện chung của Tam Thế, cấp cấp thi hành tận độ chúng sanh trong khắp các quốc gia còn bị nạn độc tài, độc đảng trên thế giới và khắp Tam Thiên Đại Thiên Thế Giới. Đó là công đức cúng dường Như Lai. Xong cuộc thế sẽ được luận công. Không để chậm trể thêm nữa.


    Nay Lệnh Ấn Quyết Ban Hành.



    PHẦN MỘT 'HỊCH CHỨNG MINH VŨ TRỤ.



    GIẢI THÍCH.


    ◊ Hội Thượng: Thượng có nghĩa Thượng Kiếp. Ý chỉ Hội này lập đời Thượng Kiếp tức Hội Long Hoa do Đức Di Lạc chủ trì, được ẩn dưới danh Pháp Tạng Phật Giáo Việt Nam.

    ◊ Chứng Minh: Vì sao Chư Phật phải chứng minh? Vì thời Mạt Pháp là thời mà chúng sinh tu hành không theo tôn chỉ của ba đời Phật, không thực hiện Đạo Đức lại tu theo lý trí. Đã Mạt Pháp liền đến Mạt Kiếp. Mạt Kiếp tức lối sống hành động theo cái muốn không còn kỷ cương đạo đức. Dần dần đi đến ác, đâu đâu cũng thấy hiện ác căn: Ngạ Quỷ, A Tu La, Súc Sanh đến Địa Ngục thịnh hành, còn bậc Nhân Thiên rất hiếm. Thời Mạt Kiếp là thời cuối nên đời sống diễn hành, pháp gì cũng tận tận. Cuối thời Mạt Kiếp sẽ chuyển Thượng Kiếp, nó cũng đúng thời Đồng Độ. Nếu Chư Phật không ra đời chứng minh, ắt chúng sinh phải trầm luân mãi trong Hạ Kiếp vì xã hội suy đồi đến mức tận cùng. Người dân vô tội không dấn thân bên này hoặc bên kia cũng bị chung số phận. Đọc thật kỹ Hịch Chứng Minh của Đức Di Lạc mới thấy Phật Lực tận độ chúng sinh của Ngài bằng cách giải giới Cộng sản Liên Xô và các nước Cộng Sản Đông Âu đem lại tự do cho chúng sinh của họ và thế giới thật khó nghĩ bàn!


    “Tất cả đã lầm, tưởng mình sau khi mãn phần hết kiếp vẫn sanh trong quả Địa Cầu nầy, hoặc mình là người thời được sanh làm kiếp con người, có kẻ lại lầm khi mình chết là mất.


    Mỗi một bậc khi mãn phần hết kiếp thì từ nơi quả Địa Cầu này, liền thoát sanh qua trăm ngàn quả Địa Cầu khác, đến nơi đồng hợp với Đức Tánh, đồng hợp với cử chỉ liền được sanh nơi đó, rất hiếm bậc đặng đồng sanh nơi mình mới vừa thoát để sanh.

    Lại có bậc từ quả Địa Cầu nầy, lúc mãn phần vừa mới được thoát sanh liền được sanh phải lướt qua trăm ngàn Cảnh Giới, hoặc lướt qua trăm ngàn Cõi, Cảnh Giới nào hay Cõi nào đồng hợp với Đức Tánh cử chỉ liền được sanh nơi đó.”
    –T.V.

    ◊ TA: chính Đức Di Lạc cách đây 2500 năm Phật Lịch Đức Bổn Sư đã thọ ký thời Mạt Pháp, Ngài Đại Diện Tam Thế Phật có trọng trách tận độ chúng sinh và chứng minh thời Mạt Pháp trở lại Chánh Pháp.


    ◊ Tịnh Vương Nhất Tôn Đương Lai Hạ sanh Tôn Phật Tối Thượng Đẳng (kiếp này): ý chỉ Đức Di lạc trong kinh thường gọi Đương Lai Hạ Sanh. Bất cứ vị nào từ Thượng Giới, lai trần đều có một cái tên mới, mỗi kiếp một tên.


    • NHÂN DUYÊN BAN HÀNH.
    Sau Thế Chiến thứ nhất 1914-1918 và Thế Chiến thứ hai 1939-1945, đến Hiệp Định Geneve 1954 và nội chiến của người Việt Nam đã đưa đến hậu quả tai hại là đất nước bị chia đôi, biết bao gia đình đã từng lầm than đau khổ nay lại phải chia ly.


    Thế giới thời này đã chia hai phe rõ rệt và cực kỳ tương phản. Một là chủ nghĩa tự do của Tư bản do Hoa Kỳ và các nước Tây Phương chủ trương, hai là chủ nghĩa Cộng Sản do Liên Xô chủ trương gây mâu thuẫn với thế giới Tự Do. Nhờ đó Cộng Sản Liên Xô có điều kiện bành trướng và kỹ nghệ hóa xứ sở, leo lên địa vị siêu cường quốc để tranh hùng với Hoa Kỳ.


    Trong thế chiến thứ hai Hoa Kỳ và Cộng Sản Liên Xô đã bắt tay cùng một chủ trương để tiêu diệt Hitler. Khi Đức Quốc Xã thảm bại, Hoa Kỳ nhận thấy Cộng Sản Nga tràn quân qua nước Đông Âu nào cũng đóng quân, củng cố, lập chính quyền theo Cộng Sản. Hoa Kỳ đã thấy Cộng Sản Nga là kẻ tạo thù địch nên trong tương lai hoà bình của Hoa Kỳ và các nước đồng minh không thể xem nhẹ được.

    Học thuyết thế giới hai phe của Darwin dựa trên nền tảng “cạnh tranh sinh tồn” được Karl-Marx, thủy tổ của Cộng Sản do Cộng Sản Nga đem áp dụng vào “đấu tranh giai cấp” ở giữa thế kỷ 20, chuẩn bị cho thế chiến thứ ba, thế chiến nguyên tử tiêu diệt sự sống của tất cả tứ loài trên địa cầu. Chính thế giới hai phe Tự Do và Cộng Sản đã đua nhau sản xuất vũ khí nguyên tử, sắp sẵn thế cờ đe dọa thế giới đi vào khúc quanh tận thế.


    Sau hiệp định Geneve 1954 cho đến 1975 tình hình Việt Nam đã xảy ra biết bao biến cố dồn dập. Tình hình thế giới trở nên nghiêm trọng là năm 1956 sự rạn nứt giữa hai siêu cường Cộng Sản Liên Xô và Cộng Sản Trung Hoa càng ngày càng sâu rộng, tạo ra hố ngăn cách có lúc cường độ dâng cao đến nỗi hai bên suýt dùng vũ khí nguyên tử bấm nút sát phạt nhau! Những sự kiện trên đã ảnh hưởng trầm trọng đến Việt Nam.


    Từ năm 1968-1972 hai nước Cộng Sản đàn anh là Liên Xô và Trung Hoa chia rẽ, lợi dụng được yếu điểm này Hoa Kỳ đi đêm và bắt bồ với Cộng Sản Trung Hoa để đối trị với Liên Xô, càng làm cho vũ khí nguyên tử của hai bên như treo lơ lửng trên đầu nhân loại!


    Nghiêm trọng hơn nữa từ năm 1972 đến năm 1975, sau ba năm Hoa Kỳ củng cố được vững vàng với Cộng Sản Trung Hoa, liên kết các nước Tây Âu, Nhật trong chiến lược toàn cầu đã bao vây được Cộng Sản Liên Xô, càng làm cho Liên Xô phát triển mạnh tàu ngầm nguyên tử có gắn hỏa tiễn đầu đạn hạt nhân. Lúc đó những ai có trình độ hiểu biết đều tin rằng thế chiến thứ ba ra đời, vũ khí nguyên tử sẽ tiêu diệt sự sống trên địa cầu này, không những loài người bị tiêu diệt mà các loài khác cũng không còn tồn tại được.


    Ngày nay, việc chế tạo hỏa tiễn mang đầu đạn hạt nhân và bom nguyên tử đã không còn là một bí mật tuyệt đối nữa. Thật là một thảm họa!


    Tháng 4 năm 1987, trường Đại Học Lục Quân Mỹ ở New Jersey, nguyên cứu về vấn đề chiến lược đã công bố. Ngoài các nước đã có vũ khí nguyên tử như Hoa Kỳ, Anh, Pháp, Nga, Trung Quốc, Ấn Độ, Tây Đức, Nhật Bản, Đài Loan, Nam Phi còn có một số quốc gia khác sẽ có vũ khí nguyên tử. Tổng cộng có 23 quốc gia trên thế giới đã và sẽ có vũ khí nguyên tử. Có phải thế giới đã đến ngày tận thế?


    • VIỆT NAM LÀ NƠI KHOA HỌC THÍ NGHIỆM. Từ năm 1945 - 1975 suốt 21 năm chia cắt đất nước, Hoa Kỳ viện trợ bảo vệ miền Nam, trong lúc đó Liên Xô và Cộng Sản Trung Hoa yểm trợ miền Bắc Việt Nam. Chiến tranh đã làm cuộc diện trong nước cực kỳ đen tối, nó trở thành một cuộc chiến tranh thế giới thu hẹp tại miền Nam, suýt nữa thế chiến thứ ba bùng nổ mà nguyên nhân chính là Việt Nam. Cuộc thư hùng của Hoa Kỳ và Đồng Minh, còn một bên là Cộng Sản Liên Xô, Cộng Sản Trung Hoa cùng các nước Cộng Sản Đông Âu, làm cho dân tộc Việt Nam phải gánh chịu một số phận khủng khiếp, của những phát minh khoa học chiến tranh hiện đại, được đem thí nghiệm tại Việt Nam.


    Dân tộc Việt Nam đã gánh chịu tận thế! Đối với Chư Phật gọi là Mạt Pháp vì tận cùng của cái khổ! tận cùng của cái gánh chịu! tận cùng của cái ác! tận cùng của thế pháp. Vạn pháp đều tận gọi là tận thế. Thánh ý hiểu như vậy. Phàm trí quan niệm rằng tận thế là quả địa cầu của chúng ta tới thời kỳ tan rã, loài người đến lúc phải bị tiêu diệt.

    Quan niệm như vậy thiếu cơ sở chứng minh. Tất cả những gì do con người tác tạo đều do nhân sẽ gặt quả. Con người tạo nhân nào đến khi đủ điều kiện sinh nở nó trổ quả. Khi nghiệp lực con người tạo bất ổn dãy đầy đến lúc quả Ác trả, bỗng tỉnh ngộ quay lại Thiện. Luật tuần hoàn hết thịnh tới suy, ác hết đường nó phản chiếu nó. Nó thấy nó. Nó tự kiên sợ và rồi tự hối cải. Đức Tịnh Vương hóa thân Đức Di Lạc đã chứng tri vạn pháp độc nhiễm của thời Hạ lai Mạt Pháp này, nên Ngài mới ra sức khai đạo để lưu lại thế giới, cho sau này con người dần dần nhận chân giá trị của đạo giác ngộ mà hóa cải đựợc an lành, không còn sanh tử luân hồi.

    Tất cả hiện tượng vật chất đều không ra khỏi quy luật Thành Trụ Hoại Không. Nếu quả địa cầu của chúng ta tan rã là do qui luật trên, Chư Phật có sắp đặt cũng phải dạy dỗ cho con người, khó khăn lắm họ mới nhận được chân giá trị, rồi tự kiến tạo gìn giữ, hóa giải được độc nhiễm, tâm trong sạch, thân được đồng ứng thoát nạn tai ách. Đó là trọng trách, một nhiệm vụ nặng nề và khó khăn của Tam Thế Phật trao, Ngài phải thực hiện thành công rồi chứng minh thời Mạt Pháp trở lại Chánh Pháp./-


    11. Đức Di Lạc thành Phật Vương (Hịch CMVT phần 2)

    Chánh Báo Thân của Đức Di Lạc Tôn Phật quyền lực như thế nào, mà Ngài đã ban hành Hịch Chứng Minh lệnh cho khắp vũ trụ rộng bao la vô tận, trong đó có muôn loài vạn vật phải thi hành.


    • ĐỨC TỊNH VƯƠNG NHẤT TÔN hoá thân ĐỨC DI LẠC thành PHẬT VƯƠNG.


    Thật là một Đại Duyên tôi đã chứng kiến sự kiện Đức Tịnh Vương Nhất Tôn hoá thân Đức Di Lạc đắc quả thành Phật Vương tức Như Lai hay còn gọi là quyền lực tổng thể vũ trụ. Sự kiện bắt đầu tại căn gác gỗ nơi Tịnh Thất Ngài ở số 42 Hồng Bàng Nha Trang, hôm đó Ngài khai thị cho tôi:


    Chánh Báo Thân của Đức Di Lạc Tôn Phật quyền lực như thế nào, mà Ngài đã ban hành Hịch Chứng Minh lệnh cho khắp vũ trụ rộng bao la vô tận, trong đó có muôn loài vạn vật phải thi hành.


    • ĐỨC TỊNH VƯƠNG NHẤT TÔN hoá thân ĐỨC DI LẠC thành PHẬT VƯƠNG.


    Thật là một Đại Duyên tôi đã chứng kiến sự kiện Đức Tịnh Vương Nhất Tôn hoá thân Đức Di Lạc đắc quả thành Phật Vương tức Như Lai hay còn gọi là quyền lực tổng thể vũ trụ. Sự kiện bắt đầu tại căn gác gỗ nơi Tịnh Thất Ngài ở số 42 Hồng Bàng Nha Trang, hôm đó Ngài khai thị cho tôi:



    "Ngày xưa khi Thái Tử Tất Đạt Đa tu đắc đạo, liền Như Lai (Thượng đế) quyền lực Tối Thượng Đẳng đến thọ ký, tức quyền lực Tổng Thể vũ trụ, thân phàm từ đây đã trở thành KIM THÂN. Ngài ra một điều kiện: Nếu Ta đắc đạo thành Phật thì khi Ta ném cái bát này xuống sông Ni Liên Thiền nó chạy ngược giòng sông. Nói xong Ngài ném cái bát xuống giòng sông, cái bát nổi lên mặt nước và chạy ngược giòng. Đức Thích Ca đã thành Phật Vương.


    Hôm nay Ta nói với ông, Ta vừa đắc đạo cũng phải có điều kiện làm bằng chứng.”

    Đức Tịnh Vương Nhất Tôn hóa thân Đức Di Lạc đưa ra hai điều kiện:


    • "Điều kiện thứ nhất: Nếu Tôi đắc đạo, tối nay bảy Hành Tinh xuất hiện cùng một lúc trên cùng một đường thẳng.

    • Điều kiện thứ hai: Khi đài BBC ở London phát thanh chiều lúc 18g30’ mưa một phút trên gác Tôi nhưng không có mưa một giọt nào hai nhà bên cạnh.”


    * * *


    • Chiều lúc 18g30’ Đức Tịnh Vương đang ngồi mở chiếc radio National nhỏ, nhạc hiệu Đài BBC vừa phát ra, bỗng mưa rào rào trên mái tole nhà Ngài. Ngài ra xem đúng y không có một giọt mưa nào rơi trên hai nhà bên cạnh. Mưa đúng một phút.

    • Sáng hôm sau báo chí Sàigòn đăng tin Đài Quan Sát Thiên Văn Quốc Tế phát hiện, lần đầu tiên từ hơn 2000 năm, tối hôm qua một hiện tượng kỳ lạ: 7 hành tinh xếp hàng hiện trên bầu trời cùng một lúc trên cùng một đường thẳng. Tôi đem tờ báo dâng Ngài đọc.


    Đức Tịnh Vương Nhất Tôn hóa thân Đức Di Lạc đã thành Phật Vương, đúng y lời thọ ký của Đức Bổn Sư Thích Ca Mâu Ni Phật cách đây 2500 năm.


    ♦ PHẦN HAI 'HỊCH CHỨNG MINH VŨ TRỤ'



    Trước sự hiện diện nơi Ta. Đức Tịnh Vương Nhất Tôn hóa thân Đức Di Lạc đã thị hiện giữa thời Hạ Lai Mạt Pháp, Ngài đã tuyên ngôn có Tam Thế Phật chứng minh sự Diệu Dụng Phật Tôn cứu tứ loài mà Ngài phải chịu trăm chua nghìn đắng:

    "Hạ-Kiếp điên đảo ưu-phiền.


    Phần tôi gánh chịu lời nguyền hạ-lai." –T.V.


    ◊ Chư Bồ Tát thọ trì. Chư Phật mỗi khi lai trần đều phải tốn công nhọc sức mới đúc ra được Bồ Tát. Bồ Tát là bậc đã thấu đạt tự giác: biết vận chuyển vạn pháp viên dung nên đã ý thức thọ nhận việc xuất nhập Chánh Định đi khắp nơi chúng sinh đang bị áp bức, trầm luân trong biển khổ, tận độ chúng sinh hồi sinh.

    ◊ Chư Hộ Pháp đảm nhiệm thi hành lời chứng minh của TA. Ở đây Ngài muốn nói Chư Hộ Pháp tức hàng vô hình ở bên Chư Phật, Chư Bồ Tát luôn hạnh nguyện xông trận đi bất cứ nơi nào chiến đấu với Ma Vương, Qủy Vương thực hành hạnh nguyện theo lời khai thị của Đức Tịnh Vương hóa thân Đức Di Lạc để hóa giải chúng sinh an lành.


    ◊ Cùng với Chư Thiên Hộ Pháp. Những vị Hộ Pháp vô hình tu ở núi, ở hang động tránh xa trần tục, sống thanh nhàn, được tự tại, quả tu chứng trên thế gian, nguyện hộ trì giúp đỡ chúng sinh qua thi thơ, qua cơ bút, răn đời lo tu hành giúp thế gian hay các Cõi ngoài quả địa cầu trở nên an vui mát mẽ. Những vị này đã nguyện theo bên Đức Ngài làm nhiệm vụ độ chúng sinh, tạo công đức trong thời Hạ Kiếp này.

    ◊ Chư Thần Hộ Pháp. Những vị Thần vô hình, thường đem tình thương cứu giúp chúng sinh nhưng tánh nóng giận vẫn còn. Họ có phương tiện trí thông tự tại, thần lực không thể nghĩ bàn. Thị hiện phương tiện thuận hoặc nghịch hành độ chúng sinh.

    ◊ Như Nhân Thần Địa Thần. Các vị Thần cai quản địa đại của chúng ta ở địa cầu này. Các vị này thường ở Đình, Làng nơi các Miếu nay nguyện theo Ngài tu hành và lập công đức giúp thế gian. Các vị cũng nhận lịnh Ngài đi khắp nơi cần thiết và tự tại độ chúng sinh.


    ◊ Thượng Đẳng Đẳng Thần Các vị Thần đạt được sự tu hành có kết quả cao nhất trong tất cả các vị Thần khác. Có tự tại Thần Lực Vô Thượng Đẳng Thần, đầy uy lực không thể nghĩ bàn, nay nguyện ứng trực bên Ngài.


    ◊ Chư Long Thần cùng Tứ Bộ Thần. Những vị Thần còn tánh tức giận, có thần lực biến hóa mây mưa. Những vị này biến được thân rồng, tu Thiền Định từ thời Đức Bổn Sư Thích Ca Mâu Ni Phật. Họ đợi chờ Long Hoa nay Đức Di lạc Hạ lai trần thế đến ứng trực, lập công đức hộ trì Chánh Pháp và tu hành. Cùng Tứ Bộ Thần ở bốn Bộ Châu trong Tam Thiên Đại Thiên Thế Giới cũng đến ứng trực ở bên Ngài.

    ◊ Lại có Chư Bồ Tát thời quá khứ nguyện hộ trì chánh pháp, thời hiện tại ứng trực nguyện. Chư vị Bồ Tát có chí nguyện dũng mãnh từ thời Đức Bổn Sư Thích Ca Mâu Ni Phật ở thể hiện vô hình. Cũng có vị nay hiện cư sĩ tại gia đã lai trần thuộc hữu hình, đều ứng trực bên Ngài, hạnh nguyện lợi mình lợi người, hộ trì giúp đỡ tứ chúng tu hành không ngừng nghỉ và kín nhiệm độ chúng sinh tránh khổ ải.


    Thời khoa học văn minh hiện đại như ngày nay, chuyên nguyên cứu bằng thực nghiệm, lấy hiện vật hợp hóa để nhận biết. Nay Đức Tịnh Vương hóa thân Đức Di Lạc tuyên minh giữa thời này, có cả một thể hiện vô hình đầy quyền uy bất khả tư nghì, đang ứng trực bên Ngài, sẵn sàng thi hành hạnh nguyện theo lời Ngài ban ra xây dựng lại Thượng Kiếp.


    Một đạo quân vô hình, lúc nào cũng tự giác cao độ, lúc nào cũng sống trật tự kỷ cương, dưới mắt Thiền Sư thấy rõ, biết tường tận. Nhân sinh, khoa học gia dù lỗi lạc đến đâu cũng không sao thấy biết được. Còn các lãnh tụ quyền uy, miệng thét gào bất khuất trùng dương, so với một vị Hộ Pháp vô hình thật không thấm vào đâu. Chỉ một ấn chỉ liền vô hiệu hóa. Thật khó tin nhưng có thật giữa thời đại nguyên tử này! Tất cả đều vì lợi ích của chúng sinh bị áp bức, cùng sự chấm dứt phiền não của lớp người thiện căn cô thế.


    Đức Di Lạc hiện thân ở tại thành phố Nha Trang, đã đồng ứng cùng Tam Thế Phật, kêu gọi những bậc tu hành thuộc thể vô hình thời quá khứ hội tề bên Ngài. Ai vô thần, ai nghi ngờ hãy suy nghĩ lại. Nếu con người và sinh vật chết là hết sao lại có một Đức Tịnh Vương hóa thân Đức Di Lạc từ 2500 năm về trước, nay lại tái lai thị hiện tại thế giới chúng sinh, cùng những lần thị hiện thân phàm khác nữa như Long Thọ, Bố Đại Hòa Thượng...


    Sao lại có Chư Bồ Tát, Hộ Pháp, Thiên Thần... từ thời quá khứ nay về bên Ngài để làm gì? Như vậy bậc tu, bậc không tu khi chết vẫn chuyển mình sang một kiếp sống khác tiếp tục cuộc sống mới và cứ thế tiếp diễn mãi không ngừng.


    ◊ Trong Tam Thiên. Trong quả địa cầu của chúng ta có vô số chủng loài sinh vật, mỗi loài có lối sống riêng theo một môi trường thích hợp gọi là tiểu thế giới. Cứ mỗi 1000 tiểu thế giới lại thành 1 tiểu thiên thế giới. Cứ mỗi 1000 tiểu thiên thế giới lại thành 1 trung thiên thế giới. Cứ mỗi 1000 trung thiên thế giới lại thành một đại thiên thế giới.


    ◊ Ngoài tam thiên đại thiên thế giới. Ý chỉ đại thiên thế giới đó gồm 3 tiểu thiên, trung thiên và đại thiên. Trong quả địa cầu của chúng ta có tam thiên đại thiên thế giới và ở ngoài quả địa cầu của chúng ta là vũ trụ bao la cũng có vô số tam thiên đại thiên thế giới khác nữa.


    Bảy báu thuộc Báu Thân Phật của Đức Di Lạc đã một lần nữa thể hiện sau thời Đức Bổn Sư Thích Ca Mâu Ni Phật cách đây 2500 năm./-


    12. Hịch CMVT, phần 3

    ♦ Đức Di Lạc hoá giải độc nhiễm


    ◊ Quốc Vương. Vua được lưu truyền theo cha truyền con nối.


    ◊ Dân Vương. Vua do dân bầu cử lên.


    ◊ Chủ Vương. Vua ở cõi Thiên, phần nhiều những vị này có tài, còn được gọi là Minh Vương. Dân sống sung túc.


    ◊ Quyền Vương. Vua ở cõi Tiên còn được gọi là Tiên Chủ, có thần thông tài phép cao hơn các vị Tiên khác, nên rất được kính nể. Dân sống đầy của báu có sẵn khắp nơi.

    ◊ Chủ Thủ Vương. Vua của Địa Ngục, dụng ba đường ác để trị dân. Nếu ai dám nói thẳng nói thật để xây dựng liền bị đầy ải hoặc thủ tiêu.


    ◊ Cõi Trời. Vua cõi Trời gọi là Phạm Vương. Có cõi Trời gọi là Đế Thích, có cõi Trời vua gọi là Tự Tại Thiên. Dân sống ở cõi Trời được sung sướng.


    ◊ Cõi Rồng. Cõi vô hình, thân tướng trên đỉnh hiện đầu rồng, tánh thường tức giận.

    Quả địa cầu của chúng ta chỉ là một thế giới nhỏ bé so với vũ trụ bao la có vô số thế giới. Dưới mắt Thiền Sư nhìn qua Nhãn Tạng, biết còn có rất nhiều chủng loài khác, lối sống cao hơn hoặc thấp thua loài người.


    Còn loài người trên thế gian này giữa thời Hạ Lai Mạt Kiếp bị trị dưới hình thể muôn mặt. Riêng tại Việt Nam, một thể hiện Đức Di Lạc đã chứng kiến tường tận. Từ năm 1975 đến 1989, một thời gian 14 năm dài, tinh thần người dân miền Nam Việt Nam sống trong nỗi lo âu, một màn đen tang tóc bao trùm cho tất cả các giai cấp từ thành thị đến thôn quê. Điểm tựa của sự sống đã toàn phần đảo lộn. Nhu cầu về sự sống thường ngày cũng thiếu thốn quá mức chịu đựng, nó tuột dốc dần và hầu như tê liệt. Cuộc diện miền Nam như chiếc xe bị đứt thắng, đang lao nhanh xuống vực thẳm.


    Trong nhiều đợt Cộng Sản miền Bắc Việt Nam thực hiện con đường vô sản của Liên Xô, đã càn quét người Tư Sản, Tư Sản Mại Bản, Tư Sản Trí Thức ở miền Nam đến tận gốc rễ. Trong số đó có biết bao gia đình không theo chế độ cũ, cũng bị chung số phận tan thương!


    Chương trình kinh tế mới Cộng Sản Miền Bắc áp đặt cho dân miền Nam, đã gây tai họa là tỉnh nào cũng có vô số gia đình sống lang thang không nhà ở các hè phố, hàng ngày không có ăn, áo quần rách rưới, mặt mày tèm hem, cuộc đời người không giống người! Ở kinh tế mới, núi rừng âm u, khí hậu độc, người dân thành phố không quen lam lũ, họ chỉ quen làm các ngành nghề và mua bán, do đó sản xuất lương thực không đủ sống, lòng oán than khôn xiết! Khi người dân kinh tế mới có bệnh, không đủ thuốc men, đặc biệt bệnh sốt rét làm gia đình nào cũng có người chết. Thuốc dân tộc không đủ sức trị bệnh sốt hiểm nghèo làm cho số còn lại bỏ canh tác chạy! Dù biết rằng nhà ở thành phố không còn, họ vẫn chạy về và không biết ngày mai sẽ ra sao!


    Chế độ Cộng Sản miền Bắc vững tin ở vô sản nên xúc tiến nhanh và mạnh đến nỗi người yếu đuối bệnh tật, người trí cho đến kẻ xuẩn, ai ai cũng chạy theo phong trào vượt biển, trốn khỏi đất nước, nơi quê cha đất tổ đã từng nuôi dưỡng và trưởng thành. Họ chạy đi không bao giờ nghĩ quay lại, dù biết ra đi chỉ có một tia hy vọng mong manh đưa họ đến nơi an lành!


    Khi Lenin chiến thắng Nga Hoàng, đã đem một triệu quân của Nga Hoàng lên Tây Bá Lợi Á để xây dựng thành phố xứ tuyết băng quanh năm. Kết quả chỉ còn sống có 5000 người sau khi hoàn thành việc xây dựng thành phố này. Đó là kết quả của cưỡng bức lao động mà không cho ăn uống đầy đủ, bệnh hoạn không thuốc men, lạnh giá không cấp phát áo quần, chăn mền để sưởi ấm thân thể.


    Tuy Việt Nam không có thành phố Tây Bá Lợi Á như ở Liên Xô nhưng những chỉ đạo của người Cộng Sản Nga còn tinh vi, còn có nhiều kỹ thuật trị dân miền Nam rất cao siêu. Lương thực chính của người dân là gạo cùng các nhu yếu phẩm khác đều do nhà nước quản lý, khắp nơi chỉ còn các hợp tác xã. Tất cả các mặt hàng thông dụng hàng ngày đều trở thành quốc cấm. Người dân miền Nam lúc bấy giờ mới chứng kiến cảnh sống bế tắc, cơ hàn cùng cực.




    Thời này, người ta cho con chó một khúc ‘xương nó gặm, hôm sau gặp lại nó còn
    biết vãy đuôi mừng, còn con người nếu có ai cho miếng thịt, ăn xong họ liền cắt cái túi rồi theo về tới nhà xô đuổi người này và cả nhà ra ngoài đường nữa. Loại người ác này thua con chó.



    –Di Như


    Chính Đức Tịnh Vương Nhất Tôn hóa thân Đức Di Lạc đã cảm thông cảnh sống của người dân miền Nam đồng thời Ngài cũng cho tất cả biết thời mạt kiếp phải diễn trong miền Nam như vậy.


    HÃY ĐẾN ĐÂY XEM


    Cõi nào hãy đến đến đây xem,

    Nếp sống nhân gian thấy đã thèm,

    Chạy vạy đói no từng chén gạo,

    Lang thang rách rưới quá tèm hem,

    Ngày đêm lặng lẽ trong cơ cực,

    Năm tháng thâu canh, chí chán hèn,

    Có phải cuối đời, thời mạt kiếp,

    Thế này diễn mãi, chắc rồi quen.


    –TỊNH VƯƠNG NHẤT TÔN

    Nạn đói năm Mậu Ngọ

    22-10-1978
    Cứ mỗi thời một diễn cảnh, nhưng thời Hạ Lai Mạt Kiếp cái ác diễn hành cực mạnh để con người thức tỉnh, hối hận “Đứng núi này trông núi nọ.”


    Chánh pháp lưu truyền đến đời Ngũ Tổ ở Trung Hoa đã có Thần Tú bày lối tu hành dưới hình thức cúng lễ làm mê hoặc chúng sinh. Họ cũng làm đạo nhưng lại đem con người lầm lạc làm mất phương hướng tu theo Tri Kiến Giải Thoát, dần dần con người sùng bái linh thiêng không tu theo chơn tánh. Một yếu điểm khác nữa, thời Mạt Kiếp tôn sùng vật chất quá mức, chỉ biết có vật chất nên con người vừa gặp cảnh khó khăn trắc trở liền mất hết tinh thần đạo đức, lại chạy theo diễn cảnh tham vọng, thích vọng. Con đường tu cũng vì đó mà mất nên bị thất chơn truyền là lẽ đương nhiên, có người còn ngơ ngác than thân trách phận, trách đời.


    Trái lại bậc tu có căn cơ mới thấu đáo chốn Hạ Lai Đồng Độ đầy mầu nhiệm, họ vẫn tinh tấn tu không ngừng nghỉ vì họ thừa biết là cuối thời thiên địa. Luật tuần hoàn của vũ trụ không bao giờ dừng, một khi đến chỗ tận cùng của vạn pháp gọi là tận thế, như nhiên nó chuyển sang một giai đoạn mới để Chánh Pháp hiện hình. Chính Đức Di Lạc, Ngài biết tường tận không thiếu sót nên vẫn bình thản mật cảm mười phương Chư Phật giao cảm cùng Ngài trong giờ phút thiêng liêng, tàn canh của Đại Thiên Địa sẽ chuyển mình đến hoàn lai êm đẹp trong sáng.

    Thời chân lý Thực Tiễn hiện tại đã đến, Pháp Độ Đồng Độ của Đức Đông Độ Hiện Giác Dược Sư Lưu Ly Quang Như Lai đã ra đời! Cõi Hiện Giác này, nay lại trống vắng những người con thân yêu do thảm cảnh, đến nỗi Đức Tịnh Vương hóa thân Đức Di Lạc phải ái hoài trong ngày Đại Lễ 30 tháng 9.



    ĐẠI LỄ ĐÔNG ĐỘ DƯỢC SƯ. ÁI HOÀI


    Hôm nay Đại Lễ Dược Sư,

    Ba mươi tháng chín chứng từ Pháp thân.

    Vài Tín Chúng xếp chân qùi gối,

    Một Nhà Sư thầm trối hương đăng,

    Tượng Chí Tôn chẳng nói không năng,

    Hương trầm tỏa bay giăng đất Thánh.

    Ngoài cổng chùa chung quanh vắng lạnh,

    Có đôi con chó nhỏ chạy lung lăng.

    Cảnh nầy ai thấu chăng ai?

    Vắng bóng Chư Tăng dạ ái hoài,

    Mật cảm trầm tư hồn viễn xứ,

    Diễn tuồng hạ kiếp đến hoàn lai.


    –TỊNH VƯƠNG NHẤT TÔN

    30 tháng 9 năm Mậu Ngọ

    31-10-1978

    Cảnh vật ở miền Nam sau 1975 tiêu điều, tinh thần người dân buồn khổ, một màu đen ảm đạm, tang tóc bao trùm, đâu đâu cũng nghe tiếng khóc than não ruột. Dưới mắt Thiền Sư khi xuất định đã gặp dưới lớp mây trên không, một lớp khí lạnh buốt rợn người, bàng bạc khắp nơi. Họ liền biết tiếng ai oán ta thán của dân chúng xông lên. Cửa ngục trần gian phất đến nỗi chư Thiên phải hoảng sợ.


    Ngày 20 tháng 2 âm lịch năm 1979 dương lịch Công An thành phố Nha Trang hạ bảng: PHÁP TẠNG PHẬT GIÁO VIỆT NAM, TRUNG ƯƠNG HỘI THƯỢNG.

    Kèm theo lệnh cấm tu hành, cấm thuyết pháp, cấm tập họp. Công an đã “quần” Ngài từ năm 1976. Lý do Ngài không vào theo Phật Giáo Thống Nhất do Nhà Nước áp đặt từ việc cỏn con của sự tu hành. Tự do dân chủ không còn nữa.

    Ở cõi Địa ngục, chỉ cần một đứa bé ghét ông già, nó ghi một câu độc bỏ vào cơ quan an ninh, ông già bị giết. Nó ghi nhẹ một chút, ông già bị ở tù ba, bốn năm là chuyện thường.

    Một hôm vào buổi sáng Ngài bảo, tôi nghe như vầy:


    “Ông nghĩ xem nếu vào khối Phật Giáo của Nhà Nước, mỗi khi thuyết pháp Tôi phải viết bài sẵn trình cho vị Tăng của Tỉnh! Tôi phải đi làm kế hoạch sanh đẻ. Việc này phải do y tế mới phải!”


    Công An kiểm kê số 42 Hồng Bàng, nơi Ngài đang ở, ý định tịch thu Chùa này và làm dữ, siết đủ ngõ ngách nhưng Ngài vẫn ôn tồn dùng Vi Diệu Pháp nên đều qua nạn tai rất nhiều đợt và tránh được cải tạo lần nữa.


    Chư Thiên liền Hội Tề thảo luận, Thập Bát La Hán cùng nghiêm túc thảo luận. Chư Long Thần, Địa Thần, Tứ Bộ Thần tề tựu dày đặc quanh Ngài. Dưới mắt Thiền Sư đều nghe rõ, biết tường tận “Giặc đánh Bồ Đề giặc phải tan”./-


    13. Hịch CMVT, phần 4

    ♦ Bất Chiến Tự Nhiên Thành.

    Tại căn gác gỗ nhỏ nơi Tịnh Thất Đức Tịnh Vương Nhất Tôn hóa thân Đức Di Lạc, tôi nghe Ngài khai thị như vầy:

    “Nhìn Cộng Sản Việt Nam biết được Liên Xô. Tất cả đều do Liên Xô mà ra. Đánh rắn Tôi phải đập đầu, Tôi không đập khúc giữa, khúc đuôi. Nhưng Tôi không đập, vì Tôi đập nó sẽ tan tành nát bấy như tương. Nếu Tôi dùng cái roi Thần Thông đập thì không một con rắn hổ hung hãn nào trên quả địa cầu này chịu nổi, dù chung quanh nó có cả tỷ giòng họ chứa đầy vũ khí tối tân của thời Hạ Lai Mạt Kiếp này. Tất cả đối với Tôi không thấm vào đâu. Tôi chỉ dùng cái roi THẦN THÔNG nhịp nhịp nó cũng tê liệt và rã từng mảnh để răn dạy đứa con NGỖ NGHỊCH.”

    Nhìn hiện tình, thể chế chính trị của Cộng Sản Liên Xô và các nước Cộng Sản Đông Âu vững chải như thành đồng, bỗng trở mình sụp đổ nhanh chóng, rã thành từng nước Cộng Hòa sống theo tự do mà không gây đổ máu cho bên này hoặc bên kia, cũng không có cảnh chết chóc như chiến tranh, cũng không có cảnh chiến thắng uống máu quân thù. Thế giới tự do không phải tốn một viên đạn. Đối với thế gian không hề biết là đã có một bàn tay vô hình của Chư Phật đem phép màu đến cho nhân loại, tránh nạn Đệ Tam Thế Chiến. Nạn tận thế đã qua! Các nước Cộng Sản còn lại lo đổi mới y theo lệnh của HỊCH đã chứng minh. Ngài đã dụng Thần Thông Tam Muội. Nhãn Tạng Tam Muội Định. Nhĩ Viễn Minh sắp bàn cờ thế “BẤT CHIẾN TỰ NHIÊN THÀNH” đã ban tình thương cho nhân loại sống lại với mùa xuân ấm áp, đượm tình nồng ấm.


    Hai câu thơ do Đức Tịnh Vương đọc để lưu lại đời, nhắn nhủ các Lãnh Tụ không phải chỉ bàn tay con người làm ra mà hiếp đáp kẻ khốn cùng, kẻ thất bại cô thế là đồng bào ruột thịt của mình, cùng chung trong một non sông gấm vóc. Quỹ đạo bị lệch Ngài đã âm thầm điều chỉnh lại:

    “Quan Âm không thể bắt cầu

    Ngón tay Ta chỉ Chư Hầu đều vâng” –Tịnh Vương

    Quán Thế Âm Bồ Tát phải lắc đầu cái thời Mạt Kiếp này còn chư hầu là các lãnh tụ trên thế giới không thấy bàn tay Chư Phật ở đâu cũng phải xuôi dòng. Rõ ràng ác trược, phiền não trược đã trở thành TỊNH ĐỘ QUỐC ĐỘ AN LẠC.


    Ngày nay nhờ chương trình đổi mới mà dân chúng có đời sống thong thả hơn, lớp “Người của Nhà Nước Cộng Sản” cũng có cơ hội được quyền sống cuộc đời sung túc, muốn ăn, muốn mặc sang đều được thoải mái, dễ dãi, lại có quyền “tư duy mới là Tư Sản”


    Với lòng Đại Bi, Đại Lực, Đại Hùng, Đức Tịnh Vương hóa thân Đức Di Lạc đã mang lại tình thương, thể hiện bằng hành động thực tiễn, không hề có một ý nghĩ phân biệt người bên này hay người bên kia, mặc dù Ngài thường bị công an thành phố Nha Trang chờ cơ hội bắt. Ngài vẫn kiên trì vận dụng "Nhất Thiết Thần Thông Tam Muội", nhập Tam Muội này, Ngài có thể trung hòa tất cả pháp bất ổn xâm nhập thân. Do vậy, cạnh cái ác, cái quái đản cũng có cái thiện khác gìn giữ kính nể Ngài.

    Thật vậy, Đức Tịnh Vương Nhất Tôn hóa thân Đức Di Lạc đã kín nhiệm thệ nguyện dùng Hạnh Thế Gian Giải không thể nghĩ bàn, để đưa chúng sinh từ nơi thế giới độc nhiễm lại quá hung hăng, đặng vào nơi an lạc, làm cho họ không hề hay biết. Còn thế giới tự do cũng tưởng lầm rằng chính họ đã điều khiển hay điều động nên ngày nay mới có hòa bình.


    Tất cả sự tốt đẹp an lành duy chỉ có THIỆN NGUYỆN THẦN THÔNG TAM MUỘI do Ngài Diệu Dụng để đưa thế giới của thời đại nguyên tử, quá ư cuồng loạn làm cho biến thành Tịnh Độ, không còn hai khối đe dọa tiêu diệt nhau. Nay đã sống chung hòa bình thật vi diệu. Ai cũng phải thừa nhận rằng, ngày nay các quốc gia trên thế giới đã chung sức hợp tác với nhau ổn định hơn lúc nào hết, nếu đem so với cường độ kình chống nhau sau thế chiến thứ hai tức năm 1945 đến 1954 đến 1989 nhân loại tưởng chừng như đã đến ngày tàn tận thế.

    Bậc Chánh Giác thâm nhập đến thành quả THẦN THÔNG ĐẠI QUANG TAM MUỘI có thừa năng lực tùy tiện phân thân biến hóa vô số VI TRẦN PHẬT, SÁT NA PHẬT đưa tâm thức rời khỏi xác thân, nhập vào vô số dạng sống khác, bao lâu cũng được nếu thấy cần thiết. Sau trả chúng sanh đó về tinh thần vị trí cũ mà chúng sinh không hề hay biết, mục đích để đem lại mức sống thoải mái không có sự ép buộc đè ép nhau cho tứ loài. Quyền lực Tối Thượng này còn có vô số Chư Bồ Tát, Hộ Pháp Tiên Thần của thể vô hình thời qúa khứ, hiện tại ứng trực nguyện nữa.

    Thế nên một số chúng sinh ở quả địa cầu của chúng ta, dựa vào sức mạnh của con người đồng chí hướng với mình, tạo được uy quyền cai trị thiên hạ, cho mình là vĩ đại dể tập khởi ác, thọ chấp ác nên Chư Phật sống ẩn mình không hiện thân tướng cho biết để gặp gỡ. Vì sao? Vì chúng sinh bổn lai ác, tâm tánh không chừng đổi, nếu bộc phát trước bậc Chánh Giác thật tai hại vô số kể cho họ và cho lớp người cùng chung chí hướng với họ nữa. Tất cả đều do đức độ đầy quyền lực Tối Thượng của Bậc này tự phản ảnh!

    Quyền lực của Bậc Chánh Giác chính là quyền lực của vũ trụ còn được gọi là Thượng Đế hay Như Lai. Cứ nhìn sức con người xây dựng bao công trình kiên cố, chỉ cần một trận cuồng phong bão tố bị tan tành hết. Chỉ một cơn động đất bị sập đổ hết hay chỉ cần một cuộc đổi thay thời tiết, tất cả chúng sinh bị tê liệt. Ngài quán xuyến trùm khắp nhập chánh định, xuất chánh định tam muội hóa giải đã đem lại an lành không thể nghĩ bàn. Khoa học văn minh hiện đại ngày nay đều bó tay trước nạn động đất và bão tố trên địa cầu. Riêng Thiền Sư hóa giải để không có bão tố và không có động đất xảy ra là chuyện thường. Lời nói này rất chân thật.


    Ở Nha Trang nhiều năm, thỉnh thoảng đài khí tượng loan tin bão sắp tới, Ngài đều nhập chánh định Tam Muội vận chuyển Pháp Thiên hóa giải, mỗi lần như vậy bão di chuyển ra biển khơi tan biến và Nha Trang được an lành. Có lần sắp có động đất nguy hiểm đến dân chúng, Ngài biết trước vận chuyển Đại Địa giải quyết không để gây thiệt hại cho dân chúng. Ngài đâu cần nói với ai chỉ học trò thân thiết với Ngài biết. Thật tuyệt mỹ, bậc đoạt Diệu Quả Bồ Đề như Đức Tịnh Vương hóa thân Đức Di Lạc, tận độ chúng sinh thời Mạt Kiếp mà đã biết cần phải thân khẩu ý kín nhiệm mới hạnh nguyện thành quả. Một hôm Ngài dạy:


    “Tôi đâu cần cầu danh, hiện thần thông phép lạ Ma Vương sẽ tìm đủ hình thưc giết. Việc khai đạo sẽ bị dang dở.”

    Hàng Thánh Hiền hấp tấp diễn thần thông do tu hành tạo công năng công đức mà có, nếu chưa có tài đức chưa có đủ trí huệ dễ bị hại. Bậc Vô Thượng Đẳng Chánh Giác, bậc Thánh không sánh kịp, cũng không có ai hơn được. Bậc này từ trong Chánh Định Tam Muội tận thấu tất cả vạn pháp, làm cho không có một kẻ hở nên không có cảnh bị giết như Thánh Hiền tuy có trí huệ, có thần thông nhưng chẳng được đầy đủ.

    Hàng Thánh Hiền tuy thông đạo, dạy cho chúng sinh tỏ đạo nhưng còn chưa đủ Mắt-Tai minh sát để vận chuyển Như Lai Tạng nên không giải quyết được một việc gì đầy đủ về Hạnh Thế Gian Giải cho nhân sinh và cho tất cả tứ loài.

    Như tôi sống ở Sàigòn đến nay đã được trên 15 năm, thỉnh thoảng vài năm có một lần đài khí tượng loan báo sắp có bão. Có một lần cuối năm 1992 Đài truyền hình thành phố Sàigòn cứ 20 phút báo tin khẩn cấp một lần, bão với tốc độ 250 km/giờ sẽ vào Sàigòn 12 giờ nữa. Mỗi lần tôi đều báo trước cho những chân tử của tôi là tôi sẽ hành dụng Thiên Pháp làm tan bão và quay trở lại biển Đông rồi biến mất. Chân tử của tôi đều nghe và chứng kiến mỗi lần như vậy đến giờ trời vẫn yên lặng, bầu trời trong xanh như ngày thường và không hề có bão đến.

    Thiên hạ đựơc tin lo phòng chống bão họ nói đài khí tượng Sàigòn dỏm, chớ họ đâu có thể hiểu nổi giờ phút đó tôi đã hóa giải cho Sàigòn và các vùng phụ cận được an lành.

    Vậy mà dạy đạo giác ngộ cho chân tử, tôi phải trốn chui trốn nhủi, phân tán học trò từng nhóm nhỏ. Còn Đức Tịnh Vương và tôi chỉ một sơ hở là địa ngục môn chờ sẵn! Ngài đã từng than “Tạo đạo đức cho đời mà có tội, nghĩ cũng cay nghiệt!”

    Khi người Việt Nam gặp nhiều nỗi truân chuyên, họ đua nhau vượt biển, thư từ, điện tín của thân nhân còn ở trong nước là món ăn tinh thần cần thiết nhất. Nhà nước tỉnh Khánh Hòa và nhiều nơi khác tịch thu hết thư từ, gom lại kiểm tra và không cấp phát cho dân. Ai cũng nóng ruột, họ bỏ ăn, bỏ ngủ ngày đêm than thở không biết thân nhân mình đi vượt biển sống chết ra sao? Chính Đức Ngài cũng bị chung số phận. Khoảng 6 tháng liền Ngài mới nói: thư từ, tin tức là cái quyền sống thiêng liêng cao cả của con người không một nước nào trên thế giới này làm cái chuyện quá ác như vậy. Người ta có thể nhịn ăn xác thân tiều tụy chớ mất tinh thần con người sẽ điên và chết. Ngài than và Chư Thiên hội tề giải quyết.

    Một cơn bão đã đến tỉnh Khánh Hòa làm thiệt hại mùa màng và đường sá, cầu cống, điện nước bị hư hỏng nặng. Chính quyền tỉnh bị thiếu ngân quỹ, vội vàng cho đem thơ, điện tín của thân nhân ở nước ngoài ra phát và tính thêm tiền phụ thu trên mỗi lá thư. Các nơi khác cùng bắt đầu phát thư theo, từ đó về sau không thấy thư của dân gởi về bị tịch thu nữa.

    Đó là lối cuối cùng Chư Thiên chỉ giải quyết nhẹ thôi, nếu gió mạnh với tốc độ 200-250km/giờ chắc còn dữ dội hơn, mưa to gío lớn chừng vài ba ngày ắt bị tàn phá dữ dội hơn. Đấy là nói về Chư Thiên, còn Chư Địa Thần nếu họ nổi giận còn khủng khiếp nhiều và kết quả tai hại thật không lường được!

    Thời Hạ Kiếp này, duyên căn từ bi, bác ái của Thánh Đế, nếu sẵn sàng chịu hy sinh chết thay cho chúng sinh, cũng không đổi thay được tâm ý của các lãnh tụ, vua, chúa đi ba đường ác. Họ không nghe, họ không tu Thiện bậc Thánh Đế cũng đành chịu, thần thông cũng không thắng nổi ma lực. Duyên căn này phải theo thời thế, theo trình độ biến hóa của Ác Căn, khiến Bậc đoạt Diệu Quả Phật như Đức Di Lạc không thể ngồi yên bỏ mặc cho chúng sinh sống trong u minh, trong trầm luân biển khổ được. Ngài phải diệu dụng thần thông Tam Muội để tận độ chúng sinh đồng thời cũng cảm hóa chúng sinh ngổ nghịch. Đó là chân lý Tối Thượng Thừa hàng Thánh Đế không đủ công năng công đức thực hiện được.






    Ngài ban Hịch chứng minh này, Chư Bồ Tát, Chư Hộ Pháp, Chư Thiên, Chư Thần... phải giúp đỡ với một tinh thần bình đẳng những bậc lãnh đạo quốc gia cùng thuộc cấp, giữa thiện và ác được nhận định rõ ràng. Nếu ác căn bậc vô hình ở trong thể Ngài cần làm cho họ Thức Tỉnh mà Hồi Hướng Thiện. Đây là lệnh cho nhân sinh và cho Tam Thiên Đại Thiên Thế Giới cần sự sống thanh bình, cái quyền sống hồn nhiên thoải mái không được xâm phạm.

    Các khoa học gia, các nhà lãnh đạo nên nhớ rằng: mỗi vị Thần, Thiên, Hộ Pháp... vô hình, họ có một quyền lực tự nhiên siêu hình không nghĩ bàn. Trí tuệ các khoa học gia chế tạo bom nguyên tử, bom khinh khí, bom Neutron, bom vi trùng, bom hóa học phải tốn rất nhiều công sức, nếu đem so với một vị Thần không thấm vào đâu. Vì có thực quyền Tối Thượng, lại có sức mạnh vô địch mầu nhiệm nên Đức Tịnh Vương hóa thân Đức Di Lạc mới ra lệnh để họ thể hiện tinh thần từ bi tạo công đức tu hành. Những vị Thần họ tôn sùng Chư Phật, Bồ Tát một cách tuyệt đối vì họ rất trọng đạo và quả vị tu chứng. Họ ứng trực bên Ngài đông vô số.

    Trong thời Hạ Lai Mạt Kiếp này Đức Di Lạc đã chứng kiến từ năm 1975 cho đến nay người dân bị trị được phép hưởng ân huệ là mọi sinh hoạt thường ngày đều bị quy định quá mức khắt khe như quyền cư trú, "quyền có miệng ăn mà không có miệng nói." Đặc biệt là sự tu hành tạo đạo đức cũng bị quy định và không được phát huy. Trên thực tế tu thực hiện đúng chân lý mới có đạo đức, nếu dễ dàng như ý con người suy nghĩ rồi quy định, sao lịch sử còn ghi chép, qua nhiều triều đại các bậc Thánh Nhân ra đời điều chỉnh và dạy dỗ cho chúng sinh luôn giữ Thiện Căn làm chi?

    Kinh sách khai mở Cho chúng sinh tu cầu Tri Kiến Giải Thoát của Đức Ngài trước 1975 chánh quyền cộng sản không cho phổ biến, cũng không cho phép in. Một hôm tứ chúng Sàigòn dùng dụng cụ thủ công in quyển “Giáo Lý Trên Con Đường Giải Thoát” bị tịch thu. Chính quyền làm dữ, mỗi người bị giam 3 năm tù. Thân nhân làm đơn xin mãi 2 năm sau mới được tha. Còn tôi công an bắt và chỉ mặt “Tao cho mày ở tù 10 năm khổ sai cho mày biết mặt.” Đức Ngài phải kêu gọi Long Thần Hộ Pháp giải cho tôi ra khỏi nhà tù lần thứ hai. Lần thứ nhất bị đi cải tạo 42 tháng.

    Sau khi quyển kinh bị tịch thu, công an đưa cho Sư của nhà nước đọc. Ban Phật giáo nhà nước đọc không hiểu. Kết luận là tà đạo và chúng tôi bị bắt giam. Còn Đức Tịnh Vương hóa thân Đức Di Lạc ở Nha Trang công an thành phố đến bắt, lúc đó Ngài bị mệt và hôn mê đang truyền “nước biển”. Họ ngồi chờ bắt. Long Thần Hộ Pháp canh giữ Ngài đi hóa giải, liền có pháp thuận đến an lành vi diệu nơi Tịnh Thất Ngài. Ngài thoát tù. Sau công an đến canh, hạch hỏi Ngài là chuyện thường như cơm bữa. Có lần họ nói: ông nhớ là tôi bắt giam ông lúc nào cũng được. Kỳ Hạ Lai hành đạo này Đức Di Lạc bị Ma Vương, Quỉ Vương và con cháu của chúng đem Ngài lên dàn hoả nướng lăn qua trở lại rồi cho vào miệng ăn nhưng nóng quá không ăn được, nhiều lần làm như vậy không xong buộc lòng phải thả Ngài.

    Từng ngày qua ngày, Ngài vẫn kiên trì dạy đạo, chừng vài ba chân tử đến một lúc và chia nhau từng đợt. Chân tử các tỉnh Huế, Đà Nẵng, Qui Nhơn, Nha Trang, Sàigòn đều phải theo một tổ chức trật tự như vậy. Do đó ngày nào Ngài cũng khai đạo không hề có một phút ngừng nghỉ. Một hôm có một ông thân hào nhân sĩ đến thăm và hỏi Ngài có ngủ không?

    Ngài trả lời: “Ông thấy đó, ban ngày Tôi lo dạy đạo cho Tứ Chúng tu hành, từng nhóm, từng đợt suốt ngày, đêm đến tối Tôi xuất Chánh Định đi các nơi trên địa cầu và các Cõi ngoài địa cầu dạy đạo, chỉ buổi trưa Tôi nằm ngủ một giờ để dưỡng thân cho nó nghỉ khỏe nên tối đến Tôi đâu có giờ nào để ngủ.”

    Thật vậy, Bậc Chánh Giác lúc nào cũng Vô Thượng Đẳng Trí nên ngày cũng như đêm đều tịnh, ngày và đêm tuy hai mà một. Tối và sáng chỉ là một nên không có cái ngủ như ngày thường. Đó là một điều mà khoa học khó tin nhưng có thật.

    Còn những ngày đại lễ của Pháp Tạng Phật Giáo Việt Nam, tại Trung Ương Hội Thượng ở Nha Trang, Ngài ngồi bán già nhập chánh định thường xuyên để kêu gọi Long Thần Hộ Pháp đi canh giữ các nơi trong thành phố. Đại diện Hộ Pháp, Tôn Giả cùng Tín Chúng các tỉnh về dự có trên 100 vị. Long Thần Hộ Pháp làm mưa dầm, bầu trời u ám, gió thổi lạnh suốt buổi trước giờ hành lể. Nhà nhà tự động đóng cửa, ngoài đường vắng người, công an, an ninh đi tránh mưa ngủ nghỉ. Trong lúc đó Tứ Chúng Pháp Tạng từ các nẻo đường của thành phố Nha Trang ăn mặc chỉnh tề, đi trong mưa gió về dự đại lễ ở nhà Ngài. Xong tất cả đều trật tự giải tán từng người một ra khỏi nơi hành lễ, không một ai lảng vảng trước cửa nhà Ngài nữa. Nếu có chân tử quên, ban tổ chức liền nhắc nhở. Xong Đại Lễ trời trong, mây tan, mưa tạnh thật mát mẻ thoải mái. Mỗi lần như vậy Chư Thiên, Hộ Pháp Vô Hình, Chư Thần lo bên ngoài. Còn hàng Hộ Pháp Hữu Hình lo mặt tổ chức bên trong không để sơ hở một việc nhỏ. Ai là chân tử Ngài đều tự giác yên lặng, giữ gìn.

    Nếu là người Việt Nam thời mạt pháp này đều biết, chùa còn không có người được phép lai vãng huống chi nhà của dân chúng người lạ mặt tập trung chừng 3 người thăm chơi với nhau cũng đều gặp nhiều trắc trở không tả hết được. Bậc nắm quyền quá ư lầm lẫn, tưởng mình khi chết là mất, nào ngờ đồng hợp bị Hoả Ngục treo chịu cực hình. Chỉ có bậc Trí Tuệ Thiền Định thật biết tỉ mỉ. Cứ một kiếp như thế được thai sanh làm người trở lại quá khó.

    Ngài từng dạy: Thời Hạ Lai Mạt Pháp này quá khó đắp xây lại nền Chánh Pháp nhưng Ngài vẫn tinh tấn với đầy đủ Vô Thượng Đẳng Trí.Cũng trong khoảng thời gian bức màn lửa bao trùm, rất nhiều bậc tu thấy khó khăn đã vượt biên ra làm đạo ở nước ngoài. Mà thật vậy trí không siêu đẳng cũng không kham làm đạo nổi, ở Việt Nam cũng phải đành bó tay. Ngài dạy chúng tôi, Pháp khó bỏ, dễ làm là còn chọn lựa nếu có thành Phật cũng là Phật Giới tức Bích Chi Phật hay Độc Giác Phật. Quả nhỏ lắm còn thua xa Bồ Tát ở lại kiên dũng vừa tu vừa đời còn có ngày thành Phật với Diệu Quả Bồ Đề, nếu một khi đã vào Phật Giới thật khó thoát ra được. Có nhiều trường hợp ở đến a tăng kỳ kiếp mà cũng không hề hay biết mình đã thọ giới.

    Trừ trường hợp bậc này lìa ngã, lìa sở hữu may ra còn có ngày được gặp Bậc Diệu Quả Bồ Đề cứu độ tu hành tiếp.

    Nói chung ở Việt Nam thời bấy giờ về kinh tế, môi trường, văn hóa, giáo dục, chính trị đều bị khủng hoảng. Còn tôn giáo bị bế tắc, tất cả đều bắt nguồn từ Liên Xô. Người dân cũng bị khủng hoảng tinh thần nên ào ạt chạy trốn khỏi nước bằng cách vượt biển. Theo thống kê quốc tế cứ trung bình bốn người ra đi chỉ đến được có một người, còn chết và mất tích ba người. Riêng tại Hoa Kỳ hiện nay có một triệu người Việt sinh sống như vậy đã có gần ba triệu người đã chết giữa biển khơi và đường bộ ở biên giới Cambodge. Đấy là chỉ tính một nước Hoa Kỳ, còn tất cả các nước khác trên thế giới ngày nay hầu như nước nào cũng có người Việt Nam. Số chết và cảnh tượng đau thương, mất mát còn vĩ đại không bút mực tả hết được.

    Còn cuộc phân ly Nam Bắc suốt 21 năm thống kê cũng tạm cho khoảng 3.200.000 người Việt bị tử thương, chưa kể thương binh còn sống nhưng bị bất lực cũng là nỗi đau khổ triền miên của họ. Còn biết bao gia đình bị đau khổ nữa.

    Lần đầu tiên Ngài ngồi khóc vì thương chúng sinh trong nước, ngoài nước. Các chân tử thấy thế hoảng sợ vội hỏi. Ngài bảo: “Chính quyền miền Bắc đối xử với người miền Nam như người nô lệ.”


    Cùng lúc đó các vị tu Tiên ở núi Thất Sơn thuộc Châu Đốc họ nhận biết được liền báo cho chúng sinh và học trò họ là Phật Di Lạc đang khóc cho chúng sinh thời Hạ Kiếp này. Thật họ cũng giỏi nhưng tu theo Định Tưởng chớ không biết lối tu chân lý thực tiễn nên cũng không gặp Ngài được. Họ chụp hình được, thấy ảnh nhưng không vào được cảnh, không sống trong cảnh nên không tiếp xúc được người trong cảnh cũng như chúng ta thấy được phim ảnh trong tivi nhưng không tiếp xúc được, không đến được nơi để xem và trò chuyện với những nhân vật, cảnh vật thực.

    Nhận định sâu sắc và bình đẳng nghĩa là trước thảm kịch mà Liên Xô đã gieo cho nhân loại nói chung cho dân tộc Việt Nam nói riêng và chính bản thân Đức Ngài, một hôm trước Tam Thế Ngài thắp bảy cây nhang trầm thề nguyện quyết tận độ chúng sinh an lành.


    Từ đó Ngài thường xuất định mỗi đêm đi Liên Xô, Hoa Kỳ... cùng với Long Thần Hộ Pháp Vô Hình kêu gọi Địa Thần ở thủ đô Matxcova và các Địa Thần, Thiên Thần đến các nước Đông Âu giúp đỡ, công bằng giúp đỡ. Riêng tại Liên Xô Địa Thần đã tìm và “cấy” cho Ngài một nhân vật có bộ óc “Tư Duy Mới” và có thực quyền để Ngài kín nhiệm xoay chuyển cuộc thế đem đến tự do cho nhân loại.

    Lúc đó tôi còn nhớ rõ Ngài bảo: “Nếu tôi không làm Liên Xô thức tỉnh hồi hướng, thảm họa chiến tranh thứ ba sẽ không tránh được, hậu quả sẽ không lường hết được cho nhân loài và các sinh vật trên quả địa cầu này.”./-


    14. Với đài phát thanh BBC



    Mỗi buổi sáng đúng 6 giờ đài phát thanh BBC từ Luân Đôn, Anh Quốc phát nhạc hiệu loan tin tức quốc tế và một bài bình luận thời sự. Thường lệ cứ đúng 6 giờ sáng, Ngài mở chiếc radio National nhỏ, nghe tin tức các nước. Nhờ đài này mang nhiều tin tức quốc tế quan trọng, loan truyền đúng đắn mà tối đến Ngài xuất định thị hiện những nơi cần thiết ở Nam và Bắc bán cầu điều động Chư Thiên, Địa Thần, Long Thần hóa giải tốt đẹp cho rất nhiều vấn đề.


    Phép nhiệm mầu kỳ diệu mang tầm vóc thế kỷ đến. Tại chính trường Liên Xô, đầu năm 1985 đã xuất hiện một ngôi sao sáng ông Mk. Gorbachev làm đảo lộn tình hình thế giới. Khi nắm giữ trọn đảng Cộng Sản và có thực quyền nhà nước Liên Bang Xô Viết, ông đổi mới tư duy của Đảng đã có từ thời đầu cuộc cách mạng Liên Xô.


    Đối ngoại bình thường hóa quan hệ ngoại giao với Cộng Sản Trung Hoa, bang giao với Hoa Kỳ và chủ trương đối thoại với các cường quốc thay cho đương đầu làm thế giới không còn bị đe dọa bởi chiến tranh. Năm 1991 Cộng Sản Liên Bang Xô Viết rã rời từng mảnh sau trận cuồng phong chính trị. Nay chỉ còn các xứ Cộng Hòa sống theo đường lối tự do và kinh doanh thị trường. Do đổi mới tư duy dẫn đến sự kiện đảo chánh bất thành ở thủ đô Matxcova tháng 10 năm 1991 kết quả làm cho đảng Cộng Sản Liên Bang Xô Viết phải giải tán.


    Ngài theo dõi tình hình diễn biến qua đài BBC loan tin, đôi khi Ngài báo trước việc sẽ đến, sau đó đài BBC loan tin đúng y. Tháng 12 năm 1991 biến cố lịch sử quan trọng diễn ra một lần nữa ở Matxcova đã dẫn đến sụp đổ nhanh chóng chế độ Cộng Sản Liên Bang Xô Viết vừa tròn 74 mùa Xuân, nay đã biến thành mùa Đông ảm đạm đầy u buồn cho người Cộng Sản.


    Chỉ có một đêm của tháng 12/1991 đầy kỷ niệm mà sáng ra tóc Ngài đã bạc trắng. Lúc này Ngài đã 73 tuổi. Lá cờ màu đỏ “búa liềm” gác chéo nhau, biểu tượng cho giới công nhân của Cộng Sản đã nhường chỗ cho lá cờ “ba màu” của Liên Bang Nga kéo lên đầy vẻ kiêu hùng trên nóc điện Kremlin.


    Rồi đài BBC loan tin Quốc Hội Liên Xô muốn đảo ngược bánh xe tiến hóa lịch sử trở lại. Ngài cười tuy vậy Ngài vẫn tiếp tục nhập Chánh Định quán xuyến và xuất định đi hóa giải.


    Tháng 10 năm 1992 sự cố rối loạn gây bất ổn ở Matxcova đã khiến Tổng Thống Yeltsin giải tán Quốc Hội Liên Xô đã có từ năm 1936 và được tu chỉnh năm 1977. Thế là lớp người chuyên chế cuối cùng của quá khứ đã ra đi. Từ đó trở về sau này thế giới dần dần đi đến thanh bình và không ai cản trở được đà tiến hóa tốt đẹp của nhân loại.


    Sự đe dọa từ các nước Cộng Sản Đông Âu và Cộng Sản Liên Xô nay không còn nữa mà đã trở thành các nước tự do sống theo quy chế thị trường. Nhờ đài BBC loan tin, từ thành phố Nha Trang xa xôi mà những quốc gia từ Phương Tây tạo nguy hiểm như Tự Do và Cộng Sản, đua nhau sản xuất vũ khí hóa học, vi trùng học, bom khinh khí, bom Neutron, bom nguyên tử, đã được Đức Tịnh Vương Nhất Tôn hóa thân Đức Di Lạc quan tâm hóa giải. Ngày nay đã ký hiệp ước đình sản xuất và tiêu hủy mà trước đó không ai ngờ rằng sự chung sống hòa bình này lại có thể xảy ra mà nó đã xảy ra thật. Nhân loại đều công nhận Đệ Tam Thế Chiến đã không còn đe dọa nó vĩnh viễn trở thành chuyện của quá khứ.


    Ngày nay chỉ còn mỗi nước, anh em trong một nhà tranh giành nhau và nạn “Đại ca” cũng được Liên Hiệp Quốc quan tâm ổn định. Thế giới cũng đã xóa bỏ chế độ phân biệt chủng tộc, cảnh áp bức và đè ép dân đều bị quốc tế lên án, không được chấp nhận.


    Theo Hịch chứng minh của Đức Tịnh Vương Nhất Tôn-Đương Lai Hạ Sanh Tôn Phật đã ký ban hành ẩn danh chính Đức Di Lạc với Phật Lực đầy lòng Đại Bi đã làm cho “chúng sinh chưa hồi hướng nên giúp đỡ hồi hướng" được Chư Bồ Tát, Chư Thiên, Chư Thần, Chư Hộ Pháp vô hình giúp đỡ, thiện cũng giúp mà ác cũng giúp, nhân loại đã được an lành và Xuân Di Lạc đem lại an vui hạnh phúc cho cuộc diện chung của thế giới.


    “Chỉ trừ trường hợp”... chúng sanh, lãnh tụ vì cá tánh bảo thủ ác căn, nghiệt căn sẽ được Hộ Pháp vô hình kiên nhẫn giúp đỡ.


    Tỷ như đứa trẻ con nghịch ngợm ưa chơi đùa với lửa gần bồn xăng. Ông cha thấy nguy hiểm vì thương con nên bảo: Con ơi! con đừng chơi với lửa gần xăng, nguy hiểm lắm! Có ngày chết cháy và tiêu hủy cả xóm làng! Đứa trẻ nghe lời vừa đi vừa đọc: Con ơi! con đừng chơi với lửa sẽ bị chết cháy. Miệng nó cứ đọc nhưng tay nó vẫn đùa giỡn với lửa, ông cha thấy năm lần bảy lượt đứa con chưa ý thức được sự tác hại của lửa có thể làm tiêu hủy cả xóm làng, ông cầm cây roi đánh vào mông nó một cái thật đau, đứa trẻ con bị đau quá hoảng sợ, về sau nó không dám đùa giỡn với lửa và mỗi lần thấy lửa là nó sợ.


    Hàng xóm nhìn ông cha khuyên dạy con ôn tồn, họ bảo ông cha này nhân từ quá, nhưng hôm nay thấy ông cha đánh con họ bảo: Ông cha này ác, không phải người tu hành chân chính, họ phê phán chỉ trích. Còn phần ông cha thương con, cứu cả xóm làng đành chịu tiếng thị phi!


    Tháng 4 năm 1986 lò nguyên tử ở Chernobyl của Liên Xô nổ dân chúng trong vùng chạy hỗn loạn, mạnh ai nấy chạy thoát thân, đến nỗi cha, con, chồng, vợ cũng mạnh ai nấy chạy, chạy thật xa tránh phóng xạ, thứ bụi quá độc ác, nó không chừa một ai khi đã dính vào nó, cuộc đời kể như tàn. Không những chỉ con người mà ngay cả sinh vật khác cũng không còn và biết bao nhiêu bào thai dị dạng khi sinh ra đã làm cho dân Liên Xô kinh hoàng. Đến nay khi nhớ lại, không những chỉ dân chúng Liên Xô mà cả loài người vẫn còn hú hồn hú vía!


    Sự kiện lò nguyên tử nổ, đã làm Liên Xô và Hoa Kỳ quyết tâm lôi kéo thế giới đi đến hiệp ước cấm phổ biến vũ khí nguyên tử và vũ khí giết người hàng loạt, góp phần xây dựng kiến tạo Hòa Bình. Những năm gần đây còn có hiệp định phá hủy những vũ khí đã có. Ngài rất an lòng tin tưởng được rằng: “Ngón tay Ta chỉ Chư Hầu đều vâng” thể hiện được Phật Lực có một không hai trong thời Hạ Lai Mạt Kiếp này. Cách đây 2539 năm Phật Lịch, Thái Tử Tất Đạt Đa đã ra đời ở Ấn Độ. Năm 19 tuổi Ngài nhận thức được Sanh-Lão-Bệnh-Tử làm cho chúng sinh đau khổ, chỉ có con đường giải thoát sinh tử luân hồi là hết khổ. Ngài liền bỏ cung vàng điện ngọc, vợ đẹp con ngoan, quyết chí xuất gia tìm đạo. Qua bao gian khổ Ngài đoạt Chánh Giác thành Phật, hiệu Bổn Sư Thích Ca Mâu Ni Phật. Ngài hoá độ tất cả chúng sinh theo con đường “Giải Thoát Sanh Tử Luân Hồi”, đủ tất cả tầng lớp, không phân biệt giàu nghèo, sang hèn của xã hội thời bấy giờ. Một người gánh phân thuộc giai cấp thấp hèn nhất của xã hội thời đó, tu hành đắc đạo Thánh cũng được vua và giới quyền quý kính trọng. Ngài đã giải phóng nô lệ, xóa bỏ phân biệt giai cấp. Tất cả người dân đều được bình đẳng và tự do. Ngài đã khai thị: “Tất cả chúng sinh đều có Phật Tánh”


    Ngài còn làm cho chúng sinh vững niềm tin hơn khi khai thị: “Ta là Phật đã thành chúng sinh là Phật sẽ thành” để chúng sinh quyết noi gương Ngài tu hành thành Chánh Đẳng Chánh Giác mà thoát sanh tử luân hồi. Trong 49 năm hành đạo, Ngài đã đào tạo được hàng Bồ Tát giác ngộ rốt ráo, hàng A La Hán, Tôn Giả giác ngộ và lưu lại Tam Tạng Kinh Điển cho hàng Thánh Chúng giúp chỉ đạo sinh tử cho chúng sinh.

    Ngài chăm sóc khai thị hàng Bồ Tát biết Xuất Nhập Chánh Định để thực hiện Siêu Thiện, pháp của Phật Thừa. Hàng A La hán, Tôn Giả giác ngộ đạo Thánh Hiền thực hiện Thiện căn, pháp của Đại Thừa. Còn đối với chúng sinh Ngài đã đem lòng Đại Bi hòa đồng, trong lúc xã hội bấy giờ phân biệt giai cấp quá khắt khe. Ngài phải diệu dụng đi khất thực (xin ăn) để thể hiện Ngài và lớp người cùng đinh là một.

    Ngài đã thọ ký Đức Di Lạc Hạ Lai tận độ chúng sinh thời Mạt Kiếp cũng là Mạt Pháp. Đức Di Lạc đã đến ta bà thế giới này, Ngài cũng khai đạo, giải quyết sanh tử luân hồi, chánh giác thoát khỏi vũ trụ, làm chủ vũ trụ và tận độ chúng sinh theo con đường Đức Bổn Sư đã đi.


    Ngài cũng lưu lại hàng Thánh Chúng: Bồ Tát, A la Hán, Tôn Giả cũng lưu lại Tam Tạng Kinh. Ngài xuất nhập chánh định, vào thời đại khoa học, thời nguyên tử âm thầm dập tắt lò lửa khổng lồ của quả địa cầu đang bùng cháy chờ ngày tận thế, ngày tiêu diệt tứ loài của hai khối Tự Do và Cộng Sản. Để lưu lại cho Tam Thiên Đại Thiên Thế Giới, Ngài cũng tâm ấn, dìu dắt Bồ Tát xuất nhập chánh định tam muội để nối tiếp Chư Phật giữ gìn chánh pháp tận độ chúng sinh. Hai câu thơ Ngài ghi bút biện minh việc tận độ chúng sinh hiện đại nhất, độc đáo nhất của Ngài:


    Ngoài ra còn các Giáo Chủ của các Tôn Giáo trên qủa địa cầu này khai đạo cũng đem lòng từ bi, bác ái cứu chúng sinh. Những vị này, chịu đựng vạn pháp giỏi, tiên tri giỏi, thần thông phép lạ thần kỳ làm vượt sức hiểu biết của loài người nên được loài người tôn sùng nhưng hầu hết chưa đạt đến mức Xuất Nhập Chánh Định Tam Muội. Do đó dạy được người làm lành lánh dữ đạt tới Thánh Hiền giác ngộ là cao nhất.

    Gặp chúng sinh lãnh đạo ác căn, nghiệt căn không nghe cũng đành chịu, cuối cùng đem tình thương hy sinh thân mạng để chuộc lỗi lầm cho họ. Thật tuyệt mỹ thay, thật cao cả thay cho bậc Thánh Hiền. Nhưng tình thương sự chịu đựng cao cả này còn ở mức Điều Ngự Trượng Phu. Tức tâm tánh cao thượng hơn con người, được phước báo chết sẽ về cõi Trời.


    Đường lối giáo hóa từ bi bác ái này đã được lịch sử nhân loại ghi chép lại cách đây 4000 năm hay 5000 năm trước, tiền thân Đức Phật Thích Ca cũng đã từng hy sinh thân mạng vì lòng từ bi, bác ái cứu chúng sinh đã thể hiện bằng hành động như vậy. Kiếp sau cùng cách đây 2539 năm Phật Lịch, Đức Phật Thích Ca không dùng đường lối Thánh Hiền một chiều nữa vì đó không phải là con đường giác ngộ rốt ráo.

    Như Đề Bà Đạt Đa bậc Đại Cường Căn cố ý giết Ngài, Ngài tránh và không có một chút vướng động tâm chí Đại Cường, lại còn xem Đề Bà Đạt Đa là phẩm trợ đạo nghịch duyên. Ngài còn chứng minh Đề Bà Đạt Đa thành Phật danh hiệu, dạy hàng nhị thừa A La Hán đến duyên giác, chứ không phải chánh giác Phật, chỉ khi nào Đức Trí Tương Song khi bấy giờ mới chánh giác. Đức Bổn Sư Thích Ca Mâu Ni Phật cần kim thân này hoàn tất việc tận độ chúng sinh đặng thành Chánh Quả Phật nên Ngài tránh không để bị giết. Bậc giác ngộ Thánh Hiền dụng thiện căn còn bậc giác ngộ rốt ráo chờ viên mãn gọi là Chánh Giác. Bậc này không Thiện mà cũng chẳng Ác, không hiền mà cũng chẳng dữ gọi là viên dung, đầy từ bi, bác ái kèm đại chí, đại dũng gọi là siêu thiện nên hạnh nguyện qua rất nhiều trở lực tận độ chúng sinh và thành quả Phật.


    Từ bậc Thánh Hiền giác ngộ đến giác ngộ rốt ráo chân lý thật khó khăn vô kể. Phải thực hành Bát Nhã để thấu đạt Bát Nhã Trí mới mong kiến diện Như Lai (Thượng Đế) lúc đó mới được Như Lai hiện thân chỉ đạo cho hạnh mguyện. Bậc Thánh Hiền biết được Như Lai (Thượng Đế) nhưng chưa đến mức gặp Như Lai được. Thật không thể nghĩ bàn. Thánh còn Tướng. Như Lai, Phật không Tướng. Chánh giác là Tướng Phật là Như Lai hay Thượng Đế. Do đó, bậc Thánh Hiền ma quỷ còn biết và gặp. Bậc Chánh giác khi ẩn khi hiện Ma Phật, Phật Ma nên chúng không sao tìm ra, dù có vào gặp cũng không nhận ra được.


    Thời Hạ Lai Mạt Pháp này Đức Tịnh Vương hóa thân Đức Di Lạc thừa biết khi con người đã sử dụng được nguyên tử thì kỹ thuật giết hại bất cứ ai cũng rất tinh vi. Ngài phải thị hiện cư sĩ y như người dân. Ngài tiên tri được tất cả việc quá khứ, vị lai nhưng Ngài chỉ cho chân tử thâm tình biết để tu hành. Thần thông quảng đại mầu nhiệm Ngài có nhưng chỉ thể hiện để độ những chân tử nghi chấp mà phá được chấp. Lòng đại bi có thừa nhưng Ngài kín nhiệm ẩn mật, dụng xuất chánh định đi khắp nơi giải oan nghiệp cho chúng sinh bị áp bức. Ngài dụng Phật lực bình đẳng an nhiên tự tại, ma lực dù có tài giỏi đến đâu cũng không tìm ra vết chân Ngài đã thị hiện tận độ tứ loài.


    Việc xuất nhập chánh định của Ngài làm kẻ ác, hung hãn phải chùn bước thất vọng ê chề. Cuối cùng cũng hồi hướng quay về cái Thiện và chung sống hòa bình. Có lần đài BBC loan tin về Afghanistan sau diễn biến dồn dập, cuối cùng Liên Xô đưa quân và lập chính quyền thân Liên Xô, Ngài biết ý định của Liên Xô là sẽ chiếm cả bán đảo Balkan. Ngài nói: Tối nay Tôi đi Afghanistan. Sau đó lực lượng du kích trong nước được khối tự do yểm trợ đã làm Liên Xô hao tiền tốn của khá nhiều. Cuối cùng Liên Xô phải rút quân về nước. Ngày nay chỉ còn nội chiến. Bán đảo Balkan không còn Liên Xô một cách kỳ bí mà thế giới không một chút hay biết. Ngài hài lòng về đài BBC và khen những bài bình luận của các bình luận gia ở đài này. Tiếc rằng trong thời còn Ngài đài BBC chỉ phát thanh buổi sáng có 15 phút vừa tin tức vừa một bài bình luận. Khi Ngài nhập Bát Đại Niết Bàn đài này mới phát thanh buổi sáng lên 30 phút.


    Có một sự kiện đặc biệt, còn một tuần cuối trước khi ra đi, vì Ngài thị hiện bệnh để ra đi, không có giờ nghe tin, khi tôi từ Sàigòn đi Nha Trang thăm Ngài, Ngài vội hỏi tin tức của đài này phát trong tuần qua có gì đặc biệt. Ngài chăm chú nghe và tỏ ra hài lòng về những diễn biến thuận lợi Hòa bình của nhân loại. Rồi đến lò lửa ở Trung Đông, những sự kiện thời sự quan trọng có ảnh nhưởng đến sự sống còn của hàng triệu người, Ngài đều quan tâm, Xuất Chánh Định Tam Muội công bằng giúp đỡ. Sau đó những kết quả Ngài làm kín nhiệm, đều được đài BBC loan tin đúng y chỉ thị của Ngài.


    Đài BBC phát thanh từ thủ đô London của Vương Quốc Anh đã đóng góp một phần quan trọng trong việc lập lại hòa bình, ổn định cho nhân loại và đặc biệt cho nền tự do của quả địa cầu này. Một điều hiếm có, tuy Ngài ở một chỗ, chỉ nghe đài BBC loan tin tổng quát một vấn đề, Ngài liền nhập chánh định biết chi tiết tất cả, không có thiếu sót và với Nhãn Tạng Tam Muội Định Ngài thấy tất cả diễn lại trước mặt như ở hiện trường nên Ngài quân minh hóa giải không hề có một chút nhầm lẫn cũng không hề ép bất cứ một nhân vật nào, một cá nhân nào. Còn cái nghe dù xa đến mấy nghìn km cũng như gần.


    Hàng ngày thời giờ đối với Ngài rất quý và ít khi có giờ rảnh trừ buổi trưa một giờ để ngủ và buổi sáng 15 phút nghe đài BBC, giờ còn lại dành khai đạo cho tứ chúng có khi đến 9 giờ tối mới dứt. Ngài làm việc và hóa đạo rất cơ cực vì phải chia từng nhóm nhỏ lui tới chui rúc nên giảng giải rất nhiều đợt trong ngày. Sức khỏe người thường sẽ không kham lãnh nỗi, nhưng có một điều mầu nhiệm là càng khai thị Phật Pháp Ngài càng khỏe, không hề có mệt, chỉ trừ chân tử thiếu tinh tấn Ngài mới mệt một vài phút rồi Ngài cho chân tử đó ra về và không quên kèm theo lời khuyên nhủ ôn tồn. Ai gặp Ngài cũng đều quý và thích nên dù khó khăn đến đâu cũng cố làm việc để dành tiền từ các tỉnh đi Nha Trang viếng Ngài thọ lãnh pháp.


    Còn đài VOA, đài tiếng nói Hoa Kỳ, cái radio của Ngài và tôi ở miền Nam Việt Nam, khi mở ra ban đầu nghe tiếng nhỏ, sau 10 đến 15 phút dần dần nghe nhỏ rồi mất tiếng hẳn không còn nghe được nữa chỉ còn đài BBC giúp Ngài hữu hiệu mà thôi.


    Mùa đông năm 1992, Ngài đi du lịch sang thủ đô Vương Quốc Anh, thăm những chân tử của Ngài trước 1975 đã tu theo con đường Tri Kiến Giải Thoát, họ vượt biển nay sinh sống ở Anh Quốc. Lúc Ngài sang thăm mùa đông ở London rất lạnh, bầu trời đầy mây u ám, cảnh vật buồn, bỗng có một ngày trong sáng, không còn mây mù, nắng ấm sưởi khắp vạn vật, chim muông ríu rít đùa giỡn trên cành cây. Đài BBC loan tin, mùa đông sao hôm nay trời trở sang xuân như có phép mầu nhiệm. Đài BBC đâu có biết rằng chính lúc đó Đức Tịnh Vương hoá thân Đức Di Lạc đã diệu dụng thần thông cho chân tử của Ngài chứng kiến và tin rằng khi một bậc tu đã chánh giác nếu có chúng sinh nào biết tin vâng kính đều được ban cho như ý nguyện. Trước khi diệu dụng Ngài cũng đã báo cho các chân tử ở Pháp Bảo London nghe trước. Chuyện này đối với các chân tử ở Việt Nam là chuyện cỏn con không đáng kể đối với Ngài.


    Tại Hoa Kỳ, số chân tử tu theo Ngài cũng từ Việt Nam vượt biển sang sinh sống, nhiều nhất là ở California. Đại diện của họ cũng đi London vấn an sức khỏe Ngài. Họ bảo lãnh Ngài đi du lịch sang thăm Hoa Kỳ nhưng Bộ Ngoại Giao Hoa Kỳ từ chối vì lúc này Hoa Kỳ không ưa người trong nước Việt Nam. Sau tất cả các chân tử của Ngài ở Hoa Kỳ đồng ký tên, thỉnh nguyện đơn một lần nữa, chính phủ Hoa Kỳ nhất định bác bỏ.


    Ở Việt Nam trước khi đi London tôi nghe Ngài bảo với tôi như vầy. Sang Hoa Kỳ thăm tứ chúng, nhân tiện Ngài nhập chánh định xem xét giúp cho vùng California tránh động đất vì vùng này thường xảy ra động đất. Đồng thời chính là chứng minh phúc lành cho đất nước Hoa Kỳ... Ngài đâu phải cần đi du lịch mà chỉ muốn đến nơi đầu tàu của thế giới tự do trước khi về nước vào Bát Đại Niết Bàn. Chính tôi cũng còn nghe Ngài bảo sẽ giúp Anh Quốc. Theo chỗ tôi biết lúc còn ở Nha Trang, mỗi ngày đến thọ lãnh pháp, Ngài thường dụng thần thông giúp cho tránh thiên tai như bão tố, động đất, mùa màng, thóc lúa được mùa...


    Thật đáng tiếc cho Hoa Kỳ! Đối với Tây Phương, khoa học lấy bộ óc con người tìm tòi, rồi đem hiện vật hợp hóa để khám phá vũ trụ. Đối với Đông Phương Thiền Sư, bậc Chánh Giác nhập Chánh Định Tam Muội trực tiếp gặp ngay giới vô hình ở trong quả địa cầu và trong Tam Thiên Đại Thiên Thế Giới là chuyện thường xuyên. Do đức độ của bậc này mà Chư Thiên, Chư Tiên, Chư Thần, Chư Hộ Pháp, Chư Long Thần, Chư Hộ Pháp Bồ Tát... sẵn sàng thi hành lập công đức để cầu sở đắc chân lý.


    Lúc chuẩn bị đi London, Ngài bảo tôi nên đi Hoa kỳ, đem mối đạo của Ngài giúp cho người Tây Phương và cho những người Việt thân yêu phải xa quê cha đất tổ, sống ở xứ người trên khắp Năm Châu để họ có lẽ sống thật, nhất là lúc tuổi già họ được an vui biết mình chết sẽ đi về đâu! Ngài sinh ra tại Việt Nam, Ngài muốn an ủi người Việt Nam.


    Tôi lập hồ sơ đi Hoa Kỳ diện HO 38, lúc đó Ngài bảo với tôi Ngài cũng đi. Câu nói với ẩn ngữ! Ngài nhập Niết Bàn năm 1993. Năm 1994 tôi vào phỏng vấn. Nhân viên di trú Hoa Kỳ trả lời giấy cải tạo giả. Tôi trình bày, nhiều người bạn cùng bị bắt đi cải tạo chung một ngày với tôi, ở chung một phòng giam, lao động chung một đội và được thả về cùng một lúc. Tất cả là 42 tháng, nay họ đã đi Hoa Kỳ cũng loại giấy cải tạo này. Nhân viên di trú Hoa Kỳ không nghe tôi giải thích và bác. Thì ra bộ nhớ máy vi tính của Hoa Kỳ tối tân mà cũng còn sai số lớn.


    Trường hợp Đức Tịnh Vương hóa thân Đức Di Lạc mở biết bao pháp kinh thiên động địa, sao Ngài không kêu gọi Long Thần Hộ Pháp vô hình lo cho đi thăm Hoa Kỳ? Chắc ai nghe cũng thắc mắc! Ngài giải thích pháp này tôi nghe như vầy: Muốn cứu độ một chúng sinh nào một điều gì, chúng sinh đó hoặc thân nhân cần hồi hướng mở rộng Tâm tạo công đức mới có nhân duyên cứu độ được. Chi phí chuyến đi, chân tử Ngài ở Hoa Kỳ đã lo sẵn, chỉ cần chánh phủ Hoa Kỳ mở tâm rộng rãi chấp thuận Ngài sang đó, như nhiên hóa giải được việc an lành cho Hoa Kỳ. Kinh Phật có câu để nhớ đời: “Phật bất hóa độ vô duyên, bất hóa độ định nghiệp.”

    Còn trường hợp của Ngài ở Việt Nam, Ngài bảo lúc nào Ngài cũng sống trong tâm trạng “là một người dân mà hình thức là người tù” nên Ngài phải bình đẳng tháo gở độc nhiễm cho toàn dân Liên Xô được tự do, cho thế giới được an cư lạc nghiệp. Một hôm Ngài nghe đài BBC loan tin, con gái của Stalin, lãnh tụ số một của Liên Xô, cô sống ở Hoa Kỳ tuyên bố rằng: Chẳng lẽ có vài tay lãnh đạo độc ác mà cả mấy trăm triệu con người phải chịu sống trong cảnh khổ đau đè ép mãi sao?

    Nghe xong Ngài bảo: “Đó là chứng nhân thực tại, là nhân duyên. Tôi phải thực hiện bình đẳng mà bất bình đẳng”. Nó là nguyện vọng đang âm ỷ và nỗi thổn thức của người dân sống trong chế độ Cộng Sản Liên Xô mà cũng là nguyện vọng chung cho cả nhân loại trên quả địa cầu này nữa. Bình đẳng cho nhân loại sống yên ổn –Bất bình đẳng cho giai cấp cầm quyền cai trị người dân dưới chế độ Cộng Sản Liên Xô. Đó là chân lý vô sanh, chân lý Thượng Thừa mà cũng chính là chân lý tối cao của Như Lai tức Thượng Đế. Nó là chân lý thực tiễn thể hiện được vẹn toàn:

    Thì ra người con gái thuộc giai cấp số một, sống một cuộc đời vương quyền đầy đủ thế lực, dưới trướng cha mình, vẫn thấy sự đàn áp kỳ quái làm bà không đè nén nổi lòng thèm khát dân chủ và tự do! Trong lúc đó chư vị Tiên, Thần, Hộ pháp ở miền Nam rao giảng kinh sấm đúng Đức Tịnh Vương hóa thân Đức Di Lạc đang vận chuyển vạn pháp tự tại, không thiên vị.


    "Sẽ rõ biết Long Hoa Đại Hội

    Cân công bằng chẳng mối vị tư"


    Kinh sấm cũng biết việc Ngài tận độ chúng sinh có kết quả dù chư vị Hộ Pháp ở miền Nam chưa tìm được Ngài ở đâu.

    "Long Hoa Đại Hội nhà bàn

    Thương thay những kẻ bạo tàn còn chi!"


    Sau Liên Xô và Đông Âu, những người còn lại cũng hồi hướng đổi mới cốt yếu làm xoa dịu một phần nào nỗi thống khổ, điêu linh của người dân. Còn người thiện căn được chư Phật giúp an lành. Kinh sấm:


    "Lũ gian ác vô cùng sợ hãi

    Người lương hiền chậm rãi bước đi

    Nhờ ơn các bậc thần kỳ

    Thương người trung hậu hộ trì bình an."


    Tham chiếu Hịch chứng minh vũ trụ trên, chúng ta đã sơ lược việc tận độ chúng sinh của Đức Tịnh Vương hóa thân Đức Di Lạc mang lại hiệu quả kẻ ác căn bậc thiện căn đều được lợi lạc không những cho chính họ mà còn cho cả các giới đồng chủng nữa.


    Còn những chúng sinh bảo thủ ác căn, nghiệt căn không tự sửa chữa lỗi lầm cũng đã được và sẽ được cho trở về nơi đồng loại của họ ở thế giới địa ngục để tiếp tục sống và lãnh nghiệp quả do chính họ tạo ra. Cuộc sống mà thường ngày diễn ra y như ở thế gian họ đã gây tạo thì nay họ lại nhận chịu và bị đè ép, bị cấm nói năng, bị khổ đau như ý của họ muốn làm gọi là như ý nguyện.


    Tăng Chủ Nhất Tôn: Chức vụ tối cao của Pháp Tạng Phật Giáo Việt Nam. Đại diện Tam Thế có trọng trách chỉnh trang Phật Đạo và đem lại tự do cho tứ loài trong Tam Thiên Đại Thiên Thế Giới.


    Đương Lai Hạ Sanh Tôn Phật: ý chỉ kín nhiệm Đương Lai Hạ Sanh Di Lạc Tôn Phật.

    Chứng minh: Chứng kiến rõ ràng và sáng suốt lòng dạ, tâm tánh con người thời Mạt Pháp.


    Ấn: Ấn chứng.


    Quyết: Quyết định.


    Đây là lệnh Tối Thượng Đại diện Tam Thế Phật còn gọi là đại diện Như Lai, còn gọi đại diện Thượng Đế có quyền ban lệnh: Các cấp Thiên, Nhân, Thần, Hộ Pháp, Long Thần ở thế giới và các cõi khác loài người phải hộ trì.


    Chúng ta đã thấy kết quả, loài người ngày nay sống không còn lo nạn Đệ Tam Thế Chiến, không còn hai khối đe doạ tiêu diệt nhau, các nước nhược tiểu bị áp bức như Á Phi, Cận Đông, Mỹ La Tinh, sau giấc ngủ dài đã thức tỉnh, đồng loạt đứng lên đòi lại tự do, thoát khỏi đè ép.


    Quyền lực Tối Thượng này có thực, chúng sinh không thể nghĩ bàn. Điều này cũng chẳng phải giả thuyết để người khoa học bình phẩm vì Ngài cho bảy hành tinh hiện cùng một lúc theo ý muốn thì câu chuyện về quả địa cầu của chúng sinh chỉ là một hành tinh quá nhỏ bé đối với Phật Lực của Ngài. Bốn câu thơ do Ngài ghi bút:

    TA chẳng phải vì vua trong một nước.

    Cũng không làm Bá-Tước Hầu-Vương.

    Quyền uy siêu đẳng bất nhường.

    Trang nghiêm Quốc-Độ, Phật thường tới lui.

    Kiếp này Ngài Hạ Lai không phải làm vua mà nhiệm vụ chỉnh trang Phật Đạo rất nặng nề và quá khó khăn. Ngài lại hiện thân trong gia đình nghèo, gia cảnh cha mẹ lúc nào cũng túng thiếu. Ý nghĩa từ tận cùng tiến dần lên trong đời sống cho hợp thời Hạ Lai này. Ngài bảo ông phải biết: Đi với Phật mặc áo cà sa đi với Ma mặc áo giấy. Thời này mà mặc áo cà sa, ở trong chùa dạy đạo được nhiều người tôn sùng mến mộ là bị giết. Khi hiện Ma khi hiện Phật ở trong thế gian, ma quỷ có giáp mặt cũng không tìm ra.


    Số đông bậc tu đều y kinh, dựa vào kinh và cho rằng tướng Phật đều đẹp. Nhờ nghĩ 32 tướng tốt là Phật nên khi công an vào gặp thấy một con mắt Ngài bị lệch, họ không những xem thường mà còn cười bảo: Cái lũ ngu này theo ông Thọ bị bùa mê mà còn cho ổng là Phật. Họ nạt nộ tôi và nói chê bai cho đến ngày nay tôi còn nhớ rất rõ: Con ngáo ộp mà anh cho là Phật hả? Anh phải đi cải tạo lâu dài mới tảy óc anh được, cho sạch cái mê tín này đi. Khi đi cải tạo về Ngài đã nghe hết và khai thị cho tôi: “Người ta xem thường mình, mình cũng phải tỏ ra là tầm thường nhưng mình là cái rốn của vũ trụ”./-


    15. Mãi mãi là bài học nhớ đời



    Bài học nhớ đời cho hiện tại và mãi mãi cho hậu lai.


    Vào khoảng năm 1980, một hôm ở số 42 đường Hồng Bàng Nha Trang, có một bà chân tử Pháp Tạng ở xa về thăm Đức Tịnh Vương. Sau khi đảnh lễ và vấn an sức khỏe Ngài, bà thưa rằng:


    – Từ năm 1975 đến nay, con nghe nói hai đến ba lần, nhưng mới đây có người thân ở ngoài Bắc Việt Nam vào thăm, họ nói câu chuyện nghe qua con không tin và nghĩ rằng: chắc ở ngoài Bắc dân sống quá khắc khổ nên họ ghét người Cộng Sãn rồi đặt điều nói thêm. Lần đầu tiên con đi xe đò ra Bắc thăm bà con, khi xe chạy ngang qua địa phận tỉnh Hà Nam Ninh, chính tận mắt con trông thấy trên vách tường có viết hàng chữ lớn:



    *Thằng trời hãy đứng một bên

    Để cho nông hội đứng lên thay trời


    Lúc đó con mới tin họ nói thật. Con còn được nghe nói các chùa ở miền Bắc, tượng Phật được vứt ngổn ngang trong xó trông rất dơ bẩn. Tượng nào bằng đồng, cán bộ cộng sản đem đúc vũ khí súng, đạn.


    Lúc bà kể tôi cũng có mặt. Ngài làm thinh không đề cập gì đến chuyện này và bảo bà, thời này nên tu hành sửa tánh. Khi bà ta đảnh lễ Ngài ra về tôi thấy Ngài đứng lên sửa soạn y áo chỉnh tề, đốt bảy cây nhang trầm cắm trên bàn Tam Thế. Bảy cây nhang biện minh cho bảy báu quyền lực siêu đẳng bất nhường của Chư Phật mười phương.

    Ngài chứng minh cho thời Mạt Pháp, các pháp ngỗ nghịch tận cùng của chúng sinh gọi là tận thế. Chúng sinh dùng hai bàn tay và trí tuệ làm nên sự nghiệp không tin có Phật thì không có linh ứng là đúng với họ. Hành động thách thức Chư Phật, Thánh, Thần, các vị cũng hỷ xả chẳng chấp, nhưng trồng cam chăm sóc, vun xới ra cây cam, trái cam ngon ngọt. Trồng ớt chăm sóc ra trái ớt cay là như thế, không thể đổ lỗi cho ai, tại sao?


    Hàng động, lời nói, ý nghĩ của mỗi chúng sinh qua rồi ai cũng tưởng nó không còn nữa. Đối với Thiền sư hiểu rõ nó không hề mất một ly. Nó cất giữ hành động, lời nói, ý nghĩ của mỗi chúng sinh trong từng ô của Như Lai tạng, đến thời điểm nó như nhiên trả lại cho chúng sinh. Mới đây khoa học cũng khám phá ra, họ bảo lời nói, hành động của con người không mất, nó chạy vòng trong không gian của vũ trụ.

    Những năm sau đó, báo chí Hà Nội không dấu hết được, thỉnh thoảng đăng tin: Miền Bắc Việt nam liên tiếp đương đầu với các trận thiên tai, bão tố, lũ lụt được mô tả là hung hãn nhất thế kỷ, thiên nhiên cay nghiệt nhất thế kỷ đã tàn phá dữ dội chưa từng thấy trong lịch sử phát triển và tồn tại của người dân Việt Nam, gây mất mát nặng nề về vật chất cho miền Bắc, đặc biệt kéo theo sự tổn thương nặng nề về tinh thần làm họ rất lo lắng, hãi hùng.


    Có khi báo đăng: Thiên nhiên không ưu đãi ta. Ta phải cảnh giác phòng bão chống bão. Dưới mắt Thiền sư phòng tránh thì được còn chống sao được? Mười năm sau, tôi còn nhớ năm ấy là năm 1989, một buổi sáng đẹp trời Ngài bảo tôi nghe như vầy: “Bây giờ thiên hạ họ tin Phật, đi chùa trở lại đông lắm.”


    Chính chúng sinh, tánh càng xấu, càng độc nhiễm, không hấp thu được nguyên tinh là chất sống trong vũ trụ rất cần thiết. Tuổi thọ của con người bị giảm đi. Nếu để yên, tánh xấu mỗi lúc một tăng, tuổi thọ của loài người giảm cho đến khi còn 10 tuổi là một kiếp, do đó Chư Phật phải cứu một cách kín nhiệm cho họ lìa bỏ độc nhiễm. Tánh con người tốt sẽ hấp thụ nhiều nguyên tinh, tuổi thọ tăng dần trở lại.

    Chánh giác là bậc đã làm chủ con đường sanh tử, đã trở thành bất tử nó thuộc con đường Phật Thừa Tối Thượng. Bậc này không ghét cũng chẳng thương, không thiện cũng chẳng ác. Bậc này thường diệu dụng đem cái tốt, cái siêu thiện tuyệt mỹ cho chúng sinh là đủ. Bậc Thánh Hiền ở vị trí giác chân lý chỉ là học trò, không đủ sức thực hiện nổi nên dù cho có ở một bên cũng không thấu hiểu việc tận độ chúng sinh của Chư-Phật, Như-Lai, Thượng-Đế được.


    • Tiếng rên rỉ thành oán khí xông khắp Trời xanh Đức Di Lạc ra tay tận độ

    Ai là người dân Việt dù ở thành phố hay chốn thôn quê, có cuộc sống quen tập tục cha ông để lại, mà nghe nói bỏ xứ sở đi đến một nơi rừng núi âm u, nước độc là không gì sợ hãi bằng!


    Nói đến chương trình kinh tế mới của miền Bắc áp đặt lên dân miền Nam, đến nay ai nghe qua đều phải bỏ chạy. Thật vậy tình hình kinh tế, đời sống miền Nam Việt Nam đang ổn định, đến năm 1975 cho đến nhiều năm về sau khi Cộng Sản miền Bắc chiếm được miền Nam, thực hiện theo chế độ vô sản của Liên Xô đã làm cho miền Nam mau chóng suy đồi, kiệt quệ. Từ nhà nhà cho đến xã hội, bỗng tiêu điều buồn bã một cách dị thường.


    Người dân bị cưỡng bức đi kinh tế mới, rừng chưa được khai phá, đường sá đi lại chưa mở, nếu có cũng đường đất, đến mùa mưa đi lại quá khó khăn, xe đò lưu thông rất hạn chế. Khí hậu độc, nước cũng độc, gia đình nào bị đi kinh tế mới cũng đều có người bị bệnh sốt rét, chứng bệnh hiểm nghèo này ở các quốc gia chậm tiến như Việt Nam không đủ thuốc men chữa trị lành bệnh được. Thuốc nội địa không đủ mạnh để cứu chữa. Hầu như ai mắc phải căn bệnh này trong vùng kinh tế mới đều bị chết.


    Nhà nước Cộng Sản phân loại: Gia đình chế độ cũ có người đi quân đội, công chức, gia đình buôn bán lớn cũng như nhỏ, miền Nam có khối gia đình thuộc dạng này, gia đình thuộc dạng tư sản, gia đình trí thức không dùng được. Tất cả thành phần này đều phải đi kinh tế mới theo lệnh cưỡng chế.


    Chính quyền Cộng Sản lúc bấy giờ đã có kế hoạch đưa gia đình cán bộ ngoài Bắc vào trám chỗ trống những nhà miền Nam để xây dựng những thành phố đại kỷ nghệ theo quỹ đạo của Cộng Sản Liên Xô. Những gia đình bị đi kinh tế mới chỉ một, hai năm trồng trọt thất bại bị đói họ chạy về thành phố vì không còn nhà nên sống lang thang các vỉa hè khắp thành phố các tỉnh miền Nam.


    Trước nổi kêu thống khổ của người dân Ngài ái hoài, ai có khả năng cũng đều lo chạy đi vượt biển. Số còn lại vô phương phải bị đi kinh tế mới. Tâm lý chung của thời này, hễ nghe nói đến tên gia đình nào bị bắt buộc đi kinh tế mới họ xem như là một đại họa, thà chết vượt biển chớ cùng đường phải bị đi kinh tế mới. Ai đi không lọt ruổi bị sa lưới về là bị tịch thu nhà, tài sản, và còn lại một con đường bị đưa đi kinh tế mới.


    Lại một hôm, có một gia đình là chân tử Pháp Tạng tu theo Ngài từ trước 1975 chạy về kêu cứu và thưa với Đức Tịnh Vương rằng: xóm nhà đường Tân Trang thuộc bên hông chợ đầm Nha Trang, đang bị công an và du kích địa phương đến dỡ nhà gần 100 gia đình, đem xe chở bắt buộc phải đi kinh tế mới. Ngày mai họ sẽ dỡ bỏ nhà người chân tử của Ngài. Ngài ngồi bán già, trong tư thế Chánh Định ở Tịnh Thất số 42 đường Hồng Bàng Nha Trang.


    Sáng ngày hôm sau, công an và du kích địa phương đến chuẩn bị vô dỡ nhà tiếp, bỗng ông Lê Duẩn, người lãnh đạo số một của Cộng Sản Việt Nam từ Hà Nội vừa vào thăm thành phố Nha Trang ông đi ngang qua khu chợ Đầm, chợt thấy đồ đạc ngổn ngang, dân thì ngồi khóc, ông Lê Duẩn mới hỏi chuyện gì mà khóc. Sau khi nghe dân kể, ông quay lại la ông Tỉnh Ủy –"Mấy chú làm ăn cái gì lạ vậy, nhà chưa cất, chưa chuẩn bị gì mà bắt người ta lên đó cho chết hả." La rầy xong ông bảo: "Thôi ngưng đừng đưa đi kinh tế mới kiểu này nữa" .


    Thế là những người ngồi khóc họ reo hò, vui mừng chạy vào dựng nhà lại khỏi đi kinh tế mới. Nhà người chân tử Ngài cũng được yên. Sau vụ hóa giải này Ngài theo dõi, chờ xem chính quyền có thay đổi kế hoạch không, nhưng sau đó tình hình chung cả miền Nam vẫn tiếp tục bị cưỡng bức đi kinh tế mới.


    Ngài nhập chánh định yêu cầu Chư Thiên cứu độ người dân miền Nam xong Ngài xả Chánh Định. Năm 1977 toàn nước Việt Nam bị hạn hán, mùa màng bị hư hại chết khô vì thiếu nước, chỗ nào còn nước thì rầy tàn phá cũng khá nặng nề, lương thực dự trữ cũng bị cạn. Đến năm 1978 hạn hán kéo dài, dân cả nước bị đói, người dân kinh tế mới ăn cả củ chuối để sống qua ngày. Đến lúc củ chuối cũng không còn, họ ăn lá cây. Đói quá họ chạy đến các cơ quan của nhà nước ở kinh tế mới xin cán bộ giúp cho gạo để sống đỡ nhưng tất cả gạo, ngô, khoai đều không còn.


    Lúc bấy giờ người đảng viên Cộng Sản không kiềm chế và quản lý ngươi dân được nữa. Tất cả đều tháo chạy về thành phố, ở đầy các vỉa hè dọc đường phố, hình dáng, áo quần rách rưới lang thang. Tỉnh nào cũng đầy người ở kinh tế mới bị nạn đói chạy về sống ở vỉa hè đường phố. Còn nhà của dân khi bị bắt đi kinh tế mới số đông đã bán rẻ như cho không những người cán bộ. Chỉ cần một hay hai chỉ vàng là mua được một căn nhà, thậm chí có nhiều nơi người dân chỉ lấy tôn, cây, còn cả cái giàn nhà vách gạch xây bỏ trống, chỉ xin phường, khóm là có nhà rất dễ dàng.

    Tiếng oán than của người dân lan tràn, họ chạy vào chùa cầu xin, lễ Phật trở lại như trước rất đông. Ở thế bắt buộc không sao tiếp tục cưỡng bức người đi kinh tế mới, cộng sản phải cho ngưng chương trình này. Dân cũng giảm cường độ chạy đi vượt biển. Ngày nay người dân miền Nam được sống yên ổn ở thành phố, không phải bị đi kinh tế mới đều do lòng Đại Bi thương xót chúng sinh mà Đức Tịnh Vương hóa thân Đức Di Lạc đã ra tay nâng đỡ Đạo Đời.


    Nếu Chư Thiên, Long Thần Hộ Pháp không ra tay, để đến khi hàng triệu người chết ở rừng sâu nước độc mà Nhà Nước thấy cái sai, sửa sai thử hỏi còn mấy ai sống được? Như cái gương sờ sờ trước mắt Tây Bá Lợi Á của Cộng Sản Liên Xô, cả triệu người chết, gia đình đau khổ, ly tan không một chút động tâm sao gọi là cách mạng được./-


    16. Sự tái sinh của chúng sanh



    Đức Tịnh Vương hóa thân Đức Di Lạc xác nhận có sự tái sinh.


    Khoa học càng phát triển, càng văn minh tiến bộ chừng nào thì khoa học càng đem cái tiện nghi sung sướng cho con người chừng ấy. Do một số người chưa hiểu thấu đáo đã nảy sinh nghi ngờ về thuyết sanh tử luân hồi, nhất là ở Phương Tây. Đức Bổn Sư Thích Ca Mâu Ni Phật khi đã được chánh giác, Ngài thấy tất cả chúng sinh đều sanh diệt, rồi diệt sanh triền miên trong sanh tử luân hồi không lúc nào dứt. Ngài lại tường tận thấy người cao sang kẻ hèn hạ, người đẹp kẻ xấu, người sung sướng kẻ khốn cùng đều thọ báo bình đẳng theo những hành vi tạo tác của chúng sinh.

    Ngài cũng đã từng khai thị: Chính ái nịch, ái dục đưa chúng sinh đi sanh tử luân hồi. Ngài còn bảo: Đây là kiếp cuối cùng của Như Lai. Từ đây Như Lai không còn tái sinh nữa. Với lòng Đại Bi thương chúng sinh trầm luân trong biển sanh tử, mà Ngài đã giáo hóa trong 49 năm cốt cho chúng sinh thấy được lầm lỗi của vô minh mà lo tu hành theo con đường Chánh Giác để thoát khỏi sinh tử.


    Nay là thế kỷ 20, Đức Di Lạc nối truyền Chánh Pháp giữa lúc khoa học kỹ thuật của Tây Phương phát triển cực thịnh, Ngài đã ghi lại sự tái sinh của chúng sinh để cho thế gian biết lo lắng cho kiếp sống sinh tử mà cố tinh tấn tu hành:

    “
    –"Khi con người hấp hối, thì tiềm thức (hồn khôn) đã có một phần nào xuống hoặc lên ở một cõi nào rồi, còn phần xác đang nằm trên giường bệnh hấp hối. Tiềm thức nó lần lượt xuất, lúc trong thân con người xuất, nó không khác nào hơi khói trong thân bốc lên cứ tuần tự bốc lên mãi đến khi hết cả đầy đủ tiềm thức thì Vía Dại gọi là cặn bả nghiệp thức nó nhập xuống dưới chân giường, con người liền tắt hơi, cặn bã nghiệp thức họ thường gọi là: HỒN THƯ. Đối với con người lúc sanh tiền đang còn sống nó có KHÔN và DẠI nên mới có Hồn Khôn, Vía Dại. Cái Vía Dại này nó rất ảnh hưởng đối với con người, thoát sanh mau chậm hay còn ái nịch luyến tiếc bà con giòng họ của cải nhiều ít đều do nó lôi cuốn cả.


    Khi tiềm thức bốc lên hư không, Tiềm Thức là một Chất Thanh, còn HỒN THƯ gọi là Vía Dại là Chất Thô, chất Thanh đang còn tập nhiễm nhiều ít chất Thô nên chi Tiềm Thức đã bốc lên hư không, nhưng vì tập nhiễm thành thử chưa dứt khoát về cõi đã sẵn mà thoát sanh hoàn mỹ. Nếu gặp đặng Thiền sư vị này chỉ nhìn vào xác chết đương nhiên hai bên không còn vướng vấp nhau nữa. Bằng gặp đặng bậc Đại Đức (Tôn Giả) lấy công đức nơi mình chú nguyện tự nhiên cũng đặng như trên.

    Nên nhớ khi trong nhà tang chủ có người chết không còn có âm khí buồn lạnh đó là cuộc thoát sanh hoàn mỹ, nếu còn âm khí u buồn thì vẫn còn vong linh Tiềm Thức lai vãng, phải chú nguyện đặng thoát sanh.



    Các ông cũng nên biết Tiềm Thức thanh chất nó có đặc tánh di chuyển đến nơi chánh báo hoặc chịu báo để kết nạp với Tiểu Ngã nơi cõi hoặc cảnh giới đó, còn HỒN THƯ VÍA DẠI nó nằm yên với Tiểu Ngã đã để lại kết nạp an trụ đứng yên. Cũng như con người đang ở cõi NHÂN được sanh lên cõi Trời. Còn HỒN THƯ VÍA DẠI, nó ở lại CÕI NHÂN kết nạp với TIỂU NGÃ nhân pháp mà an trú. Chờ chừng nào bậc kia đoạt Vô Thượng Đẳng Chánh Giác, gọi là ĐẠI NGÃ BÁT ĐẠI thì chung gồm bá thiên vạn ức tiểu ngã thảy đặng trở về kết chung với BÁT ĐẠI gọi là Hoàn Mỹ, hoặc Chân Thiện Mỹ Hoàn Lai cũng thế.



    Đối với con người tốt, hiền lành Đạo Đức đồng với Quảng Đại Quang Minh, dù cho di chuyển bằng cách nào đi nữa, đến 49 ngày vẫn được thoát sanh, trừ trường hợp ái nịch quá trớn, vong linh lai vãng quá nhiều thì bị sanh lộn kiếp ở trong gia đình. Như bà nội thương cháu nhiều không nở thoát sanh, lưu trú vãng lai thời bà nội lại đầu thai làm em của cháu nội hay làm con của con mình, trường hợp này rất nhiều do ái nịch bị sanh lộn kiếp"
    –T.V.


    Năm nay tính theo Phật Lịch đã là năm 2539 ai còn nghiên cứu, học hỏi cho rằng con người chết là hết đã hoàn toàn lầm lẫn. Con chó nó thấy con người sống lâu hơn nó, nó tưởng rằng con người không chết. Con người nghe nói ông Thần sống lâu con người cũng tưởng ông Thần không chết. Con người nghe nói ông Tiên sống lâu, con người cũng lầm, tưởng rằng ông Tiên không chết. Ông Tiên thấy ông Phật Bích Chi hay A LA Hán sống lâu, ông Tiên cũng lầm tưởng ông Phật không chết.

    Tất cả có tuổi thọ ngắn, dài khác nhau đều chết. Cho nên con người tưởng rằng về cõi Trời sống đời đời không chết là một lầm lẫn. Có cõi Trời sống đến hai ngàn (2000) tuổi một kiếp là cao. Không ai sống đời đời cả. Trừ bậc Vô Thượng Đẵng Chánh Giác tức Như Lai - Phật - Thượng Đế mới không còn sanh tử nữa mà thôi. Bậc Thánh được về cõi Trời sống được khoảng hai ngàn (2000) tuổi cũng phải chết lai trần tu hành tiếp, có Cõi Trời sống lâu hơn mười ngàn (10.000) tuổi một kiếp.



    • Người Thiện Căn Chết Thoát Sinh Như Thế Nào?


    Khi con người lúc còn sống tạo tánh tình hiền lành, hay giúp đỡ người khác không cầu lợi, người này tạo được phước, tuy họ chưa ý thức tu hành, họ không theo tôn giáo nào cả, chỉ hiếu thảo, thờ cúng ông bà, thương yêu cha mẹ lúc lâm chung, người này tùy giai cấp, tùy phước đức đã tạo nhiều ít từ trước, họ gặp duyên lành đặng thoát sanh vào nơi phước báo tốt đẹp, sống an nhàn.

    Còn có những người lúc còn sống tánh tốt, hay giúp đỡ mọi người, thường đi chùa lễ Phật hay đi nhà thờ cầu kinh, hiếu thảo cha mẹ, ông bà. Những người này lúc lâm chung tùy phước đức đã tạo, gặp được duyên lành đặng thoát sinh vào nơi cao qúy, nơi này có chùa hoặc nhà thờ khi lớn lên đến tuổi bỗng thích đi chùa hoặc nhà thờ như đã hành động ở kiếp quá khứ.


    Còn người tu sửa tánh xấu, bỏ đố tật xấu, thường hỷ xả, gặp hoàn cảnh khó lo hóa giải, lúc lâm chung được đại duyên lành đặng thoát sinh nơi cao qúy, làm con nhà qúy tộc, được gặp bậc Thiện Trí Thức dạy tu tự tánh tỏ tánh, sống được an lạc.

    • Người Ác Căn Chết Thoát Sinh Như Thế Nào?



    “Khi con người lúc còn sống tánh ác nghiệt bị sanh chịu cơ cực hình không kể hết nổi. Nếu là người dân thường thì tội cá nhân chỉ lãnh một kiếp. Còn đối với vua, lãnh tụ, quan quyền một khi đã ác nghiệt phê chỉ làm cho hàng triệu con người phải lầm than đói khổ, làm cho người dân bỏ quê cha đất tổ chạy, gây bao cảnh đau thương mới nên tội A Tỳ Địa Ngục. Vì lẽ ấy mà bậc Minh Vương bậc Vĩ Đại cứu tinh mỗi lần phê chỉ ban hành thảy đều xem xét kỹ càng ích nước lợi dân mới dám phê chỉ.”
    –T.V.


    Ban hành điều ác nghiệt sau lúc lâm chung đang nằm trong phủ Chủ Thủ, dù có đông đủ các cận thần hầu hạ chăng, lãnh tụ cũng bị những người dân chết oan, chết đau khổ họ cầm gươm, đao đến đâm chém, tiềm thức (hồn oan) lãnh tụ vẫn nghe la ó, hò hét, sợ hãi, miệng lẩm bẩm nói sảng vội vàng chạy trốn, dân chúng chết trong đau khổ đuổi theo hạch tội, xiềng xích lãnh tụ, mang về nhốt vào ngục tối A Tỳ Vô Gián.

    A Tỳ Vô Gián là cõi cuộc sống bị áp đặt quá khắc nghiệt, ăn, uống, sinh hoạt luôn có sự giành giựt, không tôn trọng lẽ phải, nơi này không có chùa, đình, miếu, nên ai mạnh người đó được no, luật pháp không được áp dụng, chỉ có luật riêng của mỗi cá nhân là mạnh. Đặc biệt không hề biết gì nhân quyền chớ chẳng phải không có nhân quyền.


    Nơi A Tỳ Địa Ngục con người luôn sống trong cảnh rùng rợn của sự tra tấn dã man, nhiều cảnh tra khảo hỏi tội còn khủng khiếp hơn nữa, không bao giờ kể hết những tội mà lãnh tụ và các tham quan hà lạm, hoặc lừa dối dân.

    Nói đến cái chết ai nghe qua cũng sợ vì đối với con người sống lo âu, chết sợ sệt là lẽ thường. Còn đối với kẻ bảo chết là hết nên ở thế gian thường liều không sợ gì cả. Con người chết xuống cõi âm hay đến cảnh giới nào họ không bao giờ nhớ họ từ đâu tới. Họ vẫn tưởng ở cõi âm hoặc cảnh giới nó đang ở. Họ quên hẳn họ từ thế gian đến, họ sống tâm trạng như người khách, không hề nhớ ở thế gian mình có vợ, chồng, con cái, thủ lãnh... họ cũng không nhớ nhà cửa, của cải chi cả. Nó cứ đi lang thang mãi. Đến một lúc có một màng bao phủ chụp vào người nó, nó bất tỉnh đó là nó được vào thai.


    “Đối với thế gian này cũng như thế, nếu có người nào ở cõi Thiên hay Cõi Âm hoặc Cõi Thần đến lúc mãn phần về Cõi Nhân, họ cũng ngỡ rằng mình ở nhân thế, họ vẫn đi rông đến khi nhập thai bị sanh họ thảy đều quên bản thân của họ ở đâu đến đây, đó chính là một cuộc thay đổi từng nơi này, đến cảnh nọ để mà sanh tử.” –T.V.

    Muốn biết con người khi chết sanh về đâu, chỉ quan sát lúc còn sống từ hành động đến lời nói gây phước điền hay gieo ác căn làm nhiều người đau khổ. Căn cứ vào đó mới xác định đúng đắn họ chết sẽ sanh về đâu rất thực tế không phải do ảo tưởng hay dối trá được.


    “Không khác nào với bậc dược sĩ pha các chất chế tạo từng món thuốc, chất gì pha với chất chi được gọi là môn thuốc để trị nhất định mỗi bệnh. Khi con người chết được sanh hay chịu sanh nó cũng tùy theo phẩm dược, tùy nơi chất phẩm đắng cay ngọt bùi nơi nó, lúc còn sống tạo thành mà vào cõi hay các cảnh giới đồng hợp với nó, nó liền hóa sanh nơi cõi ấy hoặc cảnh giới ấy sướng khổ tùy theo được sanh hoặc chịu sanh cũng thế.


    Theo thói thường con người, lúc lâm bệnh nó có hai trường hợp đem con người thoát sanh, trường hợp thứ nhất con người bị đau NỘI THƯƠNG thuộc về đau THÂN XÁC, trường hợp thứ hai đau về THƯƠNG HÀN cảm nặng thuộc về TRÍ GIÁC. Hai trường hợp này thường hay bị con người lý đoán về cái chết nơi con người.


    Lúc bị đau về THƯƠNG HÀN mê man bất tỉnh, miệng nói lẩm bẩm, sau khi chết, họ cho là người này chết sẽ bị tội chịu sanh khổ sở. Còn có người đau về thân mạng Nội Thương, lúc chết tỉnh táo, nói năng tỏ rõ, họ cho sẽ đặng lên Thiên Đàng hay cõi Trời. Hai lý đoán như thế không thật thảy đều sai chạy.



    Nếu con người tự nhận biết được tỏ rõ, sau khi chết sẽ về đâu, thời nên biết lúc còn sống tạo cho đặng PHƯỚC ĐIỀN, tạo cho đặng ĐỨC TÁNH cùng nung đúc tấm lòng nhân đạo chính mình biết thương nơi khổ cực của mọi người, cũng như thương thân mạng mình, chính mình nên đem lời an ủi giúp đỡ cho những người chung quanh mình đã từng bị khổ, làm cho họ đặng an vui ví như mình an vui. Con người cứ làm như thế thời con người ấy sau khi tuổi già có lâm vào tình trạng mắc bệnh THẦN KINH, lúc lâm chung cũng thoát sanh lên cõi Thần hay cõi Thiên. Tâm trí họ liền sáng suốt, còn chứng thần kinh kia nó liền trả lại cho con bệnh thần kinh, chớ không vướng mắc gì đến Chánh Báo thân mạng, đó chính là lời chân thật vậy.


    Con người đang ở hiện tại rất cần xây dựng đứng thứ nhất. Bậc đã tạo đặng cơ bản, bản năng làm con người chân chất cao đẹp, dù cho sau này chết bằng cách gì đi nữa cũng đặng Chánh Báo khang trang chớ không bao giờ bị sa địa ngục, ngạ qủy, súc sanh đâu mà sợ, làm con người hiếm người biết xét lại công việc mình đã làm thất đức, hiếm bậc gặp trường hợp họ gây tạo ác nghiệt đến nơi mình mà chính mình tha thứ cho họ.”
    –T.V.


    Vui mình hưởng mình phải lo cái khổ của người dân, khi họ than phiền kêu la, mình phải xét lại hành động thiện hay ác mà dân phải kêu la. Người dân vô tội không đứng bên này hay bên kia bị khổ sao gọi là anh hùng trưởng thượng được. Con người ở trong giới không bao giờ thấy cái sai của giới mình hết được. Ngoài giới mới thấy. Do như vậy ở trong giới thấy sai, sửa sai liền có cái sai khác. Nếu có lớp người ngoài giới họ chỉ cái sai, cùng nhau sửa sai, đi đến chung cuộc tốt đẹp để cho dân khỏi than phiền trách móc. Đó mới là chân lý. Như các nước Tây Phương tiến bộ nhanh chóng, dân ấm no là nhờ vậy.


    Bậc trưởng thượng về mặt tín ngưỡng không phân biệt tôn giáo nào, nếu tôn giáo nào dạy con người tín tâm biết làm điều thiện, biết kiên nhẫn, có lòng thương người mình nên để yên, không nên buộc phải làm như thế này, phải làm như thế nọ. Bậc trưởng thượng cai trị dân như thế này khi lâm chung sẽ được Phước Báo Nhân Thiên.

    Người cho đàn cháu sát sanh thân mạng, lúc lâm chung thường bị loài mình giết đến đòi mạng, nếu không tin có Thần Thánh, giết bậc tu có đức độ cao hậu qủa ở địa ngục nhiều đời kiếp khổ sở không kể xiết. Đoạn kinh sau đây do Đức Tịnh Vương Nhất Tôn hóa thân Đức Di lạc ghi lại:


    “Ta đã từng nhập vào chánh định, đã từng gặp các Chư Thần ở cõi Trời hay cứu giúp nhân gian, từ Thần Hoàng đến Thần Miếu qua Thần Thánh lại Thánh Quân cùng Thánh Mẫu thảy đều phàn nàn phiền trách với Ta rằng: Kính thưa Thiền Sư. Chúng tôi toàn Chánh Trực Quang Minh Thần. Chúng tôi không thiếu chi món ẩm thực hương vị ngạt ngào cao qúy, thanh thoát thơm tho. Chúng tôi thấy dương gian gây tạo ác nghiệp nên có ác căn tai nạn xảy đến cho họ liên miên. Họ lại có lòng thờ phụng cung kính van cầu chúng tôi, chúng tôi động lòng ra tay cứu độ cho họ thoát khỏi tai ách.


    Mỗi lần chúng tôi giáng trần, đến nơi đình miếu thì hỡi ơi! Trước mặt chúng tôi họ đặt rất nhiều xác chết, thiêu đốt luộc quay. Chúng tôi làm sao nói đặng? Đứng nơi lòng thành hòa lẫn ác nghiệp, buộc lòng chúng tôi cứu nạn với lòng thành. Con người họ vì tục lệ, họ vì ưa thích nên họ tưởng chúng tôi ưa thích gà vịt, heo quay, bò tái, rượu nếp, canh xôi thật ra chẳng biết nói sao hơn, việc đó chưa phải tín chủ mà bọn tế lễ tham ăn dục lợi, khiến con người phải làm như thế. Chúng tôi mong Thiền Sư đương thời Hạ Lai này, nói lên lời nói giúp chúng tôi khỏi phải mang tiếng tế thần bằng lối sát sanh như vậy, thưa gởi xong liền chầu Trời.”
    –T.V.


    Còn bậc Thánh dù bị đánh đập, bị hành hạ trong lúc lâm nạn không hờn giận kẻ đối phương, dù thoát sinh bằng lối xác thân khổ đau vẫn được đầy đủ chánh báo về với Như Lai. Tỷ như kẻ vua quan đóng đinh Chúa Jésus trên cây, sau phải bị mất nước, rời bỏ quê hương, bị đọa đầy. Đó chẳng phải là tấm gương để cho bậc lãnh đạo và con cháu làm bài học nhớ đời đó sao!


    Khi còn đang cải tạo ở Đá Bàn năm 1976, lúc đang lao động, tôi gặp ông Thần Núi Đá Bàn đến muốn giúp đỡ. Tôi trả lời không cần và để xem sức tôi chịu gian khổ tới mức nào. Đến khi chuyển trại ở A.30 Tuy Hòa tôi cũng thường gặp Thần Núi khác đến vấn an nhưng tôi cũng không cần nhờ giúp. Người Vô Hình, Thần, Long Thần thân họ kết bằng mây, y như khói kết lại thành thân ăn mặc giống như hồi còn sống ở thế gian. Nhìn rất rõ ràng. Con người chết tánh xấu thành ma, tánh độc thành qủy, thân họ cũng kết bằng khói như mây. Khi đi dáng giống như con cá bị thương đang bơi lờ đờ.


    Thấy lúc đang thức chứ không phải Thiền hay nằm mơ. Chỉ con mắt Thiền Sư mới thấy rõ ràng như tiếp xúc với người thường ở thế gian. Còn chúng sanh không thấy do tánh nóng, buồn khổ... làm ngăn che. Con mắt nhục nhãn của nhân sinh cũng không thấy được.


    Chư Thần thường vị nào thân hình cũng vạm vỡ như người Phương Tây, nước da ngâm đen, có lòng thương người, nếu có người tin, xin vẫn thường được Thần giúp đỡ rất kết quả. Có một lần ở gần cầu Bình Sơn trong khu cải tạo A. 30 ở Tuy Hòa, ông thíêu tá công an trưởng trại cho xe ủi đất sang bằng một cái miếu Thần có từ lâu đời. Khi đi lao động ngang qua tôi thấy ông Thần Miếu ra chào tôi và phàn nàn, chỗ ở bị dẹp bỏ nay phải vào chân núi ở trong bụi cây.


    Tôi trả lời: Thân tôi còn bị hành xác đây ông không thấy sao? Thôi hãy kiên nhẫn tu hành sau này đắc đạo Chánh Đẳng Thần qúy hơn. Thần Miếu hài lòng, sau này mỗi khi vào rừng làm củi ở vùng này tôi thường gặp ông đến dắt người đem cho tôi thức ăn. Vì chỉ tiêu của trại cải tạo mỗi tháng 6 kg gạo và thêm ít khoai mì sống, ăn ngày nào cũng đói, có lúc xỉu là thường.


    Lúc đi cải tạo ở A.30, nhiều tháng liền tôi không được gia đình “thăm nuôi” vì nhà túng thiếu, một hôm lao động chặt 1,50 m3 củi chỉ tiêu trong ngày vừa xong, tôi đang ngồi nghỉ mệt, Thần Núi đến chỉ cho tôi một cây trầm, tôi hạ cây một hai anh em trong tổ lén đổi trầm lấy gạo sống qua ngày được gần cả tháng.


    Vào năm 1988, từ Sàigòn tôi đi dự ngày Đại lễ Đản Sinh mồng 8 tháng 4 âm lịch ở Trung Ương Hội Thượng tại Nha Trang, lưu trú tại khách sạn 50 đường Nguyễn Hữu Huân cạnh bến xe đò liên tỉnh Khánh Hòa, tôi ở lầu hai tầng cao nhất của khách sạn, lúc 10 giờ sáng tôi thấy ông Thần to lớn đến độ tôi phải ngạc nhiên. Ông đứng dưới đất, đến lầu hai mới có nữa người còn nữa thân trên cao vòi vọi. Nói chuyện với tôi mà Thần phải cúi khom lưng rất khó nhọc mới ngang bằng phòng tôi ngồi, bàn chân ông rộng 1mét dài hơn 2 mét. Từ khách sạn 50 đến chợ Đầm Nha Trang hơn 2 km ông chỉ cần 4 bước đi là tới nơi. Ông hỏi thăm tôi sau khi đại lễ và về Trời.


    • Cách Thức Đi Đầu Thai Của Người Chết


    “Các ông cũng nên biết: Khi bậc đã có phước điền, có một đức tin làm lành thời có nơi chốn chứng minh, có vị Thánh đỡ đầu. Lúc lâm chung, tiềm thức bay bổng lên hư không, miệng liền niệm danh hiệu tôn giáo Đức tin của mình như: Kính lạy Chúa, hay kính mong Thần hoặc kính gặp Thánh tùy tùy mỗi con người tin mà phát niệm, liền khi đó có tia sáng Hồng Quang về cõi Thần, có tia sáng Thanh Quang về cõi Trời làm dân, có tia sáng Bạch Quang về cõi Trời làm Quan, có tia Huỳnh Quang về Tịnh Độ.


    Có lúc con người thật tốt nhưng chưa đặng Đức tin vững, vừa lên đến hư không, vui mừng đi dạo khắp vũ trụ, nhưng không bao giờ thấy đặng các cõi, các cảnh giới, đến sau tâm thần bớt khoan khoái lờ đờ, khi tĩnh lúc mơ, nhớ đâu gặp đó, liền đến Thần Hoàng Miếu Võ mà ở liền trở thành Thần Núi Nhân Gian, hoặc gặp phải Tia Sáng Đủ Màu liền được về nhân thế mà thai sanh con nhà giàu có để tu hành.


    Trái lại có bậc thật tốt nhưng quá chơi bời, đình trà tửu điếm. Lúc sanh tiền bạn bè thân hữu nhiều nơi, thường vui chung cùng chúng bạn. Đến giai đoạn trên dạo chơi khắp nơi, liền đến chốn ca xướng ăn chơi nhảy múa, liền nhập bọn ở nơi đó say mê lâu ngày vẫn bị tấm màn bao phủ thụ thai vào súc sanh giới. Nếu lối chơi thanh bai qúy phái mà có công đức cao dầy thanh thoát thì đặng thụ thai Cõi Trời Lục Dục Thiên an hưởng.”
    –T.V.


    Đoạn kinh Đức Tịnh Vương đã ghi chép để lại cho thế kỷ 20 của chúng ta, chứng minh con người không phải chết là hết, mà còn trả nợ ở hành động, lời nói ở thế gian, sau đó nhập thai tùy xứ sở do mình gây tạo ra. Bậc tu có dày công đức rất thương chúng sinh lầm mê, không bao giờ có ý nghĩ hay hành động tổn thương đến chúng sinh bao giờ. Con người có quyền không tin tôn giáo, không tin bậc tu nhưng nếu chúng sinh cố ý va chạm, cố ý hại thì hậu quả nhiều đời kiếp không lường hết nổi, bị cảnh thảm sầu trong hiện tại và mãi mãi tương lai ở Địa ngục. Đây là hai sự kiện ở Nha Trang.


    Ông Cũng làm an ninh Phường Tân Lập thành phố Nha Trang, không ưa Ngài Tịnh Vương, lập hồ sơ ghi tội bắt Ngài, lúc đó tôi còn ở trong trại cải tạo A.30. Đức độ như biển cả và chúng sinh không phước điền va chạm nhau, thình lình ông Cũng đang công tác bị tai nạn rất nặng ở cột sống nay phải nằm một chỗ không ngồi, không đi lại được như ngày trước nữa. Thật là tai họa. Hết phước ở thế gian, địa ngục môn chờ!


    Ông cháu lên thay. Vào năm 1980 lúc tôi đi cải tạo về, ông cháu gọi tôi lên phường Tân Lập bảo làm tờ trình việc nhà và việc tu hành. Tôi biết ông muốn lấy cớ để bắt Đức Tịnh Vương.


    Tôi nói: Chuyện đã qua rồi bây giờ ai cũng đang sống ổn định, khơi dậy không ai được ích lợi gì cả. Biết tôi từ chối, ông Cháu bảo, anh làm tờ trình tôi sẽ lo cho anh mua gạo 5 cha con theo gía nhà nước là 5 hào một kg. Thời buổi này, nhà nào cũng chạy gạo toát mồ hôi mới đủ ăn từng ngày. Trong gia đình người nào cũng phải lao động vất vả mới đủ gạo cho cá nhân. Một người chỉ làm nuôi nổi một người chớ không đủ sức nuôi hai, ba người. Tôi cũng nằm trong số kiếm ăn vất vả, nhà lúc nào cũng túng thiếu. Ngày nào nghĩ làm ngày đó không có gạo nấu. Tôi vẫn không có chút mừng khi nghe cho mua gạo với giá rẻ. Tôi biết đây là một thử thách, nếu tôi không trí sẽ mất hết công đức trong vô lượng kiếp đã gieo trồng vì bậc tu cầu giác ngộ chúng sanh không sao hiểu thấu. Cô thư ký Phường bảo có học mà ngu quá, có người bảo tôi khùng theo tu ông Thầy Tịnh Vương. Tôi vẫn làm thinh ra về.

    Lúc này ông cháu đang tiến hành lập hồ sơ bắt Ngài bằng lối khác. Thình lình ông bị bệnh sơ gan cổ trướng phải nằm bệnh viện. Bệnh này thường hai năm hơn mới chết nhưng ông cháu chỉ hơn 20 ngày đã chết. Người dân ở chợ Mới Nha Trang đồn ông Cháu chết trông ghê lắm, thấy bu đông sau nhà ông tôi cũng vào xem. Bụng ông to, miệng hả rộng, mắt mở trông rất dữ. Ông bị thọ báo địa ngục môn rất rõ không sai chạy.


    Sau đó chính quyền địa phương đến bảo gia đình ông Cháu dẹp bàn thờ Quán Thế Âm Bồ Tát, thay vào đó là hình ông Hồ Chí Minh được đặt lên và Đảng Cộng Sản địa phương đứng ra chôn cất thi hài ông cùng ban đặc ân. Nhà ông đã thi hành theo ý Đảng.


    Trường hợp này chắc chắn ông đã thọ báo địa ngục môn không có ngày ra. Thời mạt kiếp có lớp lớp bậc tu, không tu bị kẹt không. Họ không tin có sanh tử luân hồi, không tin có Thần, Thánh, Trời, Phật. Họ bảo chết là hết vì họ không tu Thiền hoặc tu chưa đến nơi chốn kết quả quyết định. Cha mẹ, ông bà, thân nhân đối với họ chết là hết. Trong rằm tháng bảy hàng năm Đức Tịnh Vương hóa thân Đức Di lạc đã từng làm lễ siêu độ cho thân nhân quá vãng của chân tử Ngài, khi xướng tên nếu chưa đi đầu thai họ đã gặp Hộ Pháp dắt về dự Đại lễ làm kinh ngạc một số chân tử hiện tiền./-


    17. Đại Tập Kinh, Năm Thời Kỳ




    Toàn thể con người khôn trước Triều Đại. Nếu Triều Đại biết con người khôn phải lần theo con người hướng dẫn.


    • Bằng Triều Đại rõ biết trách nhiệm Quốc Gia, có bổn phận gìn giữ an lành cho dân chúng, hơn là trị an dân chúng thì con người mau phát triển đặng Quốc Thái Dân An.


    • Nếu Triều Đại biết hưởng ứng sự tu hành để Chư Tổ hướng dẫn con người tu Tự Tánh Tỏ Tánh đặng Đạo Đức phát triển, nhà nhà được thanh bình sẽ có Quốc Thái Dân An.


    – Vô Sư Kinh




    TẠI SAO ĐỌC KINH KHÔNG HIỂU?


    Đức Bảo Tạng Phật khuyên Đức Di Lạc Tôn Phật viết Kinh.


    Đức Di Lạc: Thưa viết đâu có ai đọc.


    – Đức Bảo Tạng Phật: Ông cứ viết đời này đọc không hiểu, những đời kế tiếp tu tự tánh họ đọc sẽ hiểu.


    Theo Kinh Đại Tập, sau khi Đức Bổn Sư Thích Ca Mâu Ni Phật nhập Bát Đại Niết Bàn, đến nay1995 đã 2539 năm được phân làm năm thời kỳ.


    • Một Là 500 Năm Thứ Nhất, Thời Kỳ Tri Kiến Giải Thoát. Trong thời này những chân tử của Đức Phật chịu tu theo y tôn, y chỉ, chịu tu SỬA TÁNH để TỰ TÁNH TỎ TÁNH, Minh Tâm, giải tật xấu, tu theo giáo pháp Phật, Thiền Định, Trí Tuệ thông Được Tri Kiến Giải Thoát.


    • Hai Là 500 Năm Thứ Hai, Thời Kỳ Thiền Định. Trong thời này phần nhiều các Chân Tử tu tinh tấn, trí tuệ thanh tịnh, y giáo lý Phật tu thiền định, tùy công năng, công đức mà được chứng ngộ hữu lậu của Tiểu Thừa, cùng vô lậu của Đại Thừa.

    • Ba Là 500 Năm Thứ Ba, Thời Kỳ Đa Văn. Trong thời này các chân tử y theo 12 bộ Kinh Phật mà tu hành, nghiên cứu, tranh luận Hiển, Mật, Đốn, Tiệm giáo. Con đường TỰ TÁNH TỎ TÁNH NHẸ DẦN.


    • Bốn Là 500 Năm Thứ Tư, Thời Kỳ Chùa Tháp. Trong thời này, phần nhiều Bậc tín tâm QUÊN HẾT TỰ TÁNH TỎ TÁNH, sự tu hành chẳng cầu giải thoát nữa, thích công đức hữu lậu, tu như vậy sau khi chết được Phước Báo Nhân Thiên.

    • Năm Là 500 Năm Thứ Năm, Thời Kỳ Người Tu Mất Hẳn Tự Tánh. Hay đấu tranh nhau, ghét, thương, ganh tỵ, nghi ngờ tồi phá lẫn nhau. Đặc biệt là chấp chỗ học vấn có bằng cấp cao, nghiên cứu nhiều Kinh Phật rồi cho mình đúng, tồi phá tranh giành, giết, hại nhau để đoạt danh, trục lợi.


    Năm thời kỳ này kéo dài trên 2500 năm tính theo Phật Lịch, xã hội Việt Nam cho đến hiện tình hỗn loạn trên thế giới, đã rơi trong thời kỳ Mạt Pháp, khiến nhiều Bậc học giả cho rằng thời kỳ này đã đến lúc Đức Di Lạc Hạ Lai.


    Như đã nêu ra ở phần trước, Đức Đại Lực Di Lạc Tôn Phật đã ra đời từ năm 1918 đến năm 1993 Ngài nhập Bát Đại Niết Bàn. Trong 37 năm hành đạo ở quả địa cầu chúng ta, Ngài dụng thân Long Thọ, khai đạo cho các cõi Tiên, Thần, Trời nữa chứ không phải chỉ cho Nhân Sinh. Khắp trong Tam Thiên Đại Thiên Thế giới, Ngài đều từng lúc, từng khi xuất Chánh Định đến nơi khai đạo và đem lại tự do cho tứ loài.

    Ngài nguyện gánh vác tất cả các pháp để chúng sinh được thảnh thơi tu hành như những bậc tín tâm đều biết. Qua Hịch chứng minh vũ trụ, Ngài đã hoá giải sạch sẽ độc nhiễm trên thế giới, ngày nay và hậu lai được tu hành, dần dần sẽ được an lạc. Ngài nguyện đem tất cả bảo pháp đương thời Hạ Lai cứu độ chúng sanh, đưa tất cả chúng sanh tu tập pháp môn Sắc, Thinh, Hương, Vị, Súc Pháp mà không nhiễm đặng tự tại, vô ngại đến Đại Bi, Tổng Trì Đà La Ni Tạng Tri Kiến Giải Thoát./-


    18. Sự tu hành thời Hạ Lai Mạt Pháp

    Đoạn kinh dưới đây do chính Ngài ghi, lưu lại hậu thế:


    “Đương thời Hạ Lai Mạt Pháp, sự tu hành thực chứng thật hiếm, vì sao? Vì thời Thượng Pháp có giáo lý, có thi hành để tu nên có thực chứng. Đến thời Trung Pháp có giáo lý, có thực hành tương song liền có thực chứng. Qua thời Hạ Lai Mạt Pháp có giáo lý nhưng kém thi hành, thành thử hiếm hoi thực chứng. Nơi kinh pháp có thực hành liền có sở đắc, chưa thực hành thì kinh pháp kia trở thành lý thuyết. Tu có chứng tri chăng cũng là chứng tri trên giả thuyết, biện tài chớ chẳng phải là thực chứng.” –T.V.


    Sự tu hành không đem đến phá mê chấp để hiểu biết thì dù cho tu đến một ngàn kiếp cũng không lấy được một ngày tu. Đã là chúng sinh thì trí còn thấp kém, nếu đủ căn cơ, Phật ra đời ắt phải gặp. Căn cơ là các bậc từng tu cầu tri kiến giải thoát khỏi sanh tử luân hồi, còn chúng sinh lấy nhân duyên nên sự tu hành theo ý muốn. Sự tu hành theo vọng cầu ý muốn nhưng không hiểu vọng cầu đó là cái gì, ý muốn nó sẽ đưa ta về đâu. Do đó ta phải HÀNH sẽ được lợi ích vô kể. Như thế nào gọi là Hành? Hành là chuyên tu sửa tánh, đó là đường đi HÀNH GIÁC. Hành còn có nghĩa Hành Thâm Pháp giới để tỏ giới. Mỗi pháp giới là một tánh, sửa nhiều lần sẽ thâm nhập được Thiện Căn không còn độc, lại tự mình thấy được tánh tỏ tánh. Bậc tu biết sửa sai lầm sẽ có Trí Tuệ. Trí tuệ là cứu cánh của giải thoát.

    Đã là chúng sinh tất nhiên phải bị mê lầm, dù tu lâu đến đâu cũng không thoát được mê lầm, nên chi miệng nói là TÂM nó chưa biết.

    “Vì miệng nói Tâm chưa biết nên bậc Thiện Trí Thức mới khuyên –Miệng nói Tâm chưa biết thì cần phải học lại lời nói đã nói nơi miệng đi. Đến chừng miệng nói Tâm biết, hay Tâm đã biết miệng mới nói, đó gọi là Giác Tâm Tỏ Pháp.

    Tình trạng này thời Đức Bổn Sư vẫn thường có Chư Tôn Giả đã từng thuyết pháp, có lúc thời pháp quá tầm tuyệt mỹ. Thế Tôn mới khai thị: Ông NƯƠNG VÀO CÔNG ĐỨC NHƯ LAI mới nói được như thế. Chừng đó Tôn Giả mới nhận biết, khi miệng nói tâm chưa biết, cần học lại lời nói của miệng. Đối với chúng sinh đang mơ màng, còn vọng tưởng, còn viễn vọng rất dễ lầm nhận, vẫn yên trí rằng miệng mình đã nói đương nhiên mình đã giác, dù muốn hoặc giả chưa muốn cũng bị lầm.” –T.V.

    Trong lộ trình hành đạo, đã có lúc Ngài gặp Hoà Thượng, Đại Đức, Tăng Ni ở chùa, Ngài khai một câu, chư vị này không nhận được lại giảng cho Ngài nghe cả chục câu! Có lần Ngài tìm đủ phương tiện làm cho sư Quân giới khất sĩ tin để khai cho Tri Kiến Phật nhưng vị này không đủ công năng công đức để thọ nhận. Cuối cùng Ngài hiện thân cho làm bạn. Sư chỉ khen Ngài biện tài giỏi chớ không nhận được lời khai thị của Ngài.


    “Khi Đức Thích Ca chưa thành Phật, đang còn là tu sĩ, Ngài đến cung kính cúng dường, chiêm ngưỡng lễ bái Đức Nhiên Đăng Phật. Đức Nhiên Đăng Phật mới thọ ký thời Trung Kiếp thành Phật với hiệu Bổn Sư Thích Ca Mâu Ni Phật. Sau Đức Bổn Sư thể hiện chỉ đạo thọ ký Di Lạc Tôn Phật cùng các hàng Bồ Tát đến các bậc vô học, hữu học đều thành Phật của mỗi thời tuỳ hỷ, nơi Diệu Pháp Liên Hoa Kinh đó là lời chân thành quyết định.

    Thời này bậc tín tâm tu hành nhiều vô số, vô lượng, vô biên nhưng lại kém căn cơ nên rất hiếm thành Phật mà đa số thành Tiên Đạo gọi là Đắc quả. Đến sau này nữa càng sa sút chánh tín liền Đắc quả nơi THẦN –THÁNH ĐẠO.Thần đạo dùng bùa chú luyện thần thông trở thành cuồng tín phải chịu nơi sanh –tử –bệnh –lão –khổ.” –T.V.

    • Thế nào gọi là Đắc Quả thành Tiên đạo?

    Chuyên học, nghiên cứu kinh sách, đi đứng thanh bai, chỗ ở đẹp đẽ khang trang, ăn chay trường, tu tịnh không tu pháp động. Gặp hoàn cảnh thuận an vui, gặp nghịch cảnh tránh, không ưa. Chọn sạch bỏ dơ... Tu như vậy lúc lâm chung được về cõi Tiên hưởng phước báo Nhân Thiên. Đến chừng hết kiếp ở cõi Tiên bị đầu thai làm người hay các cảnh giới khác tu lại từ đầu.

    Thiền sư nào đã từng xuất định đến cõi Tiên mới chứng kiến sự thật: Ăn, mặc, đồ dùng đều có sẵn. Không cần làm cũng có ăn. Muốn gì vừa ước ao liền có. Dùng thần thông hoá ra nên được như ý muốn. Đồ đạc, vật dụng rất đẹp. Một điều đặc biệt là ở cõi Tiên không có ánh nắng mặt trời. Ánh sáng từ vách núi chiếu ra, lúc nào cũng nắng dịu, không khí như ở trong phòng có máy điều hoà. Ở ngoài đường không khí cũng giống như vậy.

    Người Tiên tánh tình rộng rãi thương người nhưng còn tánh nóng, học trò không ai dám cãi lại Thầy, gặp người nào cũng nói năng hoà nhã. Hai câu thơ của Đức Tịnh Vương hóa thân Đức Di Lạc ghi:

    “Rượu Thiên Tiên uống hãy còn thèm

    Mà nơi nhân thế xuân đem mấy lần.” –T.V.

    Ở cõi Tiên ngồi đánh cờ, uống rượu chưa tàn một buổi tiệc mà ở thế gian đã mất 3 đến 4 năm. Một năm ở cõi Tiên phải là một trăm năm ở thế gian!

    Chư Thần ở cõi Trời hay dùng bùa chú, tính tình thương người nhưng rất nóng tính. Không khí ở cõi Trời cũng mát dịu như ở trong phòng điều hòa không khí. Cũng có vị như ở thế gian như Đình, Miếu, gốc cây cổ thụ, núi, sông. Hết kiếp vẫn sinh tử luân hồi. Do vậy mà sự tu hành đúng con đường Giác Ngộ thật khó khăn vô kể! Vì khó như vậy mà bậc tu hành phải có đường lối hay pháp môn do Bậc Thiện Tri thức đã Giác Ngộ chỉ đạo. Nếu không như vậy, thời tu cho có chứng tu, hay tu để cầu phước. Vì sao?

    Vì đang mê tu bằng cách nào cũng vẫn trong thời mê, dù học thuộc tất cả các Kinh Phật hay nghiên cứu tất cả lời Phật cũng nằm trong bị biết, vẫn trong đường mê.

    Tỷ như kẻ vào được kho thuốc, chẳng thiếu thứ chi, mừng quá nên thứ gì muốn uống đều tự do dùng, lại chỉ bày cho kẻ khác cùng uống với mình. Kết quả cả hai không những chẳng hết bệnh mà lại càng thêm bệnh.

    Tỷ như kẻ đang lạc đường không tìm ra được lối thoát, thì dù có dìu dắt kẻ khác theo cùng với mình cũng bị lạc đường thôi, cuối cùng cũng chỉ là bạn không hơn kém. Do vậy, thời Hạ Lai Mạt Pháp này, bậc tu hành cần nương tựa theo pháp môn mà Đức Tịnh Vương Nhất Tôn hóa thân Đức Di Lạc đã lưu lại Bậc đã tỏ Ngộ mới mong Chân Giác. Cũng chính thời hạ kiếp này sự tu hành có vô số pháp môn, không pháp môn nào đưa con người đến chân giác mà Đức Di Lạc Tôn Phật phải Hạ Lai chỉnh trang lại lối tu hành có đường lối, pháp môn rõ ràng minh bạch cốt đưa chúng sinh thoát sinh, tử, lão, khổ.

    Mỗi chân tử có mỗi Nghiệp Căn. Bậc chỉ đạo liền dùng Đại Phương Tiện chỉ bày. Còn phần bậc tín tâm, tu cần sửa đổi tánh tình để tạo cho được Thiện Căn cùng phải chịu tất cả các thử thách khi THUẬN lúc NGHỊCH của vạn pháp đặng hiểu biết. Nếu Tỏ Pháp liền được Tỏ Tâm. Tỏ tâm là Ngộ Pháp. Đó là điểm chính yếu của đường tu mà Đức Tịnh Vương hóa thân Đức Di Lạc đã vạch ra, sao cho không còn lạc lối tu nữa. Ngài thành lập pháp môn PHÁP TẠNG ý nghĩa chính là Long Hoa, y theo Pháp Tạng Như Lai còn gọi Là Phật Thừa Duy Nhất, dụng “Phật Pháp Bất Ly Thế Gian Giác” để diễn Đại Phương Tiện.

    Tất cả các bậc tín tâm từ Bồ Tát, Hộ Pháp Bồ Tát, A La Hán, Tôn Giả, Hộ Pháp, Chúng Sanh Hộ Pháp trước sau đều theo con đường Tri Kiến Giải Thoát. Những Bậc này Đức Tịnh Vương đều nung đúc trước tiên vào tu phải Kiên Dũng cho tỏ Như Lai Tạng còn gọi là Như Tạng, làm cho con đường tu hành không dừng trụ. Sau mới dạy cho tu căn bản GIỚI ĐỊNH TUỆ để được dung thông mà quyết định thành tựu Giác Ngộ, Đại Ngộ, Liễu Ngộ. Bậc cao thành tựu Vô Thượng Đẳng Chánh Giác./-

    19. Hịch: Tin-Vâng-Kính

    Phật Đạo duy nhất có một Tôn Chỉ Mục Đích như nhau. Phật Đạo thừa kế Nhất Tôn liên hệ mật thiết không sai chạy, nên gọi Nhất Tôn Tối Thượng. Dù cho vạn Phật ra đời trong vạn thời chỉ đạo chăng cũng vẫn có một Tôn Chỉ Mục Đích nguyên vẹn trong ba thời Phật Nhất Tôn (thời Thượng Kiếp, thời Hiền Kiếp và thời Hạ Kiếp) làm thế nào đưa tất cả đoạt đến Tri Kiến Giải Thoát, còn nói về thời Phật ra đời thì Ngài tuỳ theo thời Kiếp mà hoá độ.

    –TỊNH VƯƠNG NHẤT TÔN

    Đặc biệt thời Hạ Lai, Pháp Tạng lập pháp Thiền Toạ để Tỏ Pháp tức là Tỏ Tâm. Với Tình Duy Nhất Pháp Tạng, Ngài quyết định bậc tín tâm phải TIN VÂNG KÍNH theo sự chỉ bày Của Bồ Tát. Vì sao? Vì thời Mạt Pháp học, nghiên cứu quá nhiều thành lý chướng. Nên phải Tin Vâng Kính để Lý Sự Không Chướng, tu đến chánh giác. THÔNG LỆNH Ngài trao như sau:


    TĂNG-CHỦ NHẤT-TÔN

    PHÁP-TẠNG PHẬT-GIÁO VIỆT-NAM Hội-Thượng, ngày 10 tháng 3 năm

    Mậu Thân (1968)

    Số.... /PTPGVN/HT/TC


    THÔNG - LỆNH


    -------------------


    NAM MÔ TỊNH VƯƠNG PHẬT

    NAM MÔ PHÁP TẠNG HỘI THƯỢNG PHẬT BỒ TÁT MA HA TÁT


    ĐÔNG-ĐỘ DƯỢC-SƯ LƯU-LY QUANG NHƯ-LAI

    BẢO TẠNG PHẬT

    TỊNH VƯƠNG PHẬT




    CHỨNG-MINH BAN-HÀNH

    PHÁP-TẠNG HỘI-THƯỢNG


    Ngày 10 tháng 3 năm MẬU-THÂN.


    CHỨNG-MINH:
    TĂNG-CHỦ TỊNH-VƯƠNG, Đại-Diện TAM-THẾ-PHẬT trọn quyền đảm- trách thi hành lành đạo theo TÔN CHỈNH BỔN NGUYỆN chung của TỊNH-VƯƠNG-PHẬT trên con đường PHÁP-TẠNG.


    TĂNG-CHỦ có trọng trách CHỨNG-MINH cho các CHÂN-TỬ, cùng chứng-minh giữa thời MẠT-PHÁP, đưa tất cả TRI-KIẾN GIẢI-THOÁT hiện tại. Vậy các Chân-tử chẳng tìm tòi đâu mà đặng giải thoát, chỉ: TIN-VÂNG-KÍNH.

    TIN-VÂNG-KÍNH TĂNG-CHỦ liền ĐẮC.


    Nếu mất: TIN, thời lạc-loài Sanh-tử.

    Bằng nất: TIN-VÂNG, bị chì-đắm trong LỤC-ĐẠO để diễn-hành.

    Nếu mất: TIN-VÂNG-KÍNH; Ngạ-Quỷ, Súc-Sanh, Địa-Ngục cận-kề.

    CHẲNG TIN: Không bao giờ Giải-Thoát.

    KHÔNG VÂNG: Chẳng lúc nào đến và đặng.

    CHẲNG KÍNH: Phải bị xa lìa Tánh-Trí, xa lìa BA đời Phật.

    TĂNG-CHỦ NHẤT-TÔN

    PHÁP-TẠNG PHẬT-GIÁO VIỆT-NAM Hội-Thượng, ngày 10 tháng 3 năm

    Mậu Thân (1968)

    Số .... /PTPGVN/HT/TC


    THÔNG - LỆNH

    -------------------
    CHỨNG-MINH


    TIN-VÂNG-KÍNH TRỌN là: CÔNG-ĐỨC HẠNH-NGUYỆN, là CÚNG-DƯỜNG TAM-THẾ, là THỌ-KÝ THÀNH-PHẬT, lại chung cùng Bổn-Nguyện PHÁP-TẠNG, được ĐỒNG-NGUYỆN, ĐỒNG-HÀNH cùng ĐỒNG-SỰ chung với BỒ-TÁT-PHẬT.

    TĂNG-CHỦ TỊNH-VƯƠNG CHỨNG-MINH :


    Các CHÂN-TỬ tề-tựu :

    Từ NHÂN-THIÊN, THIÊN-THẦN TAM-GIỚI LỤC-ĐẠO như : NHÂN - ATULA - SÚC-SANH - NGẠ-QUYû đến hầu hết ĐỊA-NGỤC tuân hành nghe lãnh tề-tựu;
    Chư BỒ-TÁT-MA-HA-TÁT hộ-trì giúp-đỡ hữu-hiệu.

    Chư LONG-THẦN-HỘ-PHÁP, HỘ-PHÁP BỒ-TÁT MA-HA-TÁT hộ-trì giúp-đỡ hữu-hiệu.
    Chư ĐẲNG-ĐẲNG-THẦN - THIÊN-THẦN - NHÂN-THẦN cùng ATULA-THẦN - SƠN-THẦN - THUỶ-THẦN - HOẢ-THẦN - ĐỊA-THẦN và TỪ-BỘ-THẦN đều hộ-trì giúp-đỡ hữu-hiệu.


    Đồng mời: Mười hai DƯỢC-XOA QUỶ-VƯƠNG ĐẠI-TUỚNG của ĐÔNG-ĐỘ DƯỢC-SƯ hộ-trì giúp-đỡ hiện-hữu.


    Các vị hãy vì BỔN-NGUYỆN chung của TAM-THẾ-PHẬT. Hôm nay TĂNG-CHỦ thừa- hành thời Mạt-Pháp CHỨNG-MINH các CHÂN-TỬ, đồng thi-hành nhiệm-vụ chung cốt đưa tất cả TRI-KIẾN và GIẢI-THOÁT.
    Vậy tuỳ theo mỗi CHÂN-TỬ mà hộ-trì giúp-đỡ nơi CHÁNH-BÁO và THỌ-BÁO phân-minh hiện-hành đúng-đắn hữu-hiệu.

    Ngày 10 tháng 03 năm MẬU-THÂN

    \Lúc 12 giờ 01 phút

    TĂNG-CHỦ TỊNH-VƯƠNG

    CHỨNG-MINH

    Một hôm Đức Tịnh Vương khai thị tại số 42 đường Hồng Bàng Nha Trang, trên căn gác gỗ của Ngài, tôi nghe như vầy: "Khi tôi trực giác nhớ tiền kiếp quá khứ là Di Lạc, chẳng lẽ KINH tôi viết ra, lại ghi là Di Lạc sao coi được? Tôi phải dùng một cái tên khác đó là Tịnh Vương Nhất Tôn."


    Bậc tu hành muốn gặp Đức Di Lạc, phải biết pháp môn của Ngài là gì? Pháp môn của Đức Di Lạc là tu trong SẮC – THINH – HƯƠNG – VỊ – XÚC – PHÁP ở trong đời mà không nhiễm. Tu hành như vậy mới nhận định được chân lý của pháp môn Đức Di Lạc.


    "Còn Đức Bổn Sư Thích Ca Mâu Ni Phật là Giáo Chủ khai đạo ở cõi Ta Bà Thế Giới này chẳng lẽ Hạ Lai này tôi xưng Giáo Chủ nữa để dành ngôi vị của Ngài sao được. Nên tôi chỉ dùng chức vụ tối cao của Đạo gọi là TĂNG CHỦ để tỏ lòng Tôn Kính Đức Giáo Chủ Bổn Sư Thích Ca Mâu Ni Phật. Còn nói về hai chữ LONG HOA, khi ra đời hành đạo tôi cũng không treo bảng dùng chữ Long Hoa coi sao được? Do đó tôi phải xin lập HỘI PHÁP TẠNG PHẬT GIÁO VIỆT NAM nhưng cũng có ý nhắc nhở chúng sinh ở thế giới Ta Bà này biết mà nghĩ lại là chính Di Lạc đã ra đời, lập lại Thượng Kiếp nên dưới hàng chữ Pháp Tạng Phật Giáo Việt Nam, tôi có viết Trung Ương Hội Thượng, nhưng cũng tiếc thay không một tu sĩ nào kể cả Tăng, Ni, Phật tử khi nhìn thấy tấm bảng lớn nền vàng chữ xanh da trời treo mà để ý hai chữ Hội Thượng." –T.V.


    Tăng Chủ Tịnh Vương chính Đức Di Lạc Tôn Phật đứng ra nhận lãnh trọng trách khai đạo thời Mạt Kiếp do Đức Tịnh Vương Phật chứng minh.


    Đức Tịnh Vương Phật chính là Như Lai mà Đông Phương thường quen gọi, cũng chính là Thượng Đế mà Tây Phương thường gọi, Đức Tịnh Vương Phật cũng chính là Đấng A La mà khối Ả Rập thường gọi. Ngài là "Tổng Thể Quyền Lực Vũ Trụ." Do mỗi nơi tự đặt tên khác nhau mà thôi.


    Tất cả Chư Phật mười phương trước khi thành Phật đều phải gặp Đức Tịnh Vương Phật để được Ngài ban hành chứng minh mới đặng thành Phật để nhập thể vào Ngài trở thành một. Tuy một mà hai, tuy hai mà một là ý nghĩa như thế.


    Hàng Tổ đắc pháp Chân Không, Giác Ngộ, hay Đại Ngộ hoặc Liễu Ngộ vẫn chưa có thể gặp được Đức Tịnh Vương Phật. Bậc giác ngộ rốt ráo hạnh nguyện đến khi đoạt Diệu Quả Bồ Đề thành Phật mới gặp được Đức Tịnh Vương Phật ban hành chứng minh.

    Chư Phật và Đức Bổn Sư Thích Ca Mâu Ni Phật trước khi nhập Niết Bàn đều được gặp Đức Tịnh Vương Phật. Đức Di Lạc Tôn Phật trước khi nhập Niết Bàn cũng đã được gặp Đức Tịnh Vương Phật đến ban hành chứng minh.


    Trước giờ nhập Bát Đại Niết Bàn, Chư Bồ Tát, Long Thần Hộ Pháp mới hỏi sao Ngài còn gì nữa mà chưa ra đi. Đức Di Lạc trả lời: –"Tôi còn chờ Đức Tịnh Vương Phật đến chứng minh." Lúc đó Đức Di Lạc xả Chánh Định để dạy việc này. Sau đó Đức Tịnh Vương Phật đến, Đức Di Lạc liền nhập thể Bát Đại Niết Bàn.


    Bồ Tát, Đại Bồ Tát khi đắc Vô Thượng Đẳng Chánh Giác đều được Đức Tịnh Vương Phật đến gặp để chứng minh, nhưng khi viên tịch chưa thể được Đức Tịnh Vương Phật đến gặp. Chỉ khi nào lai trần, hạnh nguyện thành quả Phật thực sự, lúc đó Đức Tịnh Vương Phật mới đến ban hành chứng minh.


    Còn hàng Tổ A La Hán giác đến cao nhất là Liễu Ngộ chưa có thể gặp được Đức Tịnh Vương Phật. Thời hạ lai nhiều vị xưng Phật không nằm trong Hộ Tịch Phật độ theo Tôn Chỉ, dù có Chánh Giác cũng phải vòng quanh trong lục đạo chờ một vị Phật kế Đức Di Lạc kiểm tra, chứng minh mới được nhập thể. Một hôm Đức Tịnh Vương hóa thân Đức Di Lạc dạy rằng: Tỷ như trong một nước chỉ có một ông vua, khi vua cha băng hà truyền ngôi cho con và cứ thế tiếp nối. Thời này cũng vậy, bậc lãnh đạo đi, trao lãnh đạo mới sau này lên thay. Đường đời cũng không khác đường Đạo chân truyền là vậy.


    Do đó nhiều vị không biết đường đi của Chư Phật quá khứ, phải tuần tự tu qua lớp lớp không thể thiếu sót mới được nhập thể. Tự xưng Bồ Tát, Phật đều không có Mật Ấn để điều động vũ trụ.


    Cũng như trong một nước có nhiều vị đậu bằng tiến sĩ nhưng chỉ có một vị được vua hay lãnh đạo bổ nhiệm làm thủ tướng. Khi đã nhận lãnh Thủ Tướng cả nước đều nghe, chữ ký của ông Thủ Tướng tất cả dân trong nước phải nghe và tuân theo. Ai chống lại liền có lính đến hỏi tội. Còn những vị tiến sĩ kia hành sự cá nhân để sống, được nhiều hưởng nhiều, đươc ít hưởng ít. Chữ ký cũng không bao giờ có quyền như Thủ Tướng. Sau vị này mãn nhiệm vị khác lên thay cũng có quyền y như vị trước. Bậc Chánh Giác nhập Bát Đại Niết Bàn, Bồ Tát thừa kế duy nhất được trao Mật Ấn để điều hành cứu độ chúng sinh.


    Do đó mà Đức Di Lạc bảo: "Hạ lai này Tôi lập lại kỷ cương đường lối tu hành". Nếu chúng sinh theo con đường Ngài đã lập ra, ắt là dân của nước Phật, bằng không dù nghiên cứu, học cao cũng quanh quẩn lai sinh ở thế gian hay vào cảnh giới khác mà thôi!

    Nếu tin Phật tu Phật qua Kinh điển, qua hình thờ bằng gỗ, bằng xi măng, bằng giấy in hình Phật, khi lâm chung nếu thiện căn được sinh lại vùng có chùa, gặp lại Kinh Phật, tượng cốt rồi vào tu, cứ thế mà luân hồi.


    Gặp Bồ Tát tin tu sẽ đi theo y tôn, y chỉ do đó mà Ngài đã chỉ đạo rõ ràng. Mất tin Tăng Chủ hoặc Tổ thừa hành kế tiếp, thời lạc loài sanh tử. Vì sao? –Vì tu chưa biết lúc nào là đúng sai mà không tin bậc đã tỏ biết con đường sanh tử ắt phải lạc nên phải tin. Bằng không, tu thế nào cũng được, hoặc y kinh vẫn không thoát sinh được.

    • Bằng mất Tin–Vâng: bị chìm đắm trong Lục Đạo để diễn hành.


    Đa phần bậc tu Tin theo Đạo Phật nhiều vô số kể nhưng TIN bậc Thiện Tri Thức đã giác ngộ thật khó khăn, phải chờ ngày nào nhận được chân lý mới TIN. Bậc tu tin Thiện Tri Thức đã khó, còn nghe lời Tin Vâng thi hành để ngộ càng khó hơn. Đã không Vâng, không thực hiện được theo sự chỉ bày của Bậc đã chánh giác sẽ không tháo gỡ được lục đạo gọi là chìm đắm trong Thiên, Nhân, A-Tu-La, Ngạ-Quỷ, Súc-Sanh, Địa-Ngục.


    – Đứng về Thiên Giới: Bậc tu hành định tưởng thường mong muốn gọi là dục tưởng.

    – Đứng về Nhân Giới: Thường Nhân-Nghĩa-Lễ-Trí-Tín. Khác ý liền chấp, lại không ưa. Thường trụ.


    – Đứng về A Tu La Giới: Thường nóng tính, dễ phát sinh nên thường hoại lại thường chấp.


    – Đứng về Súc Sanh Giới: Thường phát sinh, kết nạp để hoá sinh.

    – Đứng về Ngạ Quỷ: Tham lam, tranh giành


    – Đứng về Địa Ngục: Chủ Thủ, chỉ biết bạo lực, không nghe ai, độc tôn dễ bị diệt vong.

    • Chẳng Kính: Phải bị xa lìa Tánh Trí xa lìa ba đời Phật. Kẻ không kính bậc Thiện Tri Thức không tin Phật, Pháp, Tăng không có thiện căn, tánh độc, hung bạo phải bị xa lìa ba đời Phật. Hiện tại không tin kính Phật thì quá khứ, vị lai cũng vậy. Lúc chết họ sống trong địa ngục, không nghe được lời nói đạo đức.


    • Tin–Vâng–Kính trọn là: thuận cũng tin mà nghịch cũng tin. Không chấp, không chướng khi bậc Thiện Tri Thức dụng nghịch hành, cốt cho bậc tín tâm tỏ thông Như Lai Tạng. Đó là công đức Như Lai, cúng dường Như Lai nếu trọn tin, có nghĩa tận độ hết chúng sanh tánh của mình sẽ được Như Lai thọ ký thành Phật.

    Đương thời Hạ Lai Mạt Pháp này, Đức Tịnh Vương hóa thân Đức Di Lạc dạy tín chúng cần phải cùng đồng nguyện, cùng đồng hành, cùng đồng sự với chư vị Bồ Tát –Phật đã đi trước để đồng chung hưởng chân lý mà Tri Kiến Giải Thoát. Nếu không cùng chung nguyện, không cùng đồng hành, không đồng sự, tu theo ý muốn sẽ không bao giờ đạt được kết quả vì lạc lối mà Đức Ngài mới Hạ Lai chỉnh trang lại.

    Đoạn Kinh sau này Đức Di Lạc đã ghi:


    “... Sơn thần – Thủy thần – Hỏa thần – Phong thần… đều hộ trì giúp đỡ hữu hiệu”

    – Sơn thần: Thần sống ở núi, chân núi, gốc cây.


    – Thủy thần: Có cảnh giới ở nơi nước sống nơi nước như ao, hồ, sông, biển.


    – Hỏa thần: Có cảnh giới sống trong lửa, tắm lửa, ăn lửa.


    – Phong thần: Có cảnh giới ở nơi gió, sống trong gió.


    Còn vô số cảnh giới nữa dưới mắt Thiền Sư thấy thật rõ không sao kể hết được.

    Một câu chuyện xảy ra ở vào thế kỷ 20, khoa học tiến bộ văn minh, phi thuyền lên mặt trăng, nghe lạ nhưng có thật: Một hôm, vào khoảng năm 1978, ở trại cải tạo A.30 Tuy Hòa, tôi có một người quen cải tạo chung tên là Hoa. Khi còn ở trại cải tạo Đá Bàn, anh ở tổ thợ rèn. Khi chuyển trại đến A.30 năm 1978 tất cả đều bị đói. Mỗi cải tạo viên được phát bốn (4) kg gạo mỗi tháng và một ít khoai mì. Ai ai cũng bị đói. Vợ anh Hoa đi thăm chồng có mang theo 10 kg gạo. Thấy tôi đói nhiều ngày, anh đem cho tôi một lon sữa bò gạo. Tôi nói với anh Hoa rằng “Một miếng khi đói bằng một gói khi no”. Khi nấu lon gạo anh Hoa cho tôi, trước khi ăn tôi chú nguyện. Lúc đó tôi và anh Hoa đang ở trong trại cải tạo, còn vợ anh ta ở Tuy Hoà xa trại hơn 30 km. Đến mùa lúa kế tiếp sau đó, tất cả toàn nước Việt Nam bị hạn hán, lại sâu rầy lan khắp cánh đồng, cả nước lẫn vùng Tuy Hòa bị hư hại nặng, không có thu hoạch được lúa. Vợ anh Hoa vào thăm chồng báo cho anh ta biết, chỉ có đám ruộng của chị là trĩu nặng hạt, lại sai trái khác thường, trong khi ở chung quanh đám lúa của chị đều bị hư hết. Chỉ có ruộng chị Hoa là được mùa tốt. Cán bộ đến hỏi cách thức trồng, khen chị và gọi bà con nông dân đến xem đám ruộng trúng mùa của chị để học hỏi rút kinh nghiệm. Chị Hoa trả lời cũng trồng như những mùa lúa thường, cũng không chăm sóc đặc biệt nhưng không biết tại sao lại trúng mùa lúa như vậy!


    Thế mới biết bậc tu tin vâng kính Chư Phật, thật tối cần để đạt kết quả hữu hiệu. Còn chúng sinh tin bậc trên, kính bậc Thánh, Thần, Trời, Phật đều có lợi thật. Còn nữa, thương yêu người dưới trướng của mình cũng được Chư vị tu quá khứ quý, tán thán, khâm phục.


    Nói và hành phải đi song hành chân thật, chớ không phải giả dối chỉ nói lời hoa mỹ mà hành động lại diệt thần Thánh, Trời, Phật chỉ vào địa ngục vô gián quá ư khổ hãi!

    Có lần Đức Tịnh Vương hóa thân Đức Di Lạc Ngài khai thị: "Có địa ngục hung bạo đến mức giam một chỗ khoảng 5000 người ác là chuyện thường. Họ luôn kêu la, rên siết không sao kể hết được."


    "Đồng mời: Mười hai Dược Xoa Quỷ Vương Đại Tướng của Đức Đông Độ Dược Sư hộ trì giúp đỡ hữu hiệu."


    Mười hai vị này đã ở quanh Đức Tịnh Vương hóa thân Đức Di Lạc để giúp đỡ kẻ Ác căn hồi tâm quay về Thiện.


    Đức Đông Độ Dược Sư Lưu Ly Quang Như Lai là tổ của Thiền Tôn đã cho 12 Đại Tướng hộ trì Chánh Pháp trong thời Đức Di Lạc hiện thể khai đạo và đang còn hiện tiền giúp đỡ các chư vị Bồ Tát xây dựng chánh pháp rất tích cực, hữu hiệu. Kẻ lấy cái tưởng còn vọng bình phẩm đều không đúng. Trực giác mới thật nghe thấy biết đúng.

    “Vậy tùy theo mỗi chân tử mà hộ trì giúp đỡ Chánh Báo và Thọ Báo phân minh hiện hành đúng đắn hữu hiệu.”



    Đến đây Ngài đã minh định sẵn, sự tu hành tùy theo mức độ Tin Vâng Kính của mỗi Chân tử đối với con đường đạo mà Ngài đã dụng Vô Lượng Công Năng, Công Đức vạch ra, sẽ được giúp đỡ. Nếu Chân tử cầu Tri Kiến Phật đến Phật Tri Kiến gọi là con đường giác ngộ đến giác ngộ rốt ráo sẽ được Chánh Báo. Còn Chân tử tu cầu phước báo cũng được thọ báo nhân thiên. Đối với chúng sinh tu hành ngoài con đường Chư Phật, tự ý theo cái muốn cũng được thọ báo phân minh thật bình đẳng lớp lớp./-


    20. Pháp Trụ Kinh

    “Hồi Phật gần nhập Niết Bàn có di chúc với Tôn giả A Nan rằng: Sau khi ta đi rồi, đến đời mạt pháp các môn đệ của ta bỏ các giáo pháp, cứ tập theo cái thuyết không chánh đáng, chẳng chịu tu giới, tu định, tu huệ, lại nhóm nhau những đồ hung đảng ác, thấy ai có giữ được giới hạnh thì sỉ nhục chê bai. Vì cớ ấy nên các vị Thiên Long buồn sầu mà xa lìa, còn các vị Đại Thần và Trưởng Giả thì không sanh lòng tin kính Tam Bảo, làm cho Chánh Pháp muốn diệt.


    Từ đó về sau đám tỳ kheo ấy tạo ác càng ngày càng lắm, rồi nhờ có những người tỳ kheo khác biết giữ gìn sự thanh tịnh tu hành, lại đem Giáo Pháp của Như Lai mà diễn nói cho loài hữu tình nghe, làm cho cả thảy đều được phần lợi ích. Khi ấy lại có các vị Quốc Vương, Đại Thần, Trưởng giả, Cư sĩ và những Thiện Nam – Tín Nữ đều sanh lòng thương tiếc Chánh Pháp của Phật, thờ phượng nơi Tam Bảo cúng dường cung kính, tôn trọng, ngợi khen, hết lòng hết sức ra hộ trì cho đặng trùng hưng. Đó là các vị Bồ Tát lấy cái bổn nguyện rất to lớn mà sanh ra đời ấy đặng giữ gìn Phật Pháp và làm ích lợi cho chúng sanh như vậy”.



    Do như vậy mà Đức Tịnh Vương hóa thân Đức Di Lạc biết thời Mạt Pháp này khai đạo cho chúng sinh cầu Tri Kiến Giải Thoát họ phải Tin Vâng Kính bậc chỉ đạo mới tận độ cho họ có kết quả. Tỳ kheo thời Mạt Pháp, Đức Di Lạc cho hóa thân làm cư sĩ để đồng độ, dụng đời để chỉ bày tu tập nên được thanh tịnh hiện tại.

    Thời Đức Bổn Sư, một hôm Tôn Giả A Nan ngồi Thiền thấy con voi to lớn, hùng vĩ đang đứng bỗng nhiên rũ mình ngã lăn ra và có vô số con giòi ở trong thân tuôn ra làm tan rã thân xác nó. Một lát sau, con voi lại rùng mình đứng dậy thì tất cả các con giòi rơi xuống và biến mất, con voi trở lại to lớn, hùng vĩ như cũ. Tôn Giả A Nan giật mình thưa với Đức Bổn Sư về câu chuyện trên. Ngài đã dạy rằng:

    Con voi ngã lăn ra có vô số giòi tuôn ra là ý chỉ sau này thời Mạt Pháp Tăng Ni xuất gia, lớp con của Ta không tu tự tánh nên Chánh Pháp bị tồi phá trở thành Mạt Pháp. Sau con voi rùng mình đứng lên một cách hùng vĩ tất cả giòi biến mất ý chỉ sau này người cư sĩ đứng lên xây dựng lại Chánh Pháp./-

    21. Hịch Chứng Minh Bồ-Tát

    • Bậc cả đời tìm chân lý thì một đời tìm chân lý.

    • Bậc lượm lặt chân lý thì một đời lượm lặt chân lý, nếu suy nghĩ để tìm chân lý mà chưa nhận được thì một đời cũng chỉ suy nghĩ thôi chẳng nhận được.
    • Duy chỉ có đức tin THIỆN TRI THỨC mà biết thôi
    – Vô Sư Kinh.


    Hịch Bồ-Tát thi hành Ma-Ha-Tát:


    • Được trao Bảng Tôn-Giả. Tôi vào tu theo Pháp Tạng Phật Giáo được một năm, đến ngày 30 tháng 9 âm lịch năm 1970 trong Đại lễ chứng minh hàng năm, tôi được Đức Long Hoa Tăng Chủ Di Lạc Tôn Phật chứng minh và trao cho Bảng Tôn Giả.

    Sau 20 năm tiếp tục tu tập, tu hành qua muôn triệu gian lao khổ hải đầy thử thách, cùng những lần Ngài Diệu Dụng Phi tướng mục đích thi Đức Trí đầy chông gai, nhưng tôi vẫn chịu đựng, điều ngự, kiềm chế tất cả bộc phát hữu hóa của Ma nghiệp. Chân tử Ngài gồm 3000 đã bỏ tu không đến Trung Ương nhưng vẫn theo đường lối Ngài dạy tu ở nhà. Tại Nha Trang còn lại không quá 7 Chân tử, trong đó có tôi.


    Một hôm Ngài bảo tôi phải làm tờ sám hối:


    "Ông tưởng ông cúng dường vợ ông cho tôi hả, ông phải viết bỏ bê vợ con không lo đủ sự sống hàng ngày nên tôi phải hóa giải cho gia đình ông.”


    Từ năm 1975 trở về sau, gia đình nào cũng bị đảo lộn cuộc sống cơ cực. Phần tôi bị đi tù cải tạo không lo cuộc sống gia đình nổi làm Ngài phải khổ vì Tôi. Tôi biết, tận độ chúng sanh tánh là cái gì đến cũng vui chịu, không từ chối vì bậc Chánh Giác khai mở mà không thuận theo ắt bê trể. Tôi đã Tin Vâng Kính viết tờ sám hối dâng lên Ngài.


    • Được trao Hịch Bồ-Tát thi hành Ma-Ha-Tát. Bỗng 6 giờ 30 sáng ngày 23 tháng 7 năm 1989 tức ngày 21 tháng 6 âm lịch năm Kỷ Tỵ tại Trung Ương Hội Thượng, trước Chánh Điện nhang trầm bay thơm ngát khắp phòng, Đức Long Hoa Tăng Chủ tỉnh tọa trang nghiêm, đối diện Ngài gồm có tôi, Tôn Giả Pháp Bang, chân tử Tạng Thân, chân tử Diệu Hạnh ngồi như thường lệ thành nửa vòng cung. Ngài trao Hịch Bồ Tát, Bồ Tát Ma Ha Tát cho tôi và khai thị tôi nghe như vầy:

    “Này ông Pháp Khả, nay tôi ban Hịch Bồ Tát này cho ông. Chỉ một mình ông được Hịch này có đóng dấu và có chữ ký của tôi. Không có người thứ hai được bản chính này. Tôi có cho một số Chân Tử khác cũng Hịch này nhưng không có con dấu và chữ ký của tôi.”

    Xong Ngài nhìn sang Tôn Giả Pháp Bang và khai thị rằng: Pháp Bang con phải tu hai, ba kiếp nữa mới bằng Pháp Khả bây giờ. Còn Tạng Thân sau này con lấy cái học dạy người ta. Ngài vừa dứt lời, tôi liền đứng lên, tất cả ba vị có mặt cũng đứng lên nghiêm trang. Tôi lạy Ngài 7 lạy để tri ân Ngài đã ban Hịch cho tôi từ nay là một Bồ Tát thi hành Ma Ha Tát trong vũ trụ nối tiếp đường đi của chư Phật mười Phương Ba Đời.


    • Vô minh, ganh tỵ với Hịch Bồ-Tát. Khi Ngài vừa vào Bát Đại Niết Bàn thì Bà Tạng Trình với tư cách là vợ, bà liền không cho tôi tổ chức Đại Lễ, còn Pháp Bang thì lén bảo người quay video cắt hết hình ảnh của tôi trong Đại Lể Trà Tỳ của Đức Ngài. Liền trong Đại Lễ Pháp Bang bị tai nạn té xe ngồi một chỗ phải bỏ ra về.

    Còn chân tử Diệu Hạnh Ngài không dạy điều gì. Đối với chư Phật hai, ba kiếp nữa có nghĩa hai, ba đời Phật nữa. Vì trên thực tế một bậc tu còn nằm trong hố sâu vòng đai pháp giới là còn nằm trong vô minh triền miên đến vô số kiếp, rất khó tự mình vượt qua mê lầm đặng tỏ hết vô minh. Đại nhân duyên cao dày được gặp Phật Chánh Đẳng Chánh Giác hay Bồ Tát tạo dựng ra cho phá vô minh nhiều ít tùy bậc đó, mới tính một kiếp. Khi đã tỏ mới thông liền tự biết lối tu theo chư Bồ Tát, tiếp nối không còn lạc. Vì vậy kỳ này Ngài mới chỉnh trang lại, tu phải y tôn, y chỉ theo bảng chứng minh Tin Vâng Kính. Đó là đường đi của Chư Tổ, Chư Bồ Tát đến với Phật. Ai chê bai, tu tự ý cá tánh không đến được. Còn ông Tạng Thân lấy cái học dạy người ta. Có nghĩa học nghiên cứu kinh Phật giảng dạy bằng trí suy tưởng, bằng suy nghĩ, bằng suy luận. Bậc này chưa có trực giác.


    • Ngài thọ ký chỉ đào tạo một Bồ Tát thi hành Ma Ha Tát. Sáng hôm sau, như thường lệ mỗi khi từ Sàigòn ra Nha Trang tôi đến thọ pháp, Ngài thọ ký:

    “Sau này ông lai trần dạy Chư Tổ và đi trong lửa cầu Diệu Quả Bồ Đề. Ông phải biết chuyến Hạ Lai một kiếp Nhứt Sanh Bổn Xứ này, trên lộ trình hành đạo Tôi chỉ có đủ thời gian đào tạo được một Bồ Tát thi hành Ma Ha Tát mà thôi. Còn học trò Tôi sau này đói đạo họ đi tìm, ông dạy họ mới kết quả được.”


    Thời Đức Bổn Sư Thích Ca Mâu Ni Phật cũng vậy, khi Ngài Bát Đại Niết Bàn các vị Tôn Giả đều tự hào, nên không ông nào đến với Ma Ha Ca Diếp Tôn Giả. Chỉ có Tôn Giả A Nan được Ngài sắp Tổ thứ hai mới gần Tôn Giả Ca Diếp mà thôi.

    Thời này cũng quan niệm tôi và họ đều là chân tử của Đức Ngài nên dễ gì họ trực giác tỏ hết vô minh lầm lẫn. Thực ra khi một vị đã được Đức Long Hoa Tăng Chủ hóa thân Đức Di Lạc Tôn Phật ban hành Hịch Bồ Tát thi hành Ma Ha Tát thì bậc này đã được nhập thể vũ trụ, đã được Tương Thông Phật Lực khó nghĩ bàn. Vị này được đầy đủ lực cùng công năng công đức khai thị cho tất cả Tứ loài cùng Nhân, Thiên, Tiên, Thần, Thánh, Hộ Pháp Bồ Tát như Thinh Văn, Duyên Giác, A La Hán, Bích Chi Phật trong Tam Thiên Đại Thiên thế giới y như tôn chỉ của Hịch. Tất cả ai đi ngược lại, hoặc chê bai Bồ Tát đều bị bê trễ không những kiếp này mà còn vô số kiếp về sau.


    Lãnh đạo tối cao của Pháp Tạng là Đức Long Hoa Tăng Chủ Di Lạc Tôn Phật. Kế tiếp việc điều hành là Chánh Trưởng Ban Hộ Đạo Trung Ương. Ngài trao cho tôi nhiệm vụ này. Còn Ban Chấp Sự Trung Ương, các tỉnh, quận, xã cứ hai năm bầu lại một lần để tiếp xúc với chính quyền về các việc có liên hệ đến hành chánh.

    • Từ Bồ Tát thi hành Ma Ha Tát đến được đổi Pháp danh là Di Như.
    Tết cuối của Ngài năm 1993, vào ngày 12 tháng Giêng sau Đại lễ khai nguyên năm 1993, Ngài dạy tôi:


    “Ông Pháp Khả, ông là Thủ Khoa trong Hội, ông được đổi pháp danh từ nay là Di Như.”

    Tôi đảnh lễ Ngài ba lạy thọ nhận sự ban cho của Ngài. Trước đó Ngài cũng dạy chung cho nhiều chân tử nghe là Ngài sẽ đổi pháp danh tất cả được lấy họ Di, nhưng chờ mãi không thấy Ngài đổi cho ai. Thì ra Ngài diệu dụng cho biết để sau này có bậc đổi pháp danh sang họ Di, sẽ không có ngạc nhiên hoặc không chê bai nói bậc đó tự ý.


    Trên lộ trình tu cầu Chánh Giác, tôi đã từng bị nhiều người học trò, bạn bè, người thân thấy tôi Tin Vâng Kính Ngài tuyệt đối để cầu đạo, họ chê tôi là đồ ngu, đồ khùng, điên, là kẻ mất trí. Còn với thế gian thì tôi qua không biết bao khổ ải, chín lần chết đi sống lại vẫn bền chí cầu Diệu Quả Bồ Đề. Nhớ lại một kiếp quá khứ, kiếp này tôi đã gánh chịu khoảng 100 lần khổ hơn thời đi thỉnh kinh từ Trung Hoa sang Ấn Độ. Thật đúng, ai có qua cầu mới hay.


    Ngài thường bảo với nhiều chân tử: “Tôi đã dùng cả khối vàng bằng thân người ông Pháp Khả mới đúc ra được ông ta, thật quả là một kỳ công.”


    Sau khi được Ngài trao cho Hịch Bồ Tát, những lần từ Sàigòn đi Nha Trang thọ lãnh bảo pháp, Ngài thường đuổi tôi, la rầy tôi phản Ngài... Có nhiều chân tử của Ngài, thấy tôi bị như vậy họ vui mừng bảo tôi bị phế thải, sẽ có bậc khác lên thay điều hành việc dạy Đạo của Pháp Tạng.


    Họ rất nóng lòng chờ đợi nhưng không thấy Ngài thay người mới ngược lại, tôi vẫn điều hành việc đạo cho Ngài. Số con cháu Đề Bà Đạt Đa rất căm ghét, càng lúc càng tăng, càng lộ rõ. Họ họp bàn thủ tiêu tôi ba lần nhưng cả ba lần tôi đều thoát hiểm nguy. Phần bên ngoài thế gian, công an thành phố Nha Trang cấm Ngài hành đạo. Ngài thừa biết, nếu tuyên bố ai thừa kế Ngài bậc đó ắt bị chính quyền, cộng thêm những bậc tu của Ngài chờ giết.


    • Chỉ một bản chứng minh có con dấu, chữ ký hay là diệu kế của Khổng Minh. Một buổi sáng Ngài dạy tại Trung Ương cho tôi: "Ông đã nhận được Hịch có con dấu và chữ ký của tôi ông làm Tổ Thứ Nhất."


    Tôi đảnh lễ Ngài rồi lui ra. Ngài bảo: "Tôi thả ra mười bản như mười con lươn, không ai biết con nào mà chụp để cứu ông."


    Sau vài ngày trao Hịch, gặp tôi Ngài bảo: "Ông về Sàigòn ngay không thì có kẻ giết ông". Lúc đó có bà Diệu Khiêm cùng nghe.

    Thật vậy, sau này Ngài trao cho thêm khoảng mười Hịch Bồ Tát nhưng không có con dấu và chữ ký. Đa phần ai nhận được cũng hoan hỷ./-

    22. Lời Khai-Thị trước ngày Bát Đại Niết Bàn

    Đức Long Hoa Tăng chủ hóa thân Đức Di Lạc Tôn Phật khai thị trước ngày Bát Đại Niết Bàn.


    • Trước giờ phút Ngài nhập Bát Đại Niết Bàn.
    Bà Tạng Trình có hỏi, sau này Thầy đi rồi, ai thay Thầy dạy đạo. Lúc đó có Pháp Thao đứng cạnh bên. Ngài trả lời:

    – "Thì Tạng Trình làm chủ lễ phát khăn tang."
    Bà Tạng Trình thưa tiếp:

    – "Không, Tạng Trình muốn biết ai thay Thầy làm đạo tiếp
    ." Ngài làm thinh không trả lời, Ngài thừa biết nếu bà Tạng Trình biết Ngài trao cho tôi tiếp nối mối đạo, bà sẽ làm dữ và kéo theo số chân tử thù hằn chờ sẵn, họ sẽ làm chuyện nguy hại giết tôi nên Ngài làm thinh.


    Với tư thế gia đình, Ngài có viết tay trao tài sản cho bà Tạng Trình căn nhà số 6 đường Huỳnh Thúc Kháng và còn bảo nên giải tán Hội vì Ngài thừa biết bà Tạng Trình chưa bao giờ đứng vị trí Hộ Pháp trong suốt thời gian Ngài hành đạo nên khó giữ gìn và khó điều hành mối Đạo được vẹn toàn.


    • Đối với các Pháp Bảo Ngài còn dạy:


    – Bậc nắm Tâm Ấn thừa kế mối đạo không ở Nha Trang.


    – Qui Nhơn đất Phật nhưng không có Chân Tử xuất Thánh.



    – Đà Nẵng tu hành cần phải lìa bản ngã.



    – Huế tu thoát khỏi nghèo đói.



    – Chỉ có Sài Gòn thọ lãnh được Biệt Tôn Vô Thượng Chánh Giác.



    – Sau khi Tôi đi rồi chỉ có một vị làm Đạo theo gốc, số còn lại chỉ là bầy nhầy.



    Rồi Ngài trao cho Pháp Bảo London đôi Hài. Ý nghĩa đi hành đạo để thâm nhập vạn pháp. Vì đã thấy rồi mới đi hạnh nguyện khỏi vấp ngã.


    Tứ chúng Hoa Kỳ Ngài ban cho một cặp kiếng đeo mắt. Ý nghĩa phải tu cho có cặp mắt thấy vạn pháp. Thấy rồi mới đi hành thâm pháp giới được.


    • Ngài đã chứng minh thì không có sai. Cũng tại Trung Ương Hội Thượng, Ngài khai thị: “Cái cân tiểu ly cân vàng còn sai chứ tôi đã chứng minh thì không có sai dù một phần sai số rất nhỏ cũng không có.”


    Vì sao? Vì Chư Phật đã Tận Giác Tướng nên không hề có sai. Chúng sanh giải quyết một vấn đề cũng còn theo cạnh, góc, trong khi Chư Phật tận thấu vô lượng vô biên nên hóa giải, điều động vạn pháp theo vòng tròn nên kín. Tất cả sự vọ vạy của chúng sanh và hành sự của các bậc Thánh chưa hoàn mỹ nên làm gì cũng không ra khỏi vòng tròn. Do đó mà không qua được Chư Phật, không hiểu tận như Chư Phật.

    “Phật đạo thừa kế Nhất Tôn nên có sự bảo tồn Tôn Thể Chứng Minh Tâm Ấn. Vì vậy trong thời Lục Tổ Huệ Năng, bậc tu hành dù có Đắc Pháp hoặc đoạt đến chân lý Tri Kiến Phật cũng phải về lễ bái thọ lãnh chứng minh mới đặng vào Chân Bản Nhất Tôn Như Lai Tạng hoàn toàn Chánh Giác.” –T.V.


    Lời Ngài khai thị trong thời Hạ Lai Mạt Pháp này để nhắc nhở thời Lục Tổ dù bậc tu có đạt Tri Kiến Phật cũng phải có thừa kế chứng minh đến nay cũng theo y tôn, y chỉ rồi từ đó mới tu hành tiếp Phật Tri Kiến, từ đó mới Tương Thông Phật Lực theo mức độ tu chứng trong Cửu Phẩm Liên Hoa.


    Cho nên những vị chân tử Ngài sau này có đắc pháp cũng phải được Bồ Tát thừa kế kiểm tra chứng minh mới được vào Nhất Tôn Như Lai Tạng, hoặc Tổ thừa kế thứ hai... nối tiếp mỗi thời chứng minh cho mới đặng. Chân tử Ngài, vị nào không theo đường Ngài đã vạch ra cho thời mạt pháp này đều là những vị tu ngang, tu dọc theo chí hướng quy định vẫn không được Tương Thông Phật Lực, chỉ được cái máy nói mà thôi.


    “Trong thời gian qua tôi chứng minh giáo pháp là phẩm phương tiện cho tu hành, sau này có chân tử nào đắc đạo tôi chứng minh lại.”
    –T.V.


    • Ngài tuyên bố bải bỏ chức phẩm Giáo Pháp. Từ khi đã ban hành Hịch Bồ Tát, Ngài tuyên bố bải bỏ chức phẩm Giáo Pháp. Sau bao thử thách còn lại bốn giáo pháp, Ngài cho đem áo, mũ về Trung Ương rồi đốt sạch và bảo: “Những chân tử Pháp Tạng từ nay không được xưng danh giáo pháp.” –T.V.


    • Ngài ban cho y vàng chức Tôn Giả trở lại. Ngài ban bốn xấp vải vàng cho tôi, bà Tôn Giả Pháp Tùng, ông Tôn Giả Pháp Bang, ông Tôn Giả Pháp Kiến đi may bộ y vàng chức Tôn Giả trở lại.


    • Ngài bảo tôi may y, áo, mũ Bồ Tát. Sau tại Chánh Điện nhà số 6 Huỳnh Thúc Kháng, Ngài bảo tôi may y, áo, mũ Bồ Tát. Tôi tiếp nối đạo tràng, dạy đạo khi còn Ngài được ba năm đến năm 1993 Ngài nhập Bát Đại Niết Bàn, thì tôi đã điều hòa được đường tu theo vết chân Ngài cùng y tôn, y chỉ của ba đời Phật.


    Cho mãi đến năm 1995, có chân tử tu đông đủ tôi mới may áo, mũ Bồ Tát do sự hành đạo mà như nhiên Như Lai đến nhắc, khiến tôi phải thực hiện theo lời khai thị của Ngài ngày xưa.


    Tại số 6 đường Huỳnh Thúc Kháng, Nha Trang, một Bảo Tạng Kinh và Hịch cùng bảng chứng minh của Ngài do bà Tôn Giả Tạng Trình lưu giữ.


    • Bà Chân Tử cất giữ riêng cho cá nhân. Bà Diệu Hạnh là một chân tử thường đánh máy Kinh và các bảng chứng minh do Ngài làm ra. Bà cũng hay cất giữ riêng cho cá nhân bà khi đánh máy cho Ngài. Ngài diệu dụng tuyệt mỹ nên chân tử nào cũng thỏa thích, cũng thấy tình yêu thiêng liêng cao cả nơi Ngài.


    • Tổng kết các Tôn Giả còn lại. Đến năm 1975, sau bao thăng trầm, Ngài diệu dụng Tịnh Bất Tịnh, hữu tướng cùng phi tướng, tổng kết còn lại các Tôn giả:

    – Bà Tôn Giả Tạng Trình.


    – Bà Tôn Giả Pháp Tùng.


    – Tôn Giả Pháp Bang: Ông bỏ đi sau 3 năm, nhân duyên đi tảo mộ gặp Ngài gọi về. Sau bỏ đi một năm nữa. Rồi lần cuối tức giận Ngài, đi nửa năm cho đến khi Ngài vào Bát Đại Niết Bàn thì anh em kêu gọi, ông về Trung Ương nhưng không chịu lên thăm Ngài. Anh em thúc giục mãi ông mới lên thăm Ngài lần cuối. Ngài ôn tồn bảo: “Tôi biết ông đợi tôi chết rồi mới về.” Tôn giả Pháp Bang thuyết pháp hay nhưng còn phải thành công hành sự thâm nhập pháp giới nữa. Đây là một điều thật quan trọng cho một bậc Tôn Giả. Ngài chứng minh cho Tôn Giả Pháp Bang sau này sẽ giác ngộ.


    Bà Tôn Giả Tạng Trình và bà Tôn Giả Pháp Tùng đã được Ngài chứng minh sau này sẽ Liễu Ngộ, mức tu chứng sâu hơn Giác Ngộ.


    – Tôn Giả Pháp Kiến chỉ nói thao thao mà mắt không thấy pháp để hành sự. Ngài bảo Pháp Kiến sau này bị ngoại lai xâm nhập ráng tu cho Tri Kiến Phật.


    – Tôn Giả Tạng Thân Ngài ghi vào kinh nhưng chưa cấp phát y áo và bảng chứng minh Tôn Giả.


    – Tôn Giả Pháp Hậu: Chịu đựng giỏi, qua nhiều thử thách nhưng sau Ngài hủy bỏ chức Tôn Giả.


    Ngài không bao giờ quên hay thiều sót với Tứ chúng tu hành quanh Ngài. Ngài ban cho thật bình đẳng không sai chạy một pháp dù nhỏ đến đâu. Trước năm 1975 còn khoảng 10 Tôn Giả cũng được Ngài chứng minh, nhưng những vị này, sau những đợt thử thách không chịu nổi pháp nghịch đã bỏ đi nhiều năm không về, hoặc lâu lâu mới về thăm Ngài nhưng tránh né anh em trong đạo tràng. Còn hàng Giáo Pháp, Tôn Giả có nhiều vị từ năm 1975 đến năm 1993 do hoàn cảnh khó khăn trong gia đình, trong đạo tràng bất ổn, rối rắm họ đi biền biệt không biết gì diệu dụng của Ngài cho con đường Đức Trí tương song.


    • Đức Ngài chứng minh sau bao biến cố vẫn còn tu tập. Đại diện hàng Tôn Giả, Hộ Pháp ở Trung Ương và các Pháp Bảo Tỉnh tu Pháp Tạng sau bao biến cố còn lại vẫn tu tập, đến năm 1993 được Đức Ngài chứng minh.


    Tại Trung Ương Hội Thượng Nha Trang:

    1. Bồ Tát: Pháp Khả được đổi pháp danh Di Như.

    2. Hộ Pháp Bồ Tát: Tạng Bửu được đổi pháp danh Vân Đường dạy con cháu Đề Bà Đạt Đa.

    3. Bà Tôn Giả Tạng Trình.

    4. Bà Tôn Giả Pháp Tùng.

    5. Ông Tôn Giả Pháp Bang.

    6. Ông Tôn Giả Pháp Thao (chưa có chứng lệnh).

    7. Bà Hộ Pháp Diệu Hòa đã được khai thông Tạng Thức.

    Hàng Tôn Giả dù tu tỏ Như Tạng cũng còn phải tu cho đến mất TẠNG mới vào NHƯ. Và một số chân tử tín tâm vẫn còn tu tập tại Trung Ương nhưng không nghe Ngài khai thị chứng minh cho ai nữa vào hàng Giáo phẩm.


    Chỉ có một lần khi thành Quả Phật, Ngài chứng minh cho ba người: Tôi, Tôn Giả Tạng Trình, Chân tử Diệu Hạnh sẽ thành Phật. Chúng tôi đảnh lễ tri ân Ngài, sau đó Ngài bảo tôi nghe như vầy: Diệu Hạnh căn cơ Đại cường sẽ thành Phật Giới.

    Pháp Bảo Tỉnh Thị Hội Quy Nhơn:

    1. Bà Hộ Pháp Tạng Hiếu.

    2. Ông Hộ Pháp Pháp Quảng cần tạo đạo đức.

    3. Bà Hộ Pháp Pháp Liên. Riêng Tôn Giả Pháp Kiến, Ngài ban chứng lệnh không công nhận là chân tử tín thành nữa (bảng chứng lệnh còn lưu trữ).


    Pháp Bảo Tỉnh Thị Hội Đà Nẵng:

    1. Bà Hộ Pháp Tạng Sinh được Ngài chứng minh sẽ Giác Ngộ.

    2. Hộ Pháp Pháp Thành cần tạo trí tuệ.


    Quận 3 Đà Nẵng:

    1. Ông Hộ Pháp Pháp Đáo.

    Pháp Bảo Tỉnh Hội Thừa Thiên, Huế:

    1. Hộ Pháp Tạng Chưởng.

    2. Hộ Pháp Tạng Thoàn.

    Pháp Bảo Thành Phố SàiGòn:


    Năm 1981, Ngài cho tôi vào Sài Gòn mở Đạo, sau đó tôi dẫn dắt một số chân tử tín tâm hạnh nguyện đã trở thành Hộ Pháp. Hàng Hộ Pháp này tinh tấn làm Phật sự trong nhiều năm, tuy ở Sàigòn nhưng hành nguyện tất cả Phật sự ở trung ương đã được Ngài khai thông Tạng Thức.

    1. Bồ Tát Di Như.

    2. Hộ Pháp Tạng Khiêm.

    3. Hộ Pháp Tạng Thắng.

    4. Hộ Pháp Tạng Thông.

    5. Hộ Pháp Diệu Trâm.

    6. Hộ Pháp Pháp Cẩn.

    7. Hộ Pháp Pháp Trực.

    8. Tạng Thành in, phát kinh sau này làm Trưởng Giả. Như vậy, ông không tu giác ngộ nổi.


    Đức Ngài nhập Bát Đại Niết Bàn được 3 năm thì Tôn giả Pháp Thao và vài tín chúng tu chưa đủ tự tánh bị ma thuật dẫn dắt chạy theo bùa chú đã bị ngoại lai xâm nhập. Sau may thay Pháp Thao Trực Giác hồi hướng về lại Chánh Pháp.


    Chân Tử Tạng Thanh mới vào tu, có xin tôi chụp hình Hịch Chứng Minh Vũ Trụ, Hịch Bồ Tát, Hịch Tin Vâng Kính. Tôi đồng ý cho chụp hình để nương theo Bồ Tát Hạnh tu hành. Tạng Thanh không được chứng minh, chỉ thuộc hàng Chúng Sanh Hộ Pháp mà tự xưng và làm sai trái Tôn Chỉ, rất nguy hại. Tạng Thanh rất cần tạo đạo đức.


    Còn rất nhiều chân tử nữa ở Sàigòn tu hành theo Pháp Tạng nhưng không hạnh nguyện chung đường, chỉ có những vị trên đồng ứng lo hộ đạo ở Trung Ương.

    Tại Thủ Đô Luân Đôn ở Vương Quốc Anh:

    1. Hộ Pháp Tạng Thống.

    2. Hộ Pháp Tạng Tế.

    3. Hộ Pháp Pháp Vượng.

    4. Hộ Pháp Pháp Hoàn.

    5. Hộ Pháp Pháp Quí.

    6. Hộ Pháp Pháp Trao.


    Ông Tạng thống là vị Hộ Pháp tạo dựng mối đạo và nuôi dưỡng tín chúng tại Luân Đôn đầu tiên. Sau Hộ Pháp Tạng Thống được khai thông Tạng Thức, Ngài chứng minh sẽ được Giác Ngộ.


    Bà Pháp Quí là một chân tử tín tâm cầu đạo đã được Ngài khai thông Tạng Thức, sau này trực giác sẽ giác ngộ.


    Tại Hoa Kỳ:

    1. Hộ Pháp Tạng Ảo cần tạo Đạo Đức.

    2. Hộ Pháp Tạng Quảng.

    3. Bà Hộ Pháp Diệu Hoàng đã được khai thông Tạng Thức.


    Sau 10 năm Ngài Nhập Bát Đại Niết Bàn, một số Hộ Pháp ở Hoa Kỳ không tạo Đạo Đức, lại háo danh căn không thể hiện được tinh thần Hộ Pháp đã được xóa bỏ tên trong danh sách này.


    Là Chánh Trưởng Ban Hộ Đạo Trung Ương và được thọ lãnh Hịch Bồ Tát Ma Ha Tát trước ba vị vừa Tôn Giả và tín chúng, tôi được Ngài khai thị lần lượt ghi chép lại. Chân tử Ngài gồm 3000 người, kết chung còn lại Bồ Tát, Tôn Giả, Hộ Pháp, như kể trên. Còn số đông gần 100 vị tín chúng ở các nơi vẫn tín tâm tu hành nơi các Pháp Bảo Pháp Tạng theo tổ chức.

    Ngài chứng minh 36 vị Tổ nối truyền thừa kế xây dựng Chánh Pháp trường tồn 5000 năm. Cũng theo lời Ngài khai thị: Chư Tổ sau này tu chứng từ Giác ngộ đến Liễu ngộ tức A La Hán là cao nhất thuộc hàng Thánh, chớ nên xưng Phật trong khi công năng, công đức chưa đủ.


    Khi đã gặp Ngài kiếp này, tất cả đều chứng kiến, sự tu hành vô cùng khó, tiến bộ từng bước một nên mai sau chớ có dùng thần thức phóng đại xưng Phật nữa. Nếu vị nào sau này có đắc pháp Vô Thượng Đẳng Chánh Giác cũng phải chờ đến bao giờ gặp Bồ Tát đã được chứng minh đắc pháp Vô Thượng kiểm tra, chứng minh cho mới vào Chân Bản Nhất Tôn Như Lai Tạng.


    Ngài cũng lưu lại và ban hành Bảng chứng minh Tin Vâng Kính, các Tổ kế đời sau nên giữ gìn vì đó là y tôn, y chỉ của Đức Long Hoa Tăng Chủ hóa thân Đức Di Lạc Tôn Phật đại diện Chư Phật mười phương ba đời.


    Thời Hạ lai Mạt Pháp này, Ngài chứng kiến Chư Tổ, bậc hữu học xưng Phật dẫy đầy trong khi công năng công đức chưa đến mức đó.


    Quý thay lời dặn Thế Tôn

    Nguyền xưa năm ấy vẫn còn nhớ đây

    Thời Hạ pháp khó đắp xây

    Chứng tu, tu chứng dẫy đầy khó phân

    –T.V.

    Chư Tổ, bậc chân tu sau này có sở đắc một trong ba phẩm hoặc cả ba như Vô Sanh Pháp Nhẫn, Bình Đẳng Tánh Trí, Thực Tướng Vô Tướng Tam Muội Pháp Môn, những phẩm này giúp cho hành thâm pháp giới nhập Thánh, biết rõ bổn lai vạn pháp. Còn phải hạnh nguyện cho đến giác ngộ... đến liễu ngộ nữa mới trở thành vị A La Hán./-

    23. Diễn văn được Đức Di Lạc chứng minh

    • Bài diễn văn Chân Phật Tử Pháp Khả đọc trước Đại Hội sau đó được Đức Long Hoa Tăng Chủ hóa thân Đức Di Lạc Tôn Phật chứng minh.

    Nam mô Đông Độ Dược Sư Lưu Ly Quang Như Lai.

    Nam mô Tây Phương Cực Lạc Thế Giới A Di Đà Phật.

    Nam mô Giáo Chủ hiện tại Bổn Sư Thích Ca Mâu Ni Phật.

    Nam mô Di Lạc Tôn Phật.


    Kính Bạch Đức Ngài, hôm nay, ngày 29 tháng 9 năm Mậu Thìn tức năm 1988, trong giờ phút tôn nghiêm với kim thân đầy kính ái, Ngài đang thị hiện chứng minh đại lễ. Với y áo thiên thừa chỉnh tề Tứ Chúng trong và ngoài nước tề tựu với tất cả tâm thành kính tín thành, con đại diện tứ chúng thời Hạ Lai Mạt Pháp, kính trình lên Đức Long Hoa Tăng Chủ hóa thân Đức Di Lạc Tôn Phật con đường tu đến kết quả chân lý Tối Thượng Thừa hiếm có mà Đức Ngài đã tốn biết bao công ban cho chúng con.


    Kính bạch Đức Ngài, chúng sinh giai hữu Phật tánh vốn viên minh sẵn có từ vô thủy vô chung, nhưng do tập khí nhiễm tham, sân mới hiện si mê, mới có ma tánh phủ kín che Phật. Ma tánh liền có Ma Lực làm cho tứ loài đều bị trị khó vượt qua được pháp giới của ma lực. Trên thực tế, muốn thoát khỏi vòng đai pháp giới của ma lực phải thành khẩn tìm cầu Bậc Thiện Tri Thức là Phật hay Bồ Tát Ma Ha Tát chỉ đạo để tự mình tạo công năng, công đức tương ứng. Tùy theo mức độ Tin Vâng Kính mà được cứu độ bình đẳng lớp lớp.


    Bậc tu lịch trình thứ tự đầu tiên phải niệm niệm sửa tánh, trong đó nhẫn nhục rất cần thiết để xem xét kỹ vạn pháp, bá thiên vạn lần nhẫn mới đặng bình tĩnh quan sát vạn pháp không bị thiên lệch, biết nhận định lỗi lầm do mình gây ra hay do hành động cá nhân, cá tánh của mình tác tạo thành nghiệp không phải do ai khác, Bậc Thiện Tri thức khai thị nhưng phải chính mình trực giác được nghiệp thức di chuyển không ngừng do cảnh, chẳng vương theo cảnh, chẳng dựa theo tâm. Trực giác được như vậy gọi là bậc tu có trí tuệ căn bản.


    Bậc biết nhẫn, chịu sự oán hại, yên nhận khổ, không còn đọng vọng thì dù có đối diện vạn pháp thuận hay nghịch vẫn nhẫn nại, an nhiên tùy thuận, chọn lựa phương thức hóa giải, vận chuyển vạn pháp tùy thời gian, không gian đến một lúc nào đầy đủ công năng, công đức liền Trực Giác đặng Trí Tuệ Cứu Cánh. Từ đó tiếp tục hành thâm pháp giới tiến đến trí tuệ Bát Nhã. Trí này chính là kiếm bảy báu chém bất cứ vật gì dù rắn chắc đến đâu cũng tan vỡ. Bậc đạt được trí tuệ bát nhã không còn tâm sanh cảnh, thấy biết rõ tham, sân hận sanh ra si mê. Đã si mê bị lầm a tăng kỳ kiếp.


    Phải tự nguyện bá thiên vạn lần nhẫn nhục, nhẫn nại nữa, vận chuyển vạn pháp gì cũng đúng mà phát sinh trí tuệ bát nhã, thâm nhập được sâu đậm vạn pháp, lúc đó nhận được hành dụng Như Lai Tạng mới ra chân như, tỏ rõ sạch sẽ nhẫn nhục liền Thị Chứng Vô Sanh Nhẫn Nhục. Đến lúc thành tựu sung mãn nhẫn nhục nó chính là Vi Trần Phật còn gọi là Phật Giới Nhẫn.

    Cho đến vào bố thí, hóa giải tỏ rõ được Tâm Bi liền thị chứng Vô Sanh Bi nó chính là Vi Trần Phật còn gọi là Phật Giới Bi. Cho đến trì giới, tinh tấn, trí tuệ, thiền định, hóa giải sạch sẽ liền thị chứng vô sanh trì giới, vô sanh tinh tấn, vô sanh trí tuệ, vô sanh thiền định.


    Nó cũng chính là vi trần Phật còn gọi là Phật Giới Trí, Phật Giới Tinh Tấn, Phật Giới Tuệ, Phật Giới Thiền Định, thảy thảy đều vi trần Phật. Từ hành động, lời nói cho đến tư tưởng đều lớp lớp thị hiện vi trần Phật, sát na Phật, cho đến vô lượng vô biên thảy đều thị chứng VÔ SANH lớp lớp.


    Bậc tu khi hành thâm pháp giới được ai khen tặng liền như nhiên tỏ biết vui, khi gặp kẻ chửi mắng hoặc bị nhục liền như nhiên tỏ biết tái tê nhưng chẳng dính mắc oán hờn xâm chiếm toàn thân liền thị chứng VÔ SANH. Đó chính là Nhất Tâm đảnh lễ, liền trực giác tứ thời tự nguyện cung kính cúng dường Như Lai, chẳng còn ngã, sở hữu chi nơi thân mạng mới gọi là có thân mà không thân đặng Pháp Đảnh Như Lai, thấu đạt Trí Tuệ Bát Nhã, nhận chân được thật đúng các pháp vốn bình đẳng, thực hiện bình đẳng không ngăn ngại vạn pháp. Thị chứng tứ đại vốn vô sanh. Nó là thực tướng của chân như, xa lìa được sanh diệt.


    Mỗi tánh đều hàm chứa nhiều phẩm chất cùng phẩm lượng thực tướng vô tướng, chúng vao vây diễn hóa. Tỏ rõ thực tướng hóa giải, không thủ cũng chẳng xả liền thấu đạt vô tướng, ngộ vô sanh.


    Nương vào sanh, tỏ rõ sanh. Không sanh cũng chẳng diệt. Thị chứng vô sanh sanh.
    Nương vào tử, tỏ rõ tử. Không cấu cũng chẳng ly. Thị chứng vô sanh tử.


    Vậy vô sanh chẳng phải không sanh mà đương sanh tỏ thấu sạch sẽ liền thị chứng vô sanh. Trực giác: Giác niệm đó chính là niệm Bất Tử là chơn niệm cho đến cả cái niệm cũng không trong tất cả thời đều không chỗ đắm cũng chẳng chấp. Chơn Tâm hiện.

    Nghiệp bao vây, diễn hóa ngăn chặn mỗi mỗi hạnh nguyện. Bậc có trí tuệ cứu cánh sáng soi, tỏ rõ hóa giải. Bậc chưa có trí tuệ cứu cánh liền củng cố nghiệp. Mỗi Nghiệp chính một tiểu ngã vũ trụ.


    Tiểu ngã do ta lầm chấp mà thọ nhận nên làm chúng sanh. Nghiệp thấy nghiệp, chính nó thấy nó, nó ngăn che nghe thấy biết nơi ta rất tinh vi, ai cũng phải lầm, tỏ rõ liền thị chứng vô sanh nghiệp.


    Cho đến nương vào sắc, hóa giải tỏ rõ sắc liền thị chứng Vô Sanh Sắc. Đấy là giác niệm sắc. Vô sanh cũng không, liền thị chứng liễu vô sanh. Nương vào thinh, hương, vị, xúc, pháp hóa giải tỏ tường liền thị chứng vô sanh thinh, hương, vị, xúc, pháp, tức giác niệm thinh, hương, xúc, pháp.


    Tỏ rõ mỗi tiểu ngã, trực giác mỗi giác niệm. Tỏ rõ vô số giác niệm chính trực giác vô số tiểu ngã, chính vô số vi trần, sát na ma ba tuần, mỗi mỗi tỏ rõ hóa giải liền lạc trơn liền vô sanh hành dụng hợp hóa. Đó chính Vi Trần Phật Sát Na Phật. Phật tánh, Ma tánh chỉ là một, chúng đeo sát nhau như hình với bóng. Khi mê lầm Phật tánh ẩn trong Ma tánh, khi trực giác được Ma tánh không còn chỗ dung chứa thì cũng chính nó, Phật tánh hiện khắp khắp.


    Mỗi chúng sanh đều hàm chứa nơi nó cái mầm chủng tử thiện cùng ác, về phương diện trực giác được chẳng còn có thiện ác gì nữa cả. Trong pháp tuyệt đối, tất cả pháp ấy chẳng còn là tội lỗi nó chỉ trở thành tội lỗi trong những điều kiện đã được minh xét chưa trực giác. Bậc đã trực giác cần phải thâm nhập hàng vạn pháp giới cho sung mãn công năng công đức để cho nó phổ chiếu rực rỡ đích thực của nó.

    Thị chứng lớp lớp liền Đại Ngộ. Liễu sanh Đại Ngộ liền thị chứng Liễu Ngộ. Liễu ngộ thị chứng bất tử trở về bổn nhiên, như nhiên. Như nhiên chính bổn lai chúng sinh. Chúng sinh như nhiên rất gần chư Phật. Thể của chư Phật, đâu đâu cũng viên minh thường còn, bất biến sẵn lớp lớp từ vô thủy vô chung.


    Vỡ lẽ ra mới biết không có chúng sinh đâu có Phật, không có vô minh đâu có giác ngộ. Khi đầy đủ công năng công đức thể nhập chúng sinh, cận kề mật thiết thì Phật với chúng sinh đồng một thể nên khi mê lầm bị vô minh thì Phật và chúng sanh xa nhau muôn trùng do tuần.


    Chính vì vô minh mà chúng sinh không biết Phật, chỉ Phật biết chúng sinh mà thôi. Đã vô sanh nên thị chứng Không Tướng mà Giác Tướng. Liễu vô sanh các pháp bất sanh bất diệt, bất cấu bất tịnh, bất tăng bất giảm. Liễu vô sanh thị chứng các pháp hiện đâu đâu cũng vi diệu đầy đủ sức đại từ đại bi.


    Bổn lai của pháp vốn tự thể tuyệt đối, chính giao điểm này Tâm Chư Bồ Tát cung kính cúng dường chư Phật. Chính chỗ này Tâm Chư Phật mười phương ba đời thường trú, viên minh chẳng đổi dời, bất di bất dịch, vô thủy vô chung chẳng còn pháp nào cao hơn, thị chứng các pháp hiện đồng đẳng, đã đồng đẳng tâm liền vô thượng đẳng, pháp cũng vô thượng đẳng, trí cũng vô thượng đẳng. Chẳng còn tâm nào, pháp nào cao hơn. Bất khả tư nghì. Vì sao?


    Vì nó vượt quá sự thuyết giảng, sự thực hành, sự tìm kiếm, suy nghĩ không thể lấy thí dụ thế gian mà diễn đạt đầy đủ được.

    Pháp đồng đẳng thị chứng pháp Bát Nhã, tâm đồng đẳng thị chứng tâm bát nhã. Tâm này thoát khỏi tri thức, không còn dùng trí trong thân, không còn dùng thần thức suy nghĩ. Đó là chỗ tự chứng rất thâm sâu vi diệu như nhiên tự biết, hồn nhiên điều hành Như Trí gọi là chủ lực, nó cũng là Nhất Thiết Trí bước vào Bất Khả Tư Nghì.

    Đó chính là con đường Như Lai Thừa hay Phật Thừa Tối Thượng. Con đường này không có lúc trước cũng chẳng có lúc sau vì nó nhịp nhàng viên dung theo nhịp chuyển vận của vũ trụ, cho nên không thể nói lúc trước ông ấy trông dễ mến, bây giờ ông ấy xấu quá không ưa. Vì Phật Thừa vốn nương vào hiện sinh tỏ rõ hiện sinh sạch sẽ hiện sinh nên tiên liệu đưa đón kín nhiệm theo vận chuyển Như Lai, giờ phút trước, sau chẳng dừng, nhịp nhàng nương tâm mình an nhiên hòa nhịp vào tâm vũ trụ. Tâm vũ trụ tức tâm Như Lai, nhờ Bình Đẳng Tánh Trí tỏ tường cùng hành dụng tinh vi mới thấu đạt liền lạc Thực Tướng Vô Tướng Tam Muội Pháp Môn.

    Chủ trì được thực vô, liễu sanh liền lạc, lúc bấy giờ tâm mới hòa đồng chung cùng giao cảm vũ trụ, không còn bị vũ trụ sanh.


    Đã vô sanh, các pháp đâu còn sanh và diệt. Pháp vốn thường còn nhưng biến hình tướng dưới nhiều hình thức cho đến nỗi bậc Thinh Văn, Duyên Giác, A La Hán cũng chưa đủ công năng công đức thấy hết chỉ hàng Bồ Tát đã thị chứng pháp Vô Thượng Đẳng mới biết hồi hướng đầy đủ để chư Phật khai cho sau trực ngộ sâu mà thấu đạt.


    Bậc tu chưa tỏ thường lầm lẫn khi thấy hình tướng của pháp mất hay thấy tướng pháp sanh, vội cho là pháp sanh diệt. Thật ra các pháp vốn tịch tịnh viên minh, bất sanh bất diệt.


    Bậc tu bị mang danh giả ngã tướng tức thị danh bị lầm thọ nhiễm cái ta, khi đã có cái Ta, tức có Của Ta, nhận sai lầm các pháp cho là sanh diệt. Do chủng tử Ta liền sanh chủng tử phiền não của Ta, nó ngăn che Vô Thượng Giác.


    Khi tu hành đến lúc tự biết được các pháp vốn không sanh cũng chẳng diệt liền nương vào pháp hóa giải tỏ rõ không còn lầm pháp, tận tường pháp được an vui lạ thường.

    Đến giai đoạn tâm liền lạc, tỏ ngộ trước sau tứ thời các pháp vốn đồng đẳng, liền chu đáo trước sau mới sở đắc viên dung, điều hành được vạn pháp, chuyển pháp chướng ngại, ngăn đón to lớn phủ kín như núi tu di tan biến, pháp đã hồi Tâm. Gọi là chuyển núi Tu Di vào trong hạt cải mà chúng sinh trong thế giới đó chẳng hề hay biết.

    Bậc tu thấu đạt tứ thời Tâm Vô Thượng Đẳng, không còn thời gian cùng không gian rời rạc, liền hóa thân lúc nào cũng có ba đời Phật.


    - Hư không không tận hiện Phật quá khứ.

    - Trong hư không không tận khởi tác dụng, hiện Phật Vị Lai.

    - Nương vào hiện sanh, hóa giải thấu đạt hiện sanh, Phật hiện tại.


    Lúc bấy giờ bậc này hiện mỗi ngôn ngữ, mỗi cử chỉ, mỗi tư tưởng ứng cùng hóa hiện đồng một đại từ lực cùng Tam Thế, được tương thông Phật lực. Thị chứng vô vô minh diệt, vô vô minh tận, tứ thời an lành thoải mái, mỗi một chuyển động đều tự phát ra vi diệu pháp, thực hiện được vạn hạnh cho đến lúc hoàn mỹ mới chu đáo Nhất Hạnh. Đại bi nguyện rất sâu này của Bồ Tát chẳng có thể lấy cái tình của chúng sinh mà đo lường được.


    Từ đó mới rõ, bậc tu không tạo được Vô Thượng Trí đều nằm yên nơi thần thức vọng loạn để biết chưa vào được đúng mức chiều sâu. Thần thức là chỗ dựa của sanh tử. Chỉ khi nào đầy đủ sung mãn nơi công đức hữu lậu, trong đó hàm chứa vô biên đại công đức hi hữu mới như nhiên thị chứng Công Đức Vô Lậu.


    Nơi đây các nghiệp lậu hết vĩnh viễn, chẳng còn theo duyên mà tăng, tánh được thanh tịnh, được tròn sáng đâu đâu cũng là chủng tử vô lậu. Có đạt đến vô lậu mới trực ngộ vô úy, nơi các pháp chướng ngại, các nghiệp sinh tử đều hết, viên dung, không còn có chỗ sợ, hết khổ gọi là chánh đẳng giác vô úy.


    Từ đó bát nhã hiển hiện, chính huệ không sanh, không phân biệt. Huệ không pháp, không phân biệt. Thực tướng bát nhã chúng sinh vốn đủ, chỉ do vô minh che không nhận được vô tướng bát nhã. Do đó chẳng được tam muội.


    Vào được trí bát nhã, bậc tu mới từng lúc trong tứ thời hạnh nguyện được đầy đủ Thập Nhị Địa. Chưa thị chứng sạch sẽ Nhứt Thiết Chủng Trí bậc tu chẳng thể nào thực hiện được giác dụng, do đó chẳng bao giờ có vô thượng đẳng trí, dù cho bậc tu cố gia công tứ thời thiền tọa, học, nghiên cứu thiên kinh vạn quyển vẫn phải còn bị ở vị trí thần thức biết Phật pháp, khó thoát sinh nổi lý trí.


    Bậc thực hiện được tận biết "Như Lai Vô Biên Thề Nguyện Sự" bậc này càng gần gũi chúng sinh, càng thấu đạt chúng sinh mà chúng sinh chẳng hề hay biết. Mỗi niệm niệm đều cảm ứng tương thông, hòa hợp đầy đủ Thập Nhị Địa, hoàn tất cửu Phẩm Liên Hoa vào Tam Muội mới tương thông Mười Phương Phật lực.

    Kính bạch Đức Ngài, chúng con nguyện nương vào vạn pháp hiện sinh khéo thuyết, khéo dụng để tận tường hiện sinh đặng thị chứng vô sanh, chung cùng con đường bất tử với chư Phật mười phương ba đời.


    Chân Phật Tử Pháp Khả Đại diện tứ chúng kính dâng.


    • Trước ngày Đại Lễ, Ngài đã biết tôi sở đắc Vô Thượng Đẳng Chánh Giác.

    Trong giờ hành lễ Ngài khai thị tôi nghe như vầy:

    “Này ông Pháp Khả, thiên thu vạn kiếp ông đã đi lầm lạc, nay ông gặp Ta, Ta đã thương mến độ cho ông, vậy ông hãy thương mến độ chúng sinh cũng như Ta đã từng thương mến độ cho ông.

    Nếu có chúng sinh nào cầu Tri Kiến Giải Thoát, ông hãy dạy cho họ tri kiến giải thoát. Nếu có chúng sinh nào cầu giác ngộ rốt ráo ông hãy dạy cho họ giác ngộ rốt ráo. Này ông Pháp Khả, ông có nghe chăng, ông có nhớ chăng?”

    Tôi đảnh lễ Ngài thọ lãnh lời thọ ký, tứ chúng trong đại lễ cùng đồng đảnh lễ theo bảy lạy. Sau đó Ngài khai thị có một số chân tử Pháp Tạng cùng nghe:

    “Từ nay Tôi đã có một Bồ Tát thừa kế nối truyền Chánh pháp, Tôi hết lo sau này trên đường hạnh nguyện độ sinh nếu ông gặp Ngài Địa Tạng Vương Bồ Tát, Quán Thế Âm Bồ Tát, ông nên tôn kính, còn những bậc xưng hô Vô Thượng Đẳng, Vô Thượng Sư, ông hãy thân cận hòa đồng xem có phải vô thượng đẳng, vô thượng sư của chư vị này giống Chân Như mà tôi đã dày công đúc ra ông? Nếu chẳng đúng tâm ấn chân truyền thì ông phải biết Vô Thượng Đẳng, Vô Thượng Sư, học thuyết, giả thuyết chớ không phải chân thật.”

    Thời Hạ Lai vũ trụ xuất sanh chỉ có một Chân Tôn chứ khó lòng có hai mà nếu có, ắt đã từng gặp Phật cùng thời rồi. Thời khoa học này có vị tu theo nghiên cứu Kinh, học kinh tự cho vô thượng đẳng vô thượng sư lại bảo không có các cõi, không có địa ngục, chỉ có thế gian. Sự kiện này khiến cho vô số chúng sinh sống thác loạn chẳng sợ ngày mai nhân quả ra sao. Đức Long Hoa Tăng Chủ ghi chép trả lời như sau:

    “Từ Chư Thiên mà hết phước, phải sa địa ngục bị hình phạt gông cùm đói khát. Từ một lời nói tổn làm đoạn duyên Phật phải chịu nơi A Tỳ Địa Ngục hàng trăm kiếp, chừng nào kẻ kia phát Bồ Đề Tâm Nguyện thì chừng đó lời nói tổn kia mới đặng thoát sanh. Thật biết như thế nên thường khuyên nhiều người hãy phát tâm tu nguyện cốt giải Địa Ngục những kẻ phạm ngôn.” –T.V./-

    24. Ngài khóc vì chờ Tăng Ni quá lâu


    Bậc tu hành cho mình là phải thì bậc ấy chỉ đứng một phía của đạo thôi. Bằng bậc tu hành tìm kiếm được tất cả đều là phải. Nó do một nơi nào mà có phải thì bậc ấy mới mong đến Phật.


    –Vô Sư Kinh

    Đức Long Hoa Tăng Chủ hóa thân Đức Di Lạc Tôn Phật khóc cho Tăng Ni.


    • HT Thích Thanh Từ đọc chê một bài Giáo Ngôn của Đức Ngài viết dở.

    Một hôm Ngài bảo tôi đi Vũng Tàu gặp chân tử Pháp Hương, tôi đem một bài giáo ngôn cho Pháp Hương đem tặng Hòa Thượng Thích Thanh Từ. Ông Thích Thanh Từ đọc chê viết dở.


    Hai năm sau, tình cờ khi gặp tờ báo Giác Ngộ ở Sàigòn xuất bản, Ngài đọc bài nói về nhân duyên của Hoà Thượng Thích Thanh Từ. Đọc xong, Ngài Long Hoa Tăng Chủ bảo, lấy cái bàn, cái ghế thí dụ là còn có tướng mới thấy, trong bài không có đoạn nào chỉ về tự tánh. Ngài mới bảo tôi ráng cho Hoà Thượng này một bài giáo ngôn nữa.


    Tôi đi Vũng Tàu gặp bà chân tử Diệu Minh, đưa cho bà một bài giáo ngôn nữa của Ngài viết tựa đề “Vạn Pháp Với Chúng Sanh” tặng Thiền Sư Hòa Thượng Thích Thanh Từ.


    Hoà Thượng đọc xong nói: Viết gì kỳ quá, chê xong Hoà Thượng trả lại. Thì ra Hoà Thượng học, nghiên cứu chứ không tu tự tánh nên đọc không hiểu. Vậy mà viết chìa khóa tu Phật! Tôi về thưa lại, Ngài làm thinh.


    • HT Thích Thông Bửu không cho Phật Tử tu theo Đức Ngài.

    Cũng một hôm bà Diệu Phát ở Sài Gòn là Phật tử của Hòa Thượng Thích Thông Bửu ởchùa Quán Thế Âm Sài Gòn. Bà theo tu thiền Đức Long Hoa Tăng Chủ. Biết thế Hoà Thượng Thông Bửu la rầy bà Diệu Phát và bảo: Theo thiền tà đạo sau này điên, mày đừng về báo tao. Rồi hòa thượng cho một vị phó chùa đến nhà bà Diệu Phát dán bùa của ông ta khắp các cửa để trừ tà! Sau bà Diệu Phát về thăm chùa, Hòa Thượng giận mắng la om sòm vì bà vẫn tiếp tục tu thiền theo Ngài Đức Long Hoa Tăng Chủ.


    • HT Thích Minh Châu không có thời giờ đọc Như Lai Thiền của Đức Ngài.

    Cũng một hôm tôi vào trung tâm nghiên cứu kinh ở Vạn Hạnh, Sài Gòn lúc 11 giờ trưa. Khi tôi vừa vào cổng lớn thì có một vị hộ pháp vô hình ra đón, tôi liền nói muốn gặp hoà thượng Thích Minh Châu (viện trưởng có bằng tiến sĩ Phật học).

    Khi tôi tiến đến chánh điện, giờ này vắng vẻ, cảnh vật cũng yên lặng bỗng hòa thượng Thích Minh Châu y áo thiên thừa chỉnh tề cũng vừa từ trên lầu bước xuống đứng cạnh chánh điện.


    Sau khi lễ Phật xong, chào hòa thượng tôi hỏi: Thưa hòa thượng, có phải hòa thượng là Thích Minh Châu không?


    Hòa thượng trả lời: Phải, chính tôi.

    Tôi tiến gần và thưa: Tôi có quyển Như Lai Thiền muốn cho Hòa Thượng mượn.
    Hòa Thượng trả lời: Tôi không có thời giờ đọc.


    • Tiếc thay không Tăng Ni nào nhận được một câu Kinh của Đức Ngài.
    Những sự kiện trên, tiêu biểu cho giới tu xuất gia (Thiên Thừa Hạnh) thời Hạ Lai Mạt Pháp này, các vị có học trò theo tu khá đông. Các vị đều được gọi là hoà thượng, thiền sư, nhưng cũng lại tiếc thay không nhận được một câu kinh của Đức Long Hoa Tăng Chủ hóa thân Đức Di Lạc Tôn Phật trong thời khai đạo ở thế giới Ta Bà này.


    “Các bậc tu hành nên thận trọng lúc đang tu, khi thuyết pháp rất hay in tuồng Thánh Tăng hoặc Tiên, Thần, Thánh ý nhưng ngược lại chính bản thân nơi mình chưa hiểu đặng lời thuyết minh trên hay chưa đặng quả vị như thế để tương xứng chớ nên thọ ngã. Phật dạy nên nương vào công đức Như Lai mà thuyết pháp.

    Chính nơi tự giác nói thảy đều là lời Phật ngữ nói, bằng chẳng dùng lời tự giác nói tức lời ma thuyết tưởng vọng nói. Đoạn này rất cần cho bậc tu hành lưu ý.”
    –T.V.

    • Ngài ngồi khóc vì chờ 'họ' đã quá lâu.

    Qua những sự việc trên Ngài than: Tăng Ni bây giờ chăm học kinh, nghiên cứu kinh, gặp pháp gì nghịch ý liền chướng. Chẳng lẽ nhà bác học là bậc giác ngộ sao? Rồi Ngài ngồi khóc.


    “Sau này Tăng Ni có đến, ông nói Tôi chờ họ đã quá lâu.” –T.V./-


    Bút ghi trên đường hành đạo


    TU VỚI MA, THỜI PHÁP ĐẦU TIÊN

    Khoảng tháng 8 năm 2002 tại San Jose, Hoa Kỳ ông Nguyễn Phước (*) đến gặp Thiền Sư Bồ Tát Di Như xin học Đạo. Thiền Sư sau khi nghe qua hỏi: "Ông nói Tu Phật bằng cách đọc Kinh, đi Chùa, ăn chay rồi cũng ngồi thiền, làm việc thiện. Vậy ông đã gặp Phật bao giờ chưa?"


    Ông Phước tỏ vẻ suy ngẫm: "Dạ thưa thầy(*) chưa bao giờ".


    Thiền Sư: "Thế giới này bị điều khiển trùm khắp bởi Ma Tánh nên nó chính là Thế Gian chớ không phải Thế Ngay. Đã là Thế Gian thì Phật bị Ma che phủ kín suốt suốt".

    Hớp ngụm trà, Thiền Sư tiếp lời: "Người như ông chưa bao giờ thấy Phật lại hăm hở tự cho mình biết Tu Phật thì ông chính là kẻ hoang tưởng. Thế gian này làm gì có Phật để Tu. Ngược lại ông đang bị lừa phỉnh để nhìn Ma ra Phật rồi tự ông chui đầu vào Tu với nó từ hết một kiếp cho đến sang muôn kiếp khác."


    Đến đây ông Phước bỗng cảm thấy bị giật ngược vì lời nói vừa nghe lạ quá chưa bao giờ được nghe. Thiền Sư tiếp:


    "Ông nghe đây: Hôm nay ông đang ngồi trước tôi đó là do Công Đức sâu dày của ông từ nhiều kiếp trước nên mới lãnh hội những lời minh thuyết này. Ông nên ghi nhớ rằng: ông phải Tu với Ma cho đến khi nào sạch Ma Tánh rồi thì tự nhiên Phật Tánh sẽ hiện ra với ông."

    Lần đầu tiên ông Phước gặp Thiền Sư Di Như,

    được truyền Mật Tôn ngay.

    (*) Gọi Thiền Sư là Thầy như Thầy dạy học.

    Pháp danh của ông là Tâm Tuấn, Ban Hộ Đạo.

    25. Pháp Môn Thực Tiễn Theo Vết Chân Chư Phật

    Đức Tăng Chủ Tịnh Vương Nhất Tôn hóa thân Đức Di Lạc quyết định giúp các chân tử tín tâm cầu đạo, phải thi hành ba điều cần thiết để đạt mục đích Tri Kiến Giải Thoát:


    ĐẠO ĐỨC + GIÁO LÝ + TOẠ THIỀN = TRI KIẾN GIẢI THOÁT




    Bậc tu cần tăng trưởng điều hòa sẽ đến Tri Kiến Giải Thoát./-

    26. Đạo Đức

    • Muốn đoạt đến Thánh Trí sự Nghe, Thấy, Biết được viên thông, các chân Phật tử hãy Chánh Tín vào lời GIÁO NGÔN của Ta. Thời bậc ấy sẽ bước vào nơi Thánh Trí mới nhận đặng Ta.


    • Bằng phàm phu tự Ngã, tự kiêu, tự cho mình là đúng đắn chỉ phê, nghi kỵ không lãnh được Giáo Ngôn thì dù tu đến vạn kiếp còn vòng trong Lục Đạo biến diễn không ngừng.


    –Vô Sư Kinh


    Một hôm tại Trung Ương Hội Thượng, trên căn gác gỗ số 42 đường Hồng Bàng Nha Trang, Đức Tịnh Vương hóa thân Đức Di Lạc nhập chánh định, quán xét chùm khắp tầng lớp chúng sinh tu hành lầm lạc, Ngài trịnh trọng tự gài lại nút ở cổ áo bà ba trắng, thắp bảy cây nhang trên chánh điện ở gác gỗ, Ngài ngồi nghiêm trang khai thị tôi nghe như vầy:


    "Trước tiên bậc tín tâm làm phẩm công đức hữu lậu: Cúng dường như mua sắm lễ vật, hương đăng hoa quả, lễ bái dâng hương, cúng dường chiêm ngưỡng. Công đức này tạo Phước Báo Nhân Thiên. Khoảng 100 kiếp cúng dường, chiêm ngưỡng mới đủ chuyển đường tu sang giai đoạn hai, nhưng chưa nghe được giáo lý.

    Đến giai đoạn hai bậc tín tâm mới phát tâm cúng dường như xây chùa, lập tháp cho Chư Tăng tu tập, mình cũng tu hành, lễ bái trai đàn, cung kính lập thiện căn, làm phước thiện, cầu Tam Thế chứng minh. Công đức cúng dường này vẫn phải trên 100 kiếp, cũng chưa thích nghe giáo lý.



    Đến giai đoạn ba, bậc tín tâm vẫn dùng phẩm công đức cúng dường Tam Thế, vẫn phải trên 100 kiếp. Như vậy bậc tín tâm phải tu 300 kiếp mới sung mãn Công Đức Hữu Lậu mà bước sang công đức Vô Lậu. Giai đoạn công đức hữu lậu có thể kéo dài hơn nữa nếu bậc tu bê trễ, tánh tình bủn xỉn, keo kiệt, tâm không rộng mở, tu cho có tu." –
    T.V.


    Công đức Hữu lậu chưa sung mãn, công đức vô lậu không bao giờ có kết quả. Công đức hữu lậu sung mãn như nhiên chuyển đường tu đến công đức vô lậu được vững vàng. Được Chư Thiên, Long Thần Hộ Pháp, Địa Thần giúp đỡ, dẫn dắt cho gặp Chư Bồ Tát, Chư Tôn Giả, Chư Hộ Pháp để tu cầu Tri Kiến Giải Thoát.

    Do vậy, nhiều bậc tu không thích nghe giáo lý trên con đường giải thoát là vì chưa đủ công đức cần có để tu lên lớp, họ chỉ thích tụng kinh, ăn chay, chiêm ngưỡng tướng Phật, nếu có nghe giáo lý thì buồn ngủ, uể oải, có việc cản trở không cho nghe. Nghe bậc giác lại khó hơn.

    Tỷ như một người xây một căn nhà, trước tiên việc phải làm là cái móng nhà phải vững chắc. Càng lên cao tầng chừng nào sức nặng càng lớn, móng nền nhà phải vững chắc đến mức tương xứng mới giữ cho căn nhà bền lâu vững chắc. Nếu móng nhà không tương xứng, nhà sẽ bị đổ. Bậc tu cầu tri kiến, tri kiến giải thoát, giác ngộ rốt ráo cũng tạo công đức hữu lậu sung mãn hiện kiếp mới thọ lãnh công đức vô lậu và tùy từng lớp lớp bậc tu mà đạo đức mỏng, thấp, dày, cao, để thọ lãnh Bảo Pháp ở bậc Thiện Tri Thức rất là bình đẳng.

    Tỷ như trời mưa, nếu có người đem cái ly hứng nước đầy ly, nếu cứ hứng nước tiếp, nước sẽ tràn ra đất. Có hứng mãi cũng vô ích. Nếu có người đem cái chén, cái tô, cái lu... nó cũng đầy từng cái. Nếu hứng nước nữa, nó sẽ tràn ra ngoài. Bậc Thiện Tri Thức rất biết, rất tường tận Bình Đẳng Tánh Trí nên tùy chân tử mà ban cho lớp lớp. Nó phải vậy. Đạo đức Chư Phật đã tạo được trong vô lượng vô biên.

    Tạo công đức nếu có ai chê, trách móc cần hỷ xả mới có đạo đức. Nếu tạo công đức mà không hỷ xả chỉ lãnh phước thiện được thọ báo sung sướng là cùng...

    • Hỷ Xả Là Đạo Đức

    Qua ba giai đoạn trên, bậc tu đã tín tâm thù thắng lập Bồ Tát Hạnh như: Bố Thí – Trì Giới – Tinh Tấn – Nhẫn Nhục – Trí Tuệ – Thiền Định gọi là Lục Ba La. Lại dùng Bi – Chí – Dũng, Giới – Định – Tuệ để tu Tín Hạnh Nguyện. Sự tu hành Lý Sự đều nằm trong phẩm công đức, Đạo Hạnh cúng dường Ba La Mật Đa. Bậc tu phải nguyện vượt mọi trở lực cản ngăn gọi là Bồ Tát Nguyện. Đến lúc sở đắc Chân Không mới có Áo Giáp Bền để tu vào con đường Hành Thâm Pháp Giới, cố thâm nhập mà đoạt đến Bát Nhã Trí.

    Đến Bát Nhã Trí như nhiên công đức hữu lậu trở thành công đức cúng dường vô lậu. Tức cúng dường Như Lai, thành tựu sung mãn Quốc Độ Bồ Tát. Đến đây Ngài dừng lại, uống một hớp trà rồi khai thị tiếp:

    Nếu bậc tu hành tạo được đạo đức, ít nghe hoặc không chịu nghe giáo lý, về sau chỉ được hưởng Phước Báo Nhân Thiên chứ không đạt được Tri Kiến Giải Thoát.

    Nếu bậc tu tin Phật, thường khảo cứu kinh sách, thường nghe giáo lý, phá bờ ngăn chấp, tâm rỗng rang, được tự tại, vô ngại mà không cố tạo đạo đức, đương nhiên trí tuệ phát sinh tự ngã, sẽ sa vào đại cường hay bất tịnh rồi trở nên ngông nghênh.

    Nếu bậc tu tinh tấn làm tròn được đạo đức – giáo lý nhưng công phu thiền kém thì lúc thành tựu chưa tròn. Vì sao? Vì thiền kém nên không biết sự di chuyển Như Lai Tạng, không biết vũ trụ và con người vốn là một, nó nhịp nhàng giao cảm. Lại nghi ngờ các cảnh giới trong tam thiên như địa ngục, tiên, thần...lại cho là không có. Thiếu điều kiện như vậy cũng không bao giờ Tri Kiến Giải Thoát.

    Nếu bậc tu chưa hiểu biết gì về giáo lý chẳng tạo đạo đức, chỉ biết tọa thiền, quan niệm thiền là pháp môn giải thoát, thật nguy hại to lớn. Vì thiền nó vốn thấy thường diễn cảnh, thường biến hóa, nó tùy theo trí tuệ, theo nơi tham muốn mà diễn biến. Nếu bậc tu thiền chấp nhận liền trụ chấp dễ vấp phải cuồng tín. Khi chánh giác mới xác thật.

    • Bậc tu thiền có thể mắt thấy, tai nghe cõi trời, nhạc trời cùng các tiếng nói của tiên, thần, qủy quái giống như xem vô tuyến truyền hình. Đó là Tâm Sanh Cảnh không phải thật lại lầm xưng mình tu thành Phật–Thánh–Tiên hóa ra điên khùng, bậy bạ thật có hại vô kể vậy. Thời pháp thật quý cho tất cả." –T.V.

    Tỷ như thời Đức Tịnh Vương đang còn tại thế, Ngài dạy và truyền thiền cho tất cả chân tử Ngài. Tỉnh nào có chân tử Pháp Tạng tu hành đều có tổ chức thành lập đạo tràng gọi là Pháp Bảo Tỉnh Hội, Pháp Bảo Quận Hội do Ngài chứng minh. Hàng Hộ Pháp hay Tôn Giả được Ngài tuyển chọn làm đại diện được hướng dẫn tín chúng tu hành.

    Đối với Đức Tăng Chủ Tịnh Vương, hàng Hộ Pháp hay Tôn Giả do Ngài đào tạo, họ rất tín thành và Tin Vâng Kính. Họ chỉ bày cho các chân tử nào tu tập cũng đều đem về Trung Ương trình diện Ngài để được khai mở chân lý và truyền Như Lai Thiền. Ngài nghiêm nên không một Hộ Pháp hay Tôn Giả nào dám tự ý làm sai Tôn Chỉ và mục đích Tri Kiến Giải Thoát. Nếu có, người ấy liền bị loại vì thiếu Tín Hạnh Nguyện. Tu cầu giác ngộ nó phải vậy, nếu không trăm kiếp cũng không đạt kết quả. Tu tự ý muốn thì sao cũng được nhưng thiền dễ gặp nguy hiểm.

    Bậc tu thiền chủ yếu rất cần Thiện Tri Thức nếu không, như kẻ không biết lại lấy sạn đá đem nấu để mong thành cơm. Thật tai hại vô kể. Những chân tử tín thành, tùy công đức, tùy trí tuệ, Ngài đều dắt đi Tri Kiến Giải Thoát, không hề cho ai tu luyện thần thông bao giờ.

    * Một hôm sư Quân ở Nha Trang đến thăm Tịnh Thất của Đức Tịnh Vương, đang nằm chung với Ngài sư Quân nói: Thầy truyền Thiền cho tôi. Ngài trả lời: Tín Hạnh Nguyện Ta truyền Thiền cho. Sư Quân không đảnh lễ, không bái Ngài để thọ pháp. Dù Ngài có truyền thiền thì sau này cũng bị lạc nên Ngài làm thinh.

    Thời nào cũng vậy, dù thượng cổ cho đến thời văn minh khoa học, Đức Di Lạc luôn y tôn, y chỉ theo chư Phật mười phương ba đời khi hành đạo, chỉ dạy cho các chân tử.

    Thiền lại rất có lợi vô kể nếu bậc tu đã hiểu biết chân lý Phật pháp. Thiền giúp cho bậc tu trực giác vạn pháp, những hoàn cảnh dù rắc rối đến đâu trong cuộc sống phức tạp đối diện hàng ngày, nó giúp cho tâm trí hiểu biết tự giải quyết thích hợp thỏa đáng mà chúng sinh phải ngạc nhiên. Nó rất thích hợp trong gia đình, trong sở làm việc, trong trường học, trong các ngành, nghề...

    Thiền giúp con người trầm tĩnh, dần dần hết vọng tưởng, hết ảo tưởng, không ảnh hưởng đến thực tế, không còn lầm mê, về Nhất Tướng mà Tri Kiến Giải Thoát. Nhất Tôn Pháp Tạng luôn tri ân TAM THẾ PHẬT, thành kính cung thỉnh ba đời Phật chứng minh đầy đủ phẩm công đức, công năng tu hành của chân tử giữa thời Đông Độ được kết quả Tri Kiến Giải Thoát. Đức Tăng Chủ Tịnh Vương Nhất Tôn đại diện Tam Thế Phật giữa thời Hạ Lai Đồng Độ chỉ dạy tu hành trọn hết tứ thừa: Tiểu, Đại, Nhất, Tối Thượng Thừa, nên chi:

    – PHỤNG THỜ: Đức Phật Đông Độ Dược Sư Lưu Ly Quang Như Lai tiêu biểu Hiện Giác.

    – GIÁO HIỆU: Pháp Tạng Tỳ Kheo A Di Đà Phật tiêu biểu Duy Nhất Tối Thượng.

    – GIÁO LÝ: Vô Thượng Bổn Sư Thích Ca Mâu Ni Phật.

    Do lẽ đó mà bậc tu phải Tin Vâng Kính bậc đã Chánh Giác để chỉ đạo đầy đủ ba yếu tố: Đạo Đức, Giáo Lý, Thiền Tọa đặng tu hành đến Tri Kiến Giải Thoát. Buổi ban đầu phải công phu Thiền Tọa đều đặn, cỗi giải ngăn chấp, sửa đố tật, sửa tánh luôn hỷ xả gây tạo đạo đức. Đó chính là phá vô minh. Nghe bậc Thiện Tri Thức đã giác ngộ giảng giáo lý Phật pháp, xem kinh Phật cần đầy đủ ba yếu tố trên, không nặng môn nào cũng không nhẹ môn nào. Đều đặn điều hòa dung thông đầy đủ sẽ được Tri Kiến Giải Thoát, giải thoát rốt ráo.

    Tôn giáo PHÁP TẠNG y chỉ y tôn ba đời Phật, về phần giáo lý giảng giải đầy đủ tất cả KINH LUẬT LUẬN cốt khai thông Đạo Pháp, giải chấp phá mê, thân, khẩu, ý hướng thượng tu đến Tri - Kiến - Giải - Thoát./-

    27. Giác Tướng

    • Đã đắc Chân Lý cũng chỉ là Lý Chân thôi, chớ chưa phải là Chân Lý. Các người hãy nương vào Chân Lý để thành tựu sung mãn. Bằng chấp lấy cái Chân Lý vừa đến cho là Chân Lý sung mãn thì thật là vô lý không bao giờ đến.
    • Cũng như kẻ hiểu được bên kia có hồ sen, nhưng chưa đến hồ sen. Đối với Chân lý cũng vậy.




    Vô Sư Kinh


    Ngài không viết Kinh. Sau Đức Bảo Tạng Phật khuyên Ngài nên viết Kinh để đời này không hiểu những đời sau tu tự tánh sẽ hiểu.


    * * * * * * *

    Thế nào gọi là Giác Tướng?

    BỐN NHIỆM VỤ TRỌNG YẾU XÂY ĐẮP THỜI MẠT PHÁP.


    Đức Tịnh Vương hóa thân Đức Di Lạc, bậc Vô Thượng Chân Tôn có bốn nhiệm vụ trọng yếu xây đắp nhân sinh tứ loài thời Mạt Pháp.

    • "Nhiệm vụ thứ nhất : Mang hạt giống Như Lai Giác Tướng để chứng minh tứ loài Thọ Ngã Giả Tướng về nơi Giác Tướng."


    Hạt giống Như Lai vốn sẵn bao trùm tứ loài là noãn-sinh, thấp-sinh, hóa-sinh, thai-sinh. Noãn-sinh thuộc loài sinh ra từ trứng. Thấp-sinh thuộc loài sinh từ nơi ẩm ướt hay từ nước. Tiên, Thần thuộc hóa-sinh. Loài người thuộc thai-sinh. Hạt giống Như Lai khắp trong Tam Thiên Đại Thiên thế giới.


    Hạt giống Như Lai chính là NGHE – THẤY – BIẾT. Tu nghe, thấy, biết là tu Vạn Pháp, là lấy Như Lai Tạng để tu. Giáo lý tu nơi Như Lai Tạng sẽ tỏ Tạng về với Như Tạng đến lúc mất Tạng liền đến Chân Tôn.


    Lấy tai để tu, lấy mắt để tu vẫn chưa đầy đủ. Lấy Như Lai Tạng để tu chung gồm tất cả sẽ đạt đạo quả. Một hôm Đức Thế Tôn hỏi ông A Nan rằng: Nắm lá trong tay Ta đang cầm so với rừng lá, cái nào nhiều?


    Ông A Nan thưa: Bạch Đức Thế Tôn, lá trong rừng nhiều vô số còn nắm lá trong tay của Thế Tôn rất ít.


    Đức Thế Tôn: Đúng vậy, nắm lá trong tay Ta so với rừng lá nó không thấm vào đâu.

    - Này A Nan, trong 49 năm Ta khai thị Tam Tạng Kinh điển, nếu đem so sánh với Rừng Pháp Như Lai, nó không thấm vào đâu. Tam Tạng Kinh điển mà Đức Thế Tôn lưu truyền lại cho đến ngày nay chính là bộ kinh ngoài đời, khi đi hành đạo Ngài trực ngộ và khai mở cho Tứ Chúng. Bộ kinh ngoài đời chính là Nghe Thấy Biết nên Ngài không đủ thời giờ khai hết được. Rừng lá của Như Lai chính là Nghe Thấy Biết. Vậy giáo lý của Đức Thế Tôn khai thị chính từ rừng Nghe Thấy Biết ở trong cuộc sống thế gian.


    Do vậy, nếu chỉ học Tam Tạng kinh cũng chưa đủ mà phải học Bộ Kinh ngoài đời mới không BỊ GIÁC. Nghe, Thấy, Biết liền Tánh hiện, liền bị nhiễm nên tu theo kinh Phật phải sửa tánh, giải đố tật để không thọ nhiễm là như vậy. Sửa xong lúc đó thật nghe, thật thấy, thật biết sẽ Trực Giác.


    Trên thực tế, chúng sinh không tự sửa hết được, muốn giác ngộ phải tìm bậc đã giác mới hành dụng cứu bậc tu ra khỏi tập khởi tập nhiễm được. “tự thắp đuốc mà đi” chỉ dành cho hàng Bồ Tát đã tự giác đã trực giác. Chúng sinh không tự thắp đuốc mà đi đến giác ngộ được.


    Tất cả chúng sinh giai hữu Phật Tánh. Có nghĩa: Tất cả chúng sinh đều có Phật tánh. Vì có Phật tánh nên chúng sinh có khả năng thành Phật nhưng nếu không gặp bậc đã thành Phật, chúng sinh không tìm ra nỗi đường đi đến đích được. Bao năm Đức Di Lạc ra đời khai đạo ở thế giới Ta Bà này đã cho thấy biết đường đi nó phải như vậy, không hề có sai chạy.


    * Thế nào gọi là Giác Tướng?


    Ưng vô sở trụ nhi sanh kỳ tâm? Có nghĩa tâm không chỗ chỉ mà sanh tâm. Tâm này Phật dạy cho chúng sinh. Vì chúng sinh thường chấp, thường nhiễm lại thọ ngã giả tướng nên phải hỷ xả để đến không trụ. Khi hỷ xả đúng tầm mức, tâm được rỗng rang trong sáng, lúc bấy giờ Phật mới khai thị: TƯỚNG LÀ TÂM. Tướng như thế nào, tánh như thế ấy mới gọi tướng chính là tánh là tâm. Ở đây, tâm đã được chỉ có nơi chốn quyết định. Tỏ Bổn Lai Diện Mục, mỗi tánh có một dụng. Đó là Giác Tướng. Giác Tướng nó vượt tầm hiểu biết, vượt tầm lý luận của chúng sinh. Tâm này Phật khai thị cho hàng Bồ Tát tu đến rốt ráo Giác Tướng.


    • “Nhiệm vụ thứ hai : Làm tận độ chúng sanh cúng dường Như Lai”

    - Ngài ban Hịch chứng minh vũ trụ, đã thực hiện tròn nguyện tận độ chúng sinh. Người thiện kẻ ác đều được thoải mái yên lành.


    - Ngài khai đạo tận độ chúng sanh tánh dùng ĐẠI PHƯƠNG TIỆN diệu dụng Vạn Pháp Thuận – Nghịch, Tịnh – Bất Tịnh, Hữu Tướng – Phi Tướng chẳng thiếu sót giữa thời Hạ Lai Mạt Pháp. Làm cho chúng sinh tỏ rõ vô minh có lớp tri đạo, có lớp giác ngộ, có lớp giác ngộ rốt ráo. Thật không thể nghĩ, bàn luận hết được.

    Ngài tận độ chúng sinh cốt để cúng dường Như Lai, tức cúng dường Đức Tịnh Vương Phật đặng thành Như Lai Phật, đồng Chư Phật mười phương.


    • “Nhiệm vụ thứ ba : Làm chúng sanh giới gặp Phật làm đệ Tử Phật.”

    Mỗi chúng sanh thọ chấp một Tánh riêng gọi là Bổn Lai Diện Mục của chúng sinh. Ngài phải khai hoang cho trực ngộ thọ chấp nên phải tu hành theo y tôn, y chỉ của Chư Phật. Do đó phải làm đệ tử Phật để không bị lạc ngoại giáo.

    • “Nhiệm vụ thứ tư : Khai hóa chơn tánh khỏi làm đoạn duyên Phật.”


    Tất cả chúng sanh gặp Phật đều được khai mở để từ ma tánh hóa chơn tánh. Chúng sanh thường gặp nghịch hành rất khó nhận. Nương nhờ hỷ xả tâm rỗng không mà trực nhận được chơn tánh. Khi đã biết chơn tánh đương nhiên qúy đường tu theo Chư Phật, không còn đoạn duyên Phật nữa.


    Bậc thực hiện 10 danh hiệu thành quả Vô Thượng Chân Tôn thật khó gặp. Vì bậc này đồng ứng với bổn nguyện Tam Thế mà thị hiện. Trong cuộc sống nhân thế, từ ngôn ngữ, hành động không khác với nhân sinh nên Thánh Tăng Bồ Tát cũng chưa biết, chỉ trừ Bồ Tát Ma Ha Tát hạnh nguyện Bát Nhã Trí, dùng Giác Tướng mới nhìn nhận được phần nào nên gọi khó gặp. Chư tổ cấp A La Hán, Duyên Giác, Thinh Văn cũng phải hồi hướng tôn sùng, kính ái vì Đức Vô Thượng Tôn khéo khai đạo, thuyết đạo đúng căn cơ tất cả tứ loài. Bậc này nương theo Giác Tướng mà tỏ Thực Tướng đầy đủ uy nghi.


    Vô thượng thậm thâm vi diệu pháp.

    Bá thiên vạn kiếp nan tao ngộ.

    Ngã kim kiến văn đắc thọ trì.

    Nguyện giải Như Lai chơn thiệt nghĩa./-



    Bút ghi trên đường hành đạo


    TỰ THẮP ĐUỐC HAY LÀ TU TỰ TÁNH TỎ TÁNH?


    Ông Nguyễn Phước suy ngẫm: "Thưa Thầy(*) những điều thầy vừa giảng sao em(*) nghe lạ quá. Nếu tất cả sơn hà đại địa đều là Ma thì tại sao Phật lại dạy Tự Thắp Đuốc Lên Mà Đi sao nổi?"


    Thiền Sư dường như đã đoán trước câu hỏi nên tâm đắc trả lời:

    "Chữ Tự ở đây là Tự Tánh. Khi ông còn Mê thì Tánh của Vũ Trụ Tự nó sai khiến, điều khiển ông qua cái Tánh của ông. Cái sức mạnh mà ông cho là thần thông là huyền vi của vũ trụ nó chính là Nghiệp của ông đã tạo ra chứ thật ra nó chẳng có."

    – "Xin Thầy giải rõ hơn cho em."
    Ông Phước như đang nhận ra điều gì.


    "Tánh tạo ra Nghiệp nên muốn giải Nghiệp thì chỉ có chính ông soi sáng thân mạng của ông mà sửa Tánh." Thiền Sư nhìn lên bàn thờ rồi tiếp: "Đức Di Lạc Tôn Phật lần Hạ Lai này Ngài dạy cho nhân sinh tu theo con đường "Tự Tánh Tỏ Tánh" chính là lời giải đáp ẩn số "Tự Thắp Đuốc Lên Mà Đi." của Đức Bổn Sư cách đây hơn 2500 năm."


    Trời vừa sập tối, ngọn đèn đường đang toả ra màu vàng tuy chưa rõ lắm tựa như đang hoà cùng những tia chớp rất lạ đang nhẹ nhàng loé lên trong suy nghĩ của ông Phước.


    (*) Gọi Thầy xưng em như thầy dạy học.

    28. Thời Kỳ Trừu Tượng Hoá Độ Tiểu Thừa

    Bậc tu tin Phật phải là bậc biết Pháp. Bậc tin Phật phải là bậc hiểu Pháp. Bậc tin Phật phải là bậc tỏ Pháp mới gọi là tin Phật. Bằng chưa biết, chưa hiểu, chưa tỏ thì dù có tin Phật đến mấy chăng nữa cũng chưa phải là tin Phật.

    –Vô Sư Kinh



    Sự hoá độ của Đức Tịnh Vương Nhất Tôn hoá thân Đức Di Lạc thị hiện tại thế giới ta bà Ngài hành đạo 37 năm, chia làm bốn thời kỳ.


    • Thời kỳ Trừu tượng: Hóa độ tiểu thừa 1957 – 1965.


    • Thời kỳ Chân Như: Hóa độ Đại thừa 1966 – 1983.


    • Thời kỳ Nhất Tôn: Hóa độ Nhứt thừa 1984 – 1989.


    • Thời kỳ Biệt tôn Vô Thượng: Hóa độ Tối Thượng thừa 1990 – 1993.


    THỜI KỲ TRỪU TƯỢNG HOÁ ĐỘ TIỂU THỪA.


    Năm 2500 Phật Lịch tức năm 1956 DL khi Chánh Giác, Ngài nhận thấy chân lý quá khó, làm sao chúng sanh lại có thể tu hành nhận lãnh được? Ngài không muốn kham lãnh khai đạo, cứ đi lang thang qua ngày. Sau Trời Phạm Thiên, đến Chư Thiên, Chư Long Thần Hộ Pháp xuống thưa thỉnh, Ngài cũng chưa chịu hành đạo. Lúc sau này khi tôi tìm đạo gặp được Ngài, Ngài khai thị tôi nghe như vầy:

    Chúng sinh thời Mạt Pháp dùng lý trí suy luận Phật Pháp, không trọng ý trí nên kinh Tạng Đức Thế Tôn để lại họ thuộc lòng, Tôi có đối diện với Tăng Ni mà khai thị cho, họ cũng không nhận được. Định nghiệp đầy, khiến Tôi thấy vô cùng khó. Thời Đức Thế Tôn: tất cả còn trong trắng nên dễ dạy. Chẳng khác nào bây giờ tờ giấy trắng đã vẽ hình muôn kiểu lộn xộn. Khai mở, trước tiên Tôi phải cho họ tẩy sạch tờ giấy cho trắng không còn vết bẩn, sau đó chỉ cho họ vẽ ra cảnh thứ lớp trông nhìn được là cả một công trình! Do đó Tôi muốn chờ hết kiếp đến lúc thân tứ đại rã, âm thầm ra đi.


    Sau Đức Tịnh Vương Phật tức Như Lai đến ban hành chứng minh vào ngày 12 tháng giêng âm lịch năm 1957 dương lịch, Ngài mới nhận lãnh khai đạo.


    Người chân tử đầu tiên của Ngài già nhất, tóc đã bạc trắng, râu dài cũng bạc trắng ở thôn Phú Hữu xã Vĩnh Ích, hướng Nha Trang đi Ninh Hòa cách thành phố Nha Trang 20 km. Ngài ban cho pháp danh Pháp Đạo. Sau đó Chư Thiên, Chư Địa Thần, Chư Long Thần lần lượt đi tìm 1250 Chân Phật Tử thời Đức Thế Tôn, nhắc nhở dẫn dắt họ về với Đức Di Lạc Tôn Phật.


    Trước tiên Ngài hóa độ hàng Tiểu Thừa để chờ hàng Thánh Chúng thời Đức Thế Tôn trong đó có 33 vị tổ cùng có một số chân tử trong những kiếp sau này lai trần hành đạo Ngài đã gieo trồng.


    Pháp Tạng Phật Giáo Việt Nam nơi 42 Hồng Bàng Nha Trang Ngài chính thức khai đạo năm 1957. Ở đường Sinh Trung năm 1956 DL năm 2500 PL là năm Ngài đánh dấu Pháp Tạng Phật Lịch (PTPL) năm thứ nhất – 1957 DL tức năm 2501 PL được gọi là PTPL năm thứ 2.


    Thời kỳ này Ngài cho Tứ Chúng dùng chuông mõ tụng kinh “A Di Đà” và “Quán Thế Âm Bồ Tát, Phổ Môn Phẩm trong Diệu pháp Liên Hoa kinh”. Nghi thức y theo cổ truyền của chùa.


    Kinh A Di Đà để cầu siêu. Phổ Môn Phẩm để cầu an. Ngài thường diễn hóa thần thông.

    ◊ Tỷ như khi đi phố với chân tử, trời đổ mưa Ngài nhìn lên trời nói: Ông trời ngừng mưa giúp Tôi đi phố cho xong việc đã. Tức thì trời ngưng mưa, mây tan, nắng ấm đến.

    ◊ Có lần ở phi trường Nha Trang, lúc máy bay sắp cất cánh trời đã âm u bỗng gió to mưa nặng hạt. Phi trường thông báo thời tiết xấu phải ngưng chuyến bay yêu cầu hành khách ra về chờ thông báo sau. Ngài liền nói với chân tử Ngài đừng trở về, rồi Ngài đưa tay chỉ lên trời, bỗng trên không trung có những tia sáng xẹt tung ra, chỉ không đầy một phút gió ngừng, mây tan, mưa tạnh. Hành khách nhận hành lý ra về chưa kịp thì phi trường thông báo lại máy bay sẽ cất cánh. Ngày hôm đó trời nắng ấm.

    ◊ Một hôm tôi tháp tùng theo Ngài đi từ Nha Trang đến Thiền Viện Rừng A Đề ở thôn Phú Hữu xã Vĩnh Ích huyện Ninh Hòa đến lượt về Ngài và tôi đứng đợi xe bên lề đường. Trời đổ mưa chung quanh đồng trống trên đầu không có cái gì để che, không có chỗ nào núp mưa nhưng chung quanh chỗ Ngài và tôi đứng đường kính 1m50 không có một giọt mưa nào, mưa thành hình một vòng tròn trên mặt đường nhựa nước chảy bên ngoài vòng tròn, còn bên trong vòng tròn khô ráo không có một giọt nước. Khi xe đến Ngài và tôi lên xe, mưa bắt đầu nhỏ giọt trong vòng tròn.


    ◊ Ngài ở Nha Trang đã giúp tỉnh Khánh Hòa nhiều lần làm tan bão tránh khổ ải cho dân, trong khi đó công an thành phố Nha Trang dẹp bảng, cấm Ngài dạy đạo! và luôn chờ cơ hội để bắt giam.


    Ngài cũng dùng Thiền để trị nhiều bệnh cho chân tử, cho thân nhân của bậc tín tâm rất hiệu nghiệm. Trong rất nhiều trường hợp nhưng tôi chỉ ghi một vài việc đặc biệt sau đây: Ông Diệp Ngọc Châu, người miền Nam ra Nha Trang làm việc. Ông có một đứa con trai 4 tuổi mà chưa ngồi và đứng được, thân hình nó mềm, bộ xương thân thể rất yếu. Ông không tin trời, đất, không tin đạo giáo nào và đặt tên cho thằng con là Diệp Ngọc Hoàng. Nhà cũng có tiền mà các Bác sĩ đành chịu không chữa trị cho thằng bé được. Một hôm được người quen mách, ông đến xin Ngài chữa trị giùm đứa con ông.


    Ngài dùng Thiền Định giúp đứa bé đi lại như thường và bảo ông Châu lập tức đổi tên Ngọc Hoàng lấy tên khác. Sau đứa bé đến tuổi đi học được thông minh. Ông Châu mới hồi hướng tin tu theo Phật Đạo.


    ◊ Mỗi lần Ngài giáng lâm viếng thăm tỉnh nào thì tối hôm trước mưa lớn, sáng hôm sau xe chạy đường xá sạch trơn, không khí mát mẻ lạ thường. Còn biết bao nhiêu là sự sự mà Ngài đã hành nguyện nếu kể ra không bút mực nào ghi chép hết.


    ◊ Bà Tạng Hiếu ở Qui Nhơn là chân tử tín thành của Ngài. Bà có mẹ chồng hay bệnh, người yếu muốn chờ gặp con. Bà mẹ chồng của bà Tạng Hiếu đi gặp Ngài xin. Ngài cho sống thêm một giáp nữa (12 năm). Sau đó bà hết bệnh, người bình thường, đúng 12 năm sau được toại ước bà vào chào Ngài rồi về quê để chết. Ngài khen, sao bà không xin thêm mà chỉ chào rồi đi. Chồng bà Tạng Hiếu là Phó Trưởng Ty Lương Thực của Cộng Sản ở tỉnh Bình Định.


    ◊ Một hôm bà Phương Thảo ở đường Ngô Thời Nhiệm Sài Gòn thỉnh Đức Tăng Chủ chiều đến nhà để bà cúng dường một buổi cơm. Sáng tôi ghé thăm trước để quan sát, khi vào cửa phòng khách tôi thấy mẹ bà chết đã trên 10 năm với vẻ bực tức ra chào tôi (bà thành ma). Tôi hỏi (bằng tư tưởng) bà trả lời chết vì bệnh tim ở nhà thương Grall Sài Gòn. Trong lúc đó bà Phương Thảo đi cạnh tôi mà bà không thấy mẹ bà.


    Tôi kể cho bà Phương Thảo nghe. Bà nghi ngờ và nói. Tòa Thánh Tây Ninh đã nói siêu độ mẹ tôi về cõi Tiên rồi mà. Tôi bảo mẹ bà chết hiện còn trong nhà chưa đi đầu thai được.


    Chiều Đức Tăng Chủ đến cũng thấy mẹ bà còn ở trong nhà. Ngài bảo bà thắp ba cây nhang để Ngài kêu gọi 2 Hộ Pháp (vô hình) ở quanh Ngài hướng dẫn đưa mẹ bà Phương Thảo về Tòa Thánh Tây Ninh để sớm hôm nghe kinh kệ. Sau đó bà Phương Thảo khóc và hỏi, Ngài dạy rằng: Khi nào sạch chúng sanh tánh có đủ đức độ từ Bồ Tát trở lên mới siêu độ được. Còn đang tu sửa tánh độc nhiễm chưa hết, chưa siêu độ được tánh của mình tức chưa đủ lực tha độ chỉ tự độ chưa xong thì không sao siêu độ cho ai được.


    Có thể nhiều vị hợp lại thành tâm siêu độ nhưng lên cõi Tiên ở một thời gian ngắn cũng bị trở về cõi nhân gian hay âm cảnh chờ đi thọ thai. Hàng Tôn Giả phải nhiều vị cùng nhiều Hộ Pháp mới hy vọng siêu độ được. Nhưng thế gian làm sao gặp nhiều vị này được, chỉ đương thời có Phật Thích Ca và Phật Di Lạc mới có thể hiện đầy đủ. Dù có đủ đức độ nhưng chưa được chư Phật hay chư Bồ Tát chứng minh nhập thể cũng phải chờ một hay nhiều kiếp được chứng minh mới thừa hành Đại Lực của chư Phật được.


    Cũng như nhiều bác sĩ ra trường chưa được bổ nhiệm làm trưởng ty y tế, giám đốc, bộ trưởng thì chữ ký không có quyền rộng lớn để mọi người phải thi hành. Tu tập nhiều năm với Đức Tịnh Vương hóa thân Đức Di Lạc giữa thời Hạ Lai Mạt Pháp mới nhận được sự kiện này một cách thực tiễn.


    ◊ Phần đông nhân sinh quan niệm tu là phải xuất gia ở chùa mới là bậc tu, Ngài phải tùy phương tiện cho chân tử Ngài tụng kinh, nghi thức y như chùa nhưng Ngài luôn chú tâm khuyên phải sửa tánh xấu hằng ngày cho tốt tụng kinh mới linh ứng. Cũng như chai nước để lâu ngày bị cặn cáu rong rêu bám bị dơ bẩn nếu đổ nước tinh khiết vào uống sẽ bị sanh bệnh. Phải súc cho thật sạch, đổ nước vào uống mới khỏi bệnh.


    Tối trước khi đi ngủ ngồi niệm Phật ngay chỗ ngủ không cần ngồi trước bàn Phật, trừ khi tụng kinh phải chỉnh tề y áo trước bàn Phật. Chân tử nào từ trước đã ăn chay trường hay ăn chay kỳ mỗi tháng vài ngày, Ngài bảo phải giữ không nên phá giới. Nếu ai từ trước ăn uống theo tập quán tự do vẫn giữ nhưng cấm sát sanh. Ngài thường dạy rằng ăn chay quý nhưng tâm chay quý hơn. Có nghĩa miệng ăn chay mà tánh còn xấu, độc không bằng bậc ăn sao cũng được mà sửa tánh xấu, tánh độc trở lại tốt vẫn hơn.

    ◊ Người già không nghe được khai thị Phật Pháp. Ngài dạy cần bố thí, nhẫn nhục, ngồi niệm Phật, tụng kinh A Di Đà, Phổ Môn. Nhiều người quan niệm tu luyện cho mau đắc thần thông Ngài cho thực hiện Tứ nhiếp pháp: Ái ngữ nhiếp, Đồng sự nhiếp, Bố thí nhiếp, Lợi hành nhiếp. Tất cả chân tử khá dẫn dắt người đi sau. Ngoài giờ làm việc thường gặp gỡ nhau đồng hành, đồng sự để cùng tu cùng có lợi, nói năng phải hòa nhã, ai không thực hiện Ngài ôn tồn khuyên giải chí tình.

    • Ngài thường bảo thi hành Lục Ba La. Bố thí, trì giới, tinh tấn, nhẫn nhục, trí tuệ, thiền định. Tôi nghe như vầy:


    √ Bố Thí độ Địa Ngục. Bố thí người nghèo khó, cúng dường Tam Bảo sẽ được phước báo sung sướng. Nếu gặp Thánh Tăng cúng dường với lòng thành sẽ có kết quả tốt ngay hiện tại và mai sau. Nếu Bố Thí Pháp, biết nói lời ích lợi của thiện căn để kẻ đang gặp hoàn cảnh khổ thoát khỏi lo âu, khổ sở. Đó là cúng dường Như Lai, cúng dường Chư Phật. Nếu tinh tấn như vậy sẽ độ được chúng sanh tánh của mình và độ được chúng sanh tánh kẻ khác. Kết quả bậc này sẽ thoát nơi địa ngục, thoát trần lao khổ ải. Bố thí không bao giờ khoe khoang kể lể nên gọi là bố thí Ba La Mật sẽ được hoàn mỹ cứu độ xong Địa Ngục. Xây dựng chùa tháp cho chúng sanh có nơi tu hành cũng là hình thức bố thí để cúng dường Chư Phật.


    √ Trì Giới độ Ngạ Quỷ. Đối với Ngài, thường dạy Tứ Chúng phải nhớ giữ giới. “Tất cả việc ác nhỏ phải bỏ, tất cả việc thiện nhỏ đều làm.”Chủng tánh ngạ quỷ thường buông lung, nói năng bừa bãi, tiêu xài không đúng cách, hoặc keo kiệt, thường ưa thích kẻ nịnh bợ để có tiền của. Ai trái ý thường sanh tâm thù ghét. Đó là cảnh giới ngạ quỷ. Ngài dạy phải trì giới tự sửa tánh buông lung, dùng trang nghiêm để tự độ không còn bừa bãi, thoát khỏi ngạ qủy. Thành thật tâm để giải vọng ngữ, thường giúp đỡ cho những người chung quanh mình được sửa đổi, nhờ như thế mới thoát khỏi ngạ quỷ căn. Đó chính là Trì Giới.


    √ Tinh Tấn độ Súc Sanh. Tinh tấn là pháp môn giải độc nhiễm rất hữu hiệu. Tinh tấn độ được súc sanh pháp. Súc sanh tức là dục vọng thèm muốn, thèm khát, ước mơ, đòi hỏi nơi ái dục. Nguồn gốc từ nơi sắc như danh vọng, vật chất tiền bạc... tình yêu... Từ nơi sắc, thấy thích sanh ra ái rồi đến ái dục nên không bao giờ chịu rời xa gọi là ái nịch cột chặt. Từ ái nịch sinh ái tình mà bị nhiễm. Chẳng hạn như mong muốn danh giả bị lầm nơi địa vị danh vọng cho thỏa mãn gọi là căn của súc sanh. Từ nơi sắc thành tựu thì vui mừng, lúc bị thất bại địa vị, danh giả không còn sắc liền sanh tâm buồn khổ, oán hận đời sa vào súc sanh cận kề địa ngục. Đau khổ, oán trách đời liền sanh tâm gây tạo việc ác bị thọ báo cực hình ở Địa Ngục.

    √ Nhẫn Nhục độ A Tu La. Lúc tức giận, nóng nảy thường tạo vô minh đốt hết công đức. Do tánh nóng giận mà tạo nghiệp gây gỗ, giận hờn, oán thù gây nhân quả sanh tử, tử sanh. Nhẫn nhục chính độ được nóng giận gọi là độ A Tu La. A Tu La tàn phá phước điền. Bậc biết nhẫn nhục mới độ được A Tu La nóng nảy thôi. Hiện tại bậc tu dù tụng kinh vài chục năm, dù ăn chay trường mà không chú tâm sửa tánh nóng giận thời nghiệp quả càng lúc càng tăng. Nếu dứt được chủng tánh nóng giận, nghịêp quả khổ không còn phát sinh được, không còn sa ba đường ác ngạ quỷ, súc sanh, địa ngục. A Tu La đạo làm che khuất Phật Tánh, làm lu mờ Phật Tánh không lộ diện được. Do đó bậc tu cần nhẫn nhục để nhiếp độ.


    √ Trí Tuệ độ Nhân. Trong lục đạo thì cõi Nhân chấp đứng thứ nhất. Cõi nhân trọng Nhân - Nghĩa - Lễ - Trí - Tín, thấy khác ý liền chướng, nghe khó chịu liền ghét, chê bai trở thành chấp trụ. Do đó càng học cao càng cho mình đúng trở thành thọ ngã, trở thành càng chấp trụ bấy nhiêu. Cõi nhân dụng trí tuệ học hỏi trở thành trí thức liền có lý lẽ nơi mình làm lối sống, khác lý lẽ liền chấp nên đóng khuôn gọi là pháp giới. Đã chấp đương nhiên trụ, rất khó giải, nó là căn bệnh trầm trọng làm cho bậc này thường nghi, thường bày tỏ trong nhân sinh làm điên đảo không tu hành kết quả được.


    Nói đến cái chấp, nghi của cõi nhân không kể ra hết được. Bậc tu phải dùng trí tuệ giải nghi, phá chấp để độ chúng sinh mới có trí tuệ căn bản để đi con đường tri kiến được. Biết nhận được cá tánh bị chấp trụ sẽ không còn vọng đảo. Tu hành không còn xa lìa Thể Tánh, được tu thực tiễn sát thực. Nếu dùng trí tuệ trí thức do học hỏi chỉ giúp cho tu theo Phước Thiện thôi.


    √ Thiền Định độ Thiên. Là môn nhiếp độ Thiên Đạo. Tu cầu vái van xin là của Tiểu Thừa. Thường thì tùy căn cơ của mỗi chân tử mà Ngài cho ngồi bán già niệm Phật một năm mới dạy Thiền song song hàng tuần được dạy Giáo Lý làm cho bậc tu ý thức được Thiền là để ổn định tư tưởng, ổn định tánh tình, ý thức được Thiền lúc gặp hoàn cảnh tự soi sáng giải quyết việc nhà, việc sở trong cuộc sống trở nên hợp lý, chứ không phải Thiền để trông chờ phép lạ.


    Nếu chưa ý thức rõ ràng chủ đích của Thiền là trực giác thì dễ bị Tẩu Hỏa Nhập Ma. Dễ bị điên vì Thiền rất nguy hại. Nếu đúng đường Thiền rất có lợi vô kể, nên Thiền cần theo bậc đã được Tâm Truyền. Thời Hạ Lai Mạt Pháp từ nay đã có Tâm Ấn không lo sợ bị lạc vì suốt 37 năm hành đạo Đức Tịnh Vương Nhất Tôn hóa thân Đức Di Lạc đại diện Tam Thế, Ngài đã lưu lại hậu thế rất cặn kẽ tỏ tường và rất tỉ mỉ. Đường đi đã vạch, mục đích đã rõ, chỉ chờ hành trang bậc tu thành thật tâm, thiết tha tâm ắt được gặp Bồ Tát độ hữu hiệu. Sau một năm Ngài quan sát được mới Truyền Thiền. Người chân tử nào ngồi niệm Phật và Thiền do Ngài truyền đều lay chuyển thân, đó là Mật Tôn chứ không phải cô, bà nhập.


    Sau này có người không còn tín tâm cũng đem Thiền của Ngài dạy bừa bãi, ai ngồi cũng lay chuyển nhưng không phải Tâm Truyền Tâm Ấn, chưa rõ sự di chuyển của Mật Tôn, không rõ bản đồ tu Thiền phần kế tiếp cũng không tiến lên cao được. Phật đạo không hề có tu luyện. Tu Thiền mà luyện sẽ tạo pháp giới an hưởng thuộc ngoại giáo. Tỷ như dùng tư tưởng định (định tưởng) cho tan mây, cho có một vị Phật, Thánh trước mặt. Đó là tạo một pháp giới. Sau khi thành tựu sẽ làm trời mưa, gió, tiên đoán đúng việc đời, việc gia đình... làm cho chúng sinh tưởng là chân lý cao siêu. Tu Thiền như vậy gọi là chấp pháp là dừng trụ không biết pháp giải sinh tử luân hồi, không biết Tri Kiến Giải Thoát là gì? Không hề có Đắc Đạo bao giờ. Vì sao?


    Vì không thấy, không biết được thế nào là vô minh nên không giải trừ được vô minh. Chỉ sống lầm lạc trong một pháp giới, mãn kiếp bị diệt gọi là sanh rồi diệt. Đương thời hạ kiếp này Đức Tịnh Vương hóa thân Đức Di Lạc Ngài dạy rất cặn kẽ cho chân tử Ngài không hề có một ai hàng Hộ Pháp đến Tôn Giả hay cao hơn tu luyện bao giờ.


    Bậc tu niệm Phật buồn ngủ, xem kinh, ngồi thiền tọa uể oải nên, cúng dường chư Bồ Tát. Nhờ nương công đức này mà nghiệp thức được hóa giải sau phát tâm Đại Nguyện tu tập theo Pháp Môn Tri Kiến Giải Thoát.


    Bậc biết tu tâm là bậc biết sửa tánh xấu, tánh độc, biết hóa giải vạn pháp nơi Nghe - Thấy - Biết một ngày nào sung mãn trở nên thanh tịnh đến nhãn tịnh, nhĩ tịnh. Còn bậc chưa biết tu tâm hay chê pháp không hợp ý mình, hay khinh người đang độ khổ, hay căm ghét người đi vào đủ vạn pháp để độ sinh, thích tránh xa pháp gì mình không ưa, không muốn. Đó là pháp của Tiểu Thừa, êm êm tịnh tịnh, đè ép tâm tịnh.


    Bậc biết tu tâm và bậc chưa biết tu tâm, hai bậc này khác xa nhau, cách biệt nhau, chẳng khác nào một người ở Nam bán cầu còn kẻ kia ở Bắc bán cầu, hai người không bao giờ gặp được nhau. Tu như vậy chẳng khi nào tiến lên Đại Thừa cho được. Vì sao? Vì một bên diệt pháp ép tâm để Tịnh Tâm tức nhiên tâm bị Tịnh. Tâm bị tịnh này phải xa lìa tiếng động trái tai bên ngoài, gạt bỏ cái nghe chướng ngại làm không chịu nổi, làm toàn thân khi nghe phải sống trong u buồn đau đớn y như bị tra khảo. Còn cái thấy né sợ động tâm, toàn thân tê liệt chỉ vì tâm không ưa chịu mà phải thọ thân khổ không sao tháo gỡ ra cho được. Tu như vậy khó đến thành tựu.


    Bậc biết nhiếp tâm là bậc dung thông được cái nghe, cái thấy. Nghe gì cũng được, thấy gì cũng biết nhận chân, đã từng chịu đi trong chướng ngại, chịu đi trong ngăn cách để nhiếp độ chướng ngại, ngăn cách. Từ nơi cái thấy, cái nghe vạn pháp: Sắc, thinh, hương, vị, xúc, không còn chướng đối cách ngăn giữa hai tướng Nghe - Thấy kết chung về một tướng trực giác Nhãn Tịnh - Nhĩ Tịnh.


    • Tham – Sân – Si

    Chư Phật rất quan tâm vấn đề THAM - SÂN - SI, dùng đủ phương tiện khai cho chúng sinh thị để hóa giải sạch Tham Sân Si. Thời Đức Tăng Chủ Tịnh Vương hóa thân Đức Di Lạc cũng vậy. Một hôm tại căn gác gỗ số 42 đường Hồng Bàng Nha Trang tức Trung Ương Hội Thượng, tôi nghe Ngài khai thị như vầy: làm thế nào để hết Tham Sân Si mới giác ngộ?


    “Hàng Tiểu Thừa sợ tham khởi vọng nên tận diệt tham. Càng diệt nó càng sinh. Khi nào tánh còn nghi ngờ, còn vọng đảo thì chính vẫn còn tham vọng chưa tỏ hết tận gốc tham. Tham không phải diệt nó, nó mới hết tham, chỉ tận giác thì nó không còn một cái tham.” –T.V.


    • Sao Gọi Là Càng Diệt Nó Càng Sinh?

    Tỷ như cái lò xo nếu ta lấy tay ép nó xuống, nó nằm im nhưng nếu ta lơ là vô ý nhích bàn tay lên lò xo bung theo lên vì thể tánh của nó là nhún do lầm mê mới đè ép nó, không thể đè ép mãi, mà phải nương theo tự nhiên của nó. Cũng như thèm ăn, cứ nhịn sợ ăn bị tội lỗi, do lầm nên khi gặp món mình ưa thích cứ thèm không sao dẹp tư tưởng động loạn được. Nếu thèm cứ ăn, ăn đã hôm sau thấy hết thèm. Vì đã ăn rồi, đã biết rồi nên tự nó không còn thèm nữa. Đó là tâm đã tịnh được một pháp.

    Thời hạ lai xã hội phát sinh đủ thứ, phức tạp hỗn loạn quá nhiều so với thời Đức Thế Tôn xã hội đơn giản. Nếu diệt, chúng sanh không tỏ pháp, phải tinh tấn phá mê chấp để sạch lý tham. Khi đã không có tham thì nào có sân hận. Lúc đã không có sân hận thì nào có si mê.

    Câu chuyện Đức Tăng Chủ Tịnh Vương kể dưới đây để chỉ tham sân si: “Một Trưởng Giả kia có một cây cam trái sum sê tươi đẹp ngay trước cổng lâu đài. Một Đạo Sư nhìn thấy cây cam tươi đẹp, thích thú đến thưa với trưởng giả để xin cây cam ấy về trồng trước sân chùa. Vị trưởng giả trầm ngâm nói với Đạo Sư. Tôi không thể cho Đạo Sư một cây cam mà Đạo Sư cũng không thể bứng lấy cây cam này đem về trồng trước sân chùa mà nó sống được.

    Nếu Đạo Sư muốn có cam thì tôi tặng cho một quả để đạo sư gieo trồng sẽ đặng 20 cây cam. Đạo sư không hiểu sanh tâm sân hận rồi oán trách trưởng giả nhỏ nhen không cho mình một cây cam mà cho một trái cam. Đó cũng gọi là si. Từ chỗ si mê mà có tâm sân hận. Đó cũng gọi là sân, bởi chỗ lầm mà vướng chịu tham lam.

    Sư cũng nên biết, được một quả cam có thể ươm trồng thành 20 cây cam thì đạo sư có sử dụng 20 lần tham nhưng biết đúng, hợp lý không có phải là tham. Tham không, sân cũng không có chỗ nương tựa mà phát sinh nên không còn si mê điên loạn.”
    –T.V.

    Bậc tu hành nhận biết được thế nào là tham sân si thật khó khăn vô kể. Nó không đơn thuần như chúng sanh nghĩ. Khi không có vọng đảo thì liền chẳng tham. Cho nên khi dạy đạo cho Tứ Chúng tu hành Ngài thường chú tâm nhắc nhở: “Các ông tham vọng điên đảo, si mê chướng đối trở thành vạn pháp muôn trùng hóa thành vô minh pháp giới. Ta thật biết tỉ mỉ mà còn biết hơn thế nữa. Ta trơn liền chẳng có tập khí, khi không có tập khí thì nào có khởi sanh, khởi diệt. Đã không khởi sanh, khởi diệt thì Tâm bình đẳng dung thông. Gốc của Tham Sân Si do bởi vọng đảo mà thành gọi là tham vọng.” –T.V.

    Vị Đạo Sư mừng rỡ tán thán Đức Di Lạc Tôn Phật, Phật pháp Ngài trao thật vi diệu, thật khó nghĩ bàn. Đạo sư cùng tứ chúng đồng đứng lên đảnh lễ Đức Tăng Chủ vì đã được Ngài khai thị về tham sân si nguồn gốc của mê lầm chưa giác ngộ được.

    Về tham sân si Ngài dạy cho chân tử có nhiều lớp với nhiều phương tiện không thể nghĩ bàn. Những chân tử ở xa, cả đời mới về gặp Ngài vài lần, Ngài thường dùng Ái ngữ để nhiếp độ cốt cho chúng sinh đó biết tin, ái kính Ngài để có đi xa cũng nhớ tình mà lo tu theo kinh sách và lời Ngài. Còn chân tử ở gần thường gặp Ngài, nếu phát tâm tu cầu giác ngộ, Ngài thường phương tiện dùng Vi Diệu Pháp, không lường được.

    Pháp Nghịch Ngài dụng cho chân tử tham tiền, của, danh, tình… vào cuộc làm ăn kinh doanh có chức phận đến khi bị kẹt thua lỗ, nợ nần, mất chức, mất danh bậc tu như chơi vơi giữa dòng tiến cũng không được, mà thối lui cũng không xong. Gào thét, tức tối, đâm ra chán bỏ tu, sau trực giác được cái tham về sám hối tu tiếp dần dần tỉnh cái tham./-

    29. Thời Kỳ Chân Như Hoá Độ Đại Thừa

    - Kẻ vào đường tu mà chẳng chịu tu sửa, đó chính là kẻ đi đòi nợ.

    - Kẻ vào đường tu mà chẳng chịu tu sửa, mộng tưởng điên đảo, đó chính là kẻ Ma dân.
    - Kẻ vào đường tu mà chẳng chịu tu sửa, ganh tỵ đòi hỏi, đó là Chưởng Quỷ.


    Kẻ vào đường tu chịu phá chấp, chịu tròn Duyên, tròn Nguyện, lấy mục đích Chân Thiện Mỹ hoàn lai, đó là Bậc xây dựng Chánh Pháp, Bậc Hộ Pháp đã nhiều lần gặp Phật, thề nguyện cúng dường Như Lai.

    –Vô Sư Kinh



    Một hôm Ngài thắp bảy cây nhang và tuyên bố trước chánh điện:
    –“Kính bạch Đức Thế Tôn kể từ nay con không chiều học trò nữa.”
    –T.V.


    Ngài bắt đầu từ tiểu thừa lần khai mở cho Tứ Chúng tu hành, tập quan sát hóa giải vạn pháp, dũng mãnh tâm đặng vào đại thừa. Không chiều học trò có nghĩa chỉ thẳng nghiệp chủng thọ chấp, thuộc môn thử thách của ĐỐN GIÁO.

    “Khi bậc tu có tâm thù thắng cầu Tri Kiến Giải Thoát thì liền có nhiều thử thách để tiến bộ. Từ thử thách tiến bộ ấy bậc tu vẫn một mực kiên trì xây dựng Đạo Đức, chẳng tổn thương Đạo Đức chính là pháp môn Tiệm Giáo.


    Đốn giáo tức là một môn để phát sanh trí tuệ. Vì vậy nên Phật thường nói: Bậc tu gìn giữ Định mãi, tự tạo căn bản Đạo Đức cố định cố thủ thì đương nhiên bậc ấy tạo vô minh chớ chẳng ích chi với con đường Tri Kiến Giải Thoát, chỉ được Phước Báo Nhân Thiên.”
    –T.V.


    • Hàng tiểu thừa quen tu Phước Báo Nhân Thiên chuyển sang Đại Thừa thật quá khó khăn. Đúng nghĩa hai chữ Đại Thừa do Đức Tịnh Vương hóa thân Đức Di Lạc khai mở thật không dễ thọ lãnh. Nhiều bậc đã từng nghiên cứu, đọc tụng kinh Đại Thừa mà nặng hình thức, nghi lễ, cầu vái van xin vẫn bị thọ chủng tiểu thừa.

    “Bằng phá mê chấp nương theo Đốn Giáo mãi thì vô tình hay cố ý vẫn có trí tuệ nhưng phải sai lạc vào tà kiến chịu thọ chủng ba đường ác.”
    –TV


    Thời Đức Bổn Sư Thích Ca Mâu Ni Phật có Đề Bà Đạt Đa tâm trí Đại Cường, đến thời Hạ Lai Đức Long Hoa Tăng Chủ hóa thân Đức Di Lạc Tôn Phật khai mở Đạo cũng không tránh khỏi nạn tai do Đề Bà Đạt Đa gieo rắc, còn đám con cháu Đề Bà Đạt Đa cũng vào tu trong Chánh Pháp Pháp Tạng chung cùng với các vị Tổ, Thánh Chúng thời Đức Bổn Sư. Bọn họ cũng tâm chí đại cường chuyên đánh đập, bày mưu hiểm ác không kém thời quá khứ, cố tạo hỗn loạn trong đạo, bước đi của họ lầm lẫn phải sa vào Địa Ngục chịu cảnh sống Tà Kiến không ngừng.


    “Do lẽ trên nên Bậc tu cần lấy Trí - Đức. Định - Tuệ. Tướng - Tánh đồng song mới chánh báo chân lý. Đó là pháp môn tối diệu Cứu Cánh Giải Thoát hiện tại. Cũng như biết dùng thuốc thì chữa được bệnh mê lầm. Bằng chưa biết mà dùng bừa bãi thì lại càng tu càng bệnh, càng làm càng đến những chỗ sa đọa vô kể. Vì như thế cho nên Chư Tổ mới kiềm hãm, củng cố đạo tràng để bậc tu lần bước nhiều kiếp mà Sở Đắc chân lý.” –T.V.


    Chư Tổ kiềm hãm bậc tu không đi ác căn mà phải giữ gìn thiện căn. Nhờ đạo tràng làm nơi nhắc nhở chỉ bày tu hành giữ gìn đạo hạnh, thiền định để ổn định tư tưởng, nhắc nhở không cho Tối Tưởng mà thường Sáng Tưởng, lần bước nhiều kiếp đặng sở đắc chân lý.


    “Do như thế nên các pháp môn niệm Phật. Tu Tịnh Tâm, tạo phước điền cẩn thận để chờ bậc Thiện Tri Thức chỉ dẫn đúng với tinh thần, đúng với pháp môn, đúng với sự cầu báo chánh báo. Vị ấy tùy năng sở sắp theo thứ lớp cho tứ chúng được chánh báo phước điền, được chánh báo nhân thiên, được chánh báo Tu-Đà-Hoàn, Tư-Đa-Hàm, A-Na-Hàm, A La Hán mà thành tựu chánh giác vậy.” –T.V.

    • Thời Hạ Lai Mạt Pháp Đức Long Hoa Tăng Chủ hóa thân Đức Di Lạc Tôn Phật khai thị thật tỏ rõ, thật tỷ mỉ về sự tu chứng của Chư Tổ thời quá khứ và thời vị lai cũng không khác, tôi nghe như vầy: Chỉ có chư vị Bồ Tát Phổ Hiền, Văn Thù, Quán Thế Âm, Địa Tạng, Di Lạc... được Đức Bổn Sư Thích Ca Mâu Ni Phật thọ ký đã sở đắc Vô Thượng Đẳng Chánh Giác, còn Chư Tổ tu chứng ngộ từ mức Giác Ngộ hoặc Đại Ngộ đến Liễu Ngộ là cao nhất, thuộc đẳng cấp Thinh Văn, Duyên Giác, A La Hán.


    Chư Tổ có giảng Phật pháp, có viết sách về Nhất Thừa về Tối Thượng Thừa ở tầng số Vô Thượng Đẳng Chánh Giác, dù có tuyên ngôn, minh thuyết như thế nào cũng chưa được Đức Bổn Sư Thích Ca Mâu Ni Phật chứng minh, phải đợi thời Hạ Lai Mạt Pháp này sự thị hiện của Đức Di Lạc Tôn Phật kiểm tra, thị chứng, minh chứng nhưng quá trình hành đạo 37 năm của Ngài vẫn chưa ghi nhận được vị nào vào được Nhất Thừa chớ đừng nói Tối Thượng Thừa, chỉ trừ một vị duy nhất Tôn Giả Mục Kiền Liên mà hậu thân là pháp sư Trần Huyền Trang chuyến đi thỉnh kinh thuộc phẩm Bất Khả Tư Nghì.


    Chư vị Tổ thuộc hàng Hộ Pháp đến Tôn Giả dạy cho bậc tín tâm tu hành thiện căn, tự tánh tỏ tánh sở đắc chân lý chờ bậc Thiện Tri Thức từ hàng Bồ Tát, Bồ Tát Ma Ha Tát hoặc Phật Di Lạc mới khai thị cho Chánh Giác, mới tận dụng Phật lực vốn sẵn có chứng minh cấp bậc tu chứng. Chừng đó bậc tín tâm mới được nhập thể tùy sự cao thấp tu chứng mà được hiệu lực, hiệu nghiệm không thể nghĩ bàn.

    • Cũng như trong một nước vua hay vị lãnh đạo tối cao bổ nhiệm Thủ Tướng, Bộ Trưởng, Tổng Giám Đốc, Tỉnh Trưởng... thời mới có quyền hành, quyền lực thi hành nhiệm vụ an cư lạc nghiệp cho dân theo sự bổ nhiệm cao thấp vậy. Còn vị nào có giỏi chưa được bổ nhiệm mà tự xưng đều không có thực quyền hiệu nghiệm. Do vậy mà quá khó gặp bậc Thiện Tri Thức theo tinh thần trên, dù có ở một bên mà bậc tu thọ ngã cũng không nhận ra.


    “Bậc Thiện Tri Thức là bậc chỉ đạo thông đạt tận biết tỷ mỉ nghiệp chủng của chúng sanh giới, thật biết năng sở cầu từng bệnh tật của bậc chứng tu để lần lượt xếp thành sự tu chứng trường cửu bất diệt.” –T.V.


    Do thời Mạt Pháp này sự tu hành y theo kinh Phật, nghiên cứu học hỏi có bằng cấp cao, viết nhiều tác phẩm về Phật Pháp nếu thật cầu giác ngộ cần lìa ngã, vô sở hữu đặng suy nghiệm lại lời khai thị trên của Đức Di Lạc Tôn Phật, sẽ rất có lợi quá ư thực tiễn không có dùng trí suy nghĩ viết lách, thuyết giảng trong chiêm bao nữa.

    Từ hàng Đại Thừa trở lên Ngài đều nghiêm túc khép vào một hướng tu, được dạy dỗ chưa có chân tử nào dám tự phát sinh. Nếu có đều để yên mức Tiểu Thừa mà thọ hưởng như ý nguyện.


    “Khi đã trót lầm lẫn vô minh, bị nơi chiêm bao vô định, các ông hãy nương theo vết chân của Bồ Tát, nhận lãnh TIN VÂNG KÍNH lời bảo truyền của chư Phật để lại mà tu, bằng mất ba chữ ấy, phải vướng vào tự ngã lạc loài nơi sanh tử. Lời Tôi nói ra không phải lợi cho Tôi mà chính ra lợi cho các ông từ nay đến hậu thế.” –T.V.

    Tu hành thời mạt pháp chưa nhận được thế nào là trực giác, chưa giác ngộ, dù cho lý trí giỏi đến đâu, đều bị lầm nơi chiêm bao không có ngày thoát sinh, lại tạo tác sanh tử. Hãy tu vào pháp môn chủ quán. “đời là chiêm bao” để tránh lỗi lầm tự ngã của vô minh.


    “Các ông áp dụng thế nào đúng với tinh thần TIN VÂNG KÍNH.”


    * NƠI TIN: Các ông tin lời huấn từ chỉ dạy để sửa tánh, giải mê lầm, tin pháp môn dưới sự chỉ đạo đặng Tri Kiến Giải Thoát.


    * VÂNG: Khi TIN nghe được hiểu được nhiều ít, phải thi hành tu tập, phát tâm Hạnh - Nguyện thực thi lời chỉ giáo của bậc chỉ đạo mới gọi là Vâng.


    Bậc tu nếu Tin Vâng trọn, trí tuệ liền tăng trưởng, tâm thức mở mang, lúc bấy giờ càng tỏ rạng bao nhiêu thì sự Tôn Kính tăng trưởng bấy nhiêu. Áp dụng như thế mới đúng với tinh thần của một chân Phật Tử tu cầu Tri Kiến Giải Thoát trong thời Hạ Lai Mạt Pháp, đúng với đường tu Pháp Tạng.


    “Bằng Tin bậc Thiện Tri Thức là Phật để tôn sùng kính lạy cầu xin những chuyện bá vơ trong tư tưởng mong cầu của mình là hơn cả, ngoài ra chưa chịu thọ lãnh giáo ngôn, chẳng xem bài vở để sửa tánh tu thân thì chưa đến chốn Tin Vâng Kính thực thể, thời khó đến chân tướng Tri Kiến Giải Thoát. Tôi mong những bậc đã từng tu hãy đọc kỹ thời kinh này, chép nhiều phổ truyền rộng rãi, nó chính là một trọng yếu kim chỉ nam, làm cho bậc tu hành hết suy tư ảo-ảnh đến tri Kiến Giải Thoát vậy.” –T.V.


    Thời còn Ngài, Ngài vẫn thường khai thị, phổ truyền rộng rãi kinh sách nhưng rất hiếm có bậc tu hành chịu khó hiểu. Vì vô minh mà ma lực chẳng cho bậc tu nhận chân được nó, nếu nhận được đương nhiên biết được giá trị vô kể. Bậc nhận chân được chẳng còn tiếc chi chuyện thế gian, liền quyết định đánh đổi lối sống mong cầu đầy dục vọng đặng tìm cách gặp gỡ bậc Thiện Tri Thức tu cầu Tri Kiến Giải Thoát.

    Chư vị học giả, trí thức đã từng giảng dạy, viết Đại Thừa, Nhất Thừa xin hãy xem xét lối dạy chân lý Đại Thừa của Đức Long Hoa Tăng Chủ Di Lạc Tôn Phật có đúng như Chư Vị chăng?


    Thời Pháp quan trọng Ngài Khai thị về Đại Thừa, chính tôi nghe và chứng kiến tại Trung Ương Hội Thượng số 42 Hồng Bàng Nha Trang như vầy:


    • Cải Cách Bản Thân

    Khi bấy giờ nơi Chánh Điện, Tứ Chúng ngồi yên đàm luận, bàn bạc về môi sinh hiện tại khó tu. Bổng có tiếng chuông reo, báo hiệu Đức Long Hoa Tăng Chủ giáng lâm chứng minh Đại Lễ, Tứ Chúng đứng lên trang nghiêm chờ lễ.

    Ngài từ tịnh thất bước xuống, đi tháp tùng có hàng Thị Giả, Tôn Giả và Hộ Pháp đồng ra chánh điện. Khi bấy giờ Ngài lại đến ngồi tĩnh tọa trên chiếc ghế vải, thường ngày để sẵn, lúc Ngài nghỉ ngơi hoặc xem kinh điển. Vì khác hơn thường lệ làm cho tứ chúng bở ngỡ nhưng ai nấy đều tự giác xếp thứ tự trang nghiêm đồng lễ bái. Ngài đưa tay ra hiệu cho tứ chúng ngồi đâu đó xong xuôi Ngài khai thị rằng:

    “Tôi khá khen các ông, từ nơi rộng rãi tu hành cho đến thời tu eo hẹp, mà các ông vẫn một lòng một mức kiên trì, kiên nhẫn công phu tinh tấn không nhàm chán lễ nghi, mức Tin Vâng đối với giáo môn không đâu bằng, chỉ vì các ông đang sanh hạ trong thời Lạc Pháp, con người đang cải cách mà các ông không điên loạn theo đồ chúng. Còn đối với tôi cùng Giáo Hội vẫn gìn giữ tôn chỉ hành lễ cổ truyền ngày mồng 8 tháng tư, đúng ngày Đản Sanh Đức Bổn Sư Thích Ca Mâu Ni Phật của các thế kỷ nghìn xưa lưu lại.


    Thật ra con đường tu Phật, sự cải cách bản thân quan trọng hơn cải cách hình thức lễ bái chiêm ngưỡng, nó tự sanh ra nhiều mâu thuẫn, tự sanh nhiều lý sự khó khăn làm cho bậc tu chạy theo đồ chúng hư vị, do đó mà làm cho tâm ý bị phản đối, tinh thần lạc lỏng giữa ngày Đản Sanh của Phật còn vướng bị cải cách thời làm sao Kinh Pháp không sai lạc, thật vô lối.”
    –T.V.


    Đối với Đức Tịnh Vương hóa thân Đức Di Lạc Ngài đã nhập Chánh Định Tam Muội thấy biết rất rõ sự việc từ trăm ngàn năm về trước. Ngài xác nhận do chấp ngày trăng rằm tròn trịa mà đổi ngày Đản Sanh của Đức Thế Tôn thật sự là sai. Ngài xác nhận ngày Đản Sanh vẫn là ngày mồng 8 tháng 4 hằng năm.


    “Đối với Đức Thế Tôn, Ngài phải xa lìa đánh đổi cung vàng điện ngọc để cải cách bản thân. Ngài chấp nhận cảnh khổ, sự khổ tìm chân đế về giúp cho nhân loại. Hiện nay đó chính là tài liệu cải cách bản thân hơn là cải cách hình thức.” –T.V.

    Bậc tu Đại thừa rất cần cải cách bản thân. Nó cần thiết vì từ chỗ eo hẹp, nhỏ nhen cải cách đến tâm chí rộng rãi biết thương người, giúp người theo con đường cải cách bản thân cùng với mình tu cầu Tri Kiến Giải Thoát làm cho bản thân sự sống thoải mái tự do không còn bị trói buộc bởi ma lực.


    “Đối với Đức Thế Tôn, Ngài vẫn nhờ nơi bảo pháp như nhiên hiểu biết khỏi ép nơi khổ hạnh bị biết... Ngài bèn ra đi đến cội Bồ Đề tọa thiền Chánh Giác. Ngài tự nói: ta chớ giam mình nơi khổ cầu đạo Bồ Đề. Ta chớ hủy hoại thân mạng cầu lấy Diệu Quả khó tu, khó chứng.”–T.V.


    Có trực giác mới có bảo pháp như nhiên hiểu biết. Khi bậc tu thường ngày sửa tánh, giải tật xấu, đó chính là cải cách bản thân, đến một thời điểm chuyên cần không xao lãng, xem nó là món ăn của Bồ Tát nguyện bỗng nhiên đầy đủ, như nhiên liền hiện hiểu biết. Không phải suy nghĩ, suy luận. Đó là trực giác, tự mình biết pháp đúng, sai, tự mình thấy lỗi lầm. Khi không còn lỗi lầm liền tỏ rõ, thông đạt vạn pháp trước mặt mình, chung quanh mình.


    “Từ đó cho đến ngày nay Ngài lưu lại những điều Ngài tu trì, tu tập, tu hành trải qua từng thứ lớp trở thành Tam Tạng Kinh. Ngài cứu giúp giải tỏa buông lung đau buồn nơi cảnh khổ, Ngài hóa giải chẳng biết bao nhiêu sự mê lầm ngăn chấp. Từ nơi bị giác, bị tu an nhiên tự tại đến trực giác.” –T.V.


    Cải cách bản thân có kết quả Đức Thế Tôn luôn gìn giữ gọi là tu trì. Từng pháp Ngài không xao lãng gọi là tu tập. Từng pháp Ngài đều lưu tâm thực hiện cho được gọi là tu hành. Những kinh nghiệm quý báu này Ngài đều khai thị cho Tứ Chúng giữ gìn tu tập trở thành Tam Tạng Kinh.


    Sống trong thời đại khoa học phát triển, con người không sao tránh khỏi nhu cầu mức sống quá khả năng hiện có. Từ đó sanh tâm buông lung, sau không thỏa mãn trở nên thất vọng, đau khổ, oán trách đời. Cái muốn quá mức dắt bậc tu tham, liền có mê lầm ngăn tâm eo hẹp không còn như nhiên, dù có tu tinh tấn đến bao lâu cũng vẫn bị giác, bị tu. Giải sạch như nhiên hóa tự biết thoải mái, an lành.

    “Từ thứ bậc tu thân đạo hạnh đến hóa giải trở thành hạnh nguyện độ sanh đứng vào hàng Bồ Tát nguyện. Nay ta nói ra để nhắc các ông nên nhớ, chớ vì khổ nản lòng, chớ vì mức sống eo hẹp trễ nải công phu, nếu các ông đem quan niệm ấy vào lòng, thì tâm chí của các ông tự mang cái khổ.” –T.V.


    Mãi giữ gìn Đạo Hạnh bậc tu không linh động, trí tuệ khó phát triển, không mở mang dung thông vạn pháp diễn cảnh nó hóa cho tâm bị nóng giận, buồn, kéo thân khổ lụy. Bậc biết giải gọi là hóa giải pháp cốt độ chúng sanh tánh của chính mình, quyết thề nguyện hóa giải cho thân tâm thoải mái, đó là nguyện tu theo Bồ Tát. Không phải bỏ đạo hạnh nhưng có pháp cần giải sạch để tăng trưởng trí tuệ mới có đức trí tương song. Đức Di Lạc Tôn Phật thời mạt kiếp có nhắc nhở Tứ Chúng:

    "ĐỨC TRÍ TƯƠNG SONG

    CHÂN NGUYÊN TRỰC GIÁC"

    Đó chính là Bồ Tát nguyện. Bậc tu theo như nhiên trực giác đều được chư Bồ Tát quá khứ, hiện tại, vị lai hộ trì, giúp đỡ sau chắc chắn gặp Phật.


    “Các ông hóa giải bằng bộ óc giải thoát thì các ông noi gương Đức Chí Tôn cốt đánh đổi nơi eo hẹp làm cho tâm chí rộng rãi bao la, từ chỗ đương thời eo hẹp khó khăn tu đoạt quả vị phát triển. Những điều ấy nên nhớ lấy.”
    –T.V.


    Bậc tu có tinh thần cầu giải thoát để một ngày kia đầy đủ công năng, công đức liền được giác ngộ, giải được sanh tử luân hồi. Như Đức Bổn Sư bền chí hy sinh tất cả để cầu Đạo. Của cải châu báu ngọc ngà, Ngài đánh đổi ra đi không tiếc nên được từ nơi nhỏ nhen eo hẹp đến tâm chí rộng rãi. Thật có một không hai.


    “Ngày nay các ông đặng gặp Tôi, tỏ lòng ái kính do nơi đâu, phải chăng Tôi thường đem lời chuyên chính ấy là Tôi vẫn thường cải cách bản thân nên có công năng quyết định đưa các ông chân giác giúp các ông thoát khỏi vòng sanh tử, vì Tôi rất tỏ tường, thế nào là chân pháp hướng dẫn đến Giác Chân.” –T.V.

    Một hôm tại trung ương hội thượng, Ngài khai thị tôi nghe Ngài hỏi Thế nào là chân pháp? Trong anh em chúng tôi không ai trả lời được nên Ngài chỉ một chân tử và bảo biết thế nào cứ trả lời theo cái biết.


    – Chân tử nói: Tất cả Tam Tạng Kinh cùng lời khai thị của Đức Thế Tôn đều là chân pháp. Đức Long Hoa Tăng Chủ ôn tồn bảo.


    – Tam Tạng Kinh cùng lời vàng ngọc của Đức Bổn Sư Thích Ca Mâu Ni Phật đều là chân pháp nhưng sang đến ông nó không còn là chân pháp nữa. Vì sao?

    – Vì sự tu hành từ ý nghĩ, lời nói, hành động đều do quan niệm của ông còn lầm lẫn, kinh của Đức Bổn Sư ông học, nghiên cứu, viết sách trở thành bị giác, thực hành theo nhận định gọi là bị tu, kết chung bị biết.


    Các ông cần cải cách bản thân nghiêm túc mới có tự tánh thì kinh của Đức Bổn Sư đến với các ông trở thành chân truyền bảo pháp. Vậy các ông hãy lắng nghe:

    Chân pháp là pháp không chấp



    Cho nên bậc tu Đại Thừa chân truyền thề nguyện: Không Lấy cái sai làm cái đúng, mà cũng không lấy cái đúng làm cái đúng. Tu như vậy đầy đủ công năng, công đức, liền đến Giác Chân.


    “Tôi cũng đã sống nơi đắng cay cam khổ, cố gắng kiến tạo công năng nương nhờ Như Nhiên Trực Giác mới khỏi sự lý lạc lầm thành thử lời chỉ dạy toàn lời hoàn mỹ, lời ấy nó chẳng y kinh mà cũng chẳng ly kinh, viên thông hướng dẫn, như thế gọi là lời Chân Truyền Chân Giác.” –T.V.


    Đương thời Đức Long Hoa Tăng Chủ còn tại thế, Ngài không cho hàng Hộ Pháp, Tôn Giả rập khuôn theo kinh thuyết pháp mà phải dùng tự tánh.


    Suốt lộ trình khai đạo ở thế giới ta bà này Ngài luôn chỉ đạo tu hành phải thề nguyện hóa giải khi gặp vạn pháp đắng cay cam khổ. Hóa giải được quân minh, tài liệu này không có trong kinh Phật gọi là không y kinh. Giải quyết vạn pháp quân minh không còn một kẻ hở nào có thể chê trách được, bậc đi trước cũng như bậc đi sau đều giống nhau, đó chính là Chân Truyền nên được gọi không ly kinh. Vì nghe thấy biết đều là vạn pháp, cái gì trong thế gian này cũng không ngoài vạn pháp, bậc tu giải quyết được quân minh, tròn sáng thì lúc xem kinh Phật như nhiên Trực Giác rất sâu thẳm, khó có bộ óc thế gian nào sánh kịp.


    Một bậc tu đạt được quân minh thật không gì quý bằng, chân hạnh phúc thật sự trong 24 giờ mỗi ngày, hiện tại cũng như vị lai không thể nghĩ bàn. Gặp hoàn cảnh (vạn pháp) giải quyết quân minh, đó mới là của TA, là chơn tâm, là chân truyền. Bậc này thị hiện ở đâu, nơi đó đều an lạc, dù kiếp nào cũng vậy. Văn tự không thể diễn tả đầy đủ Chân Giác được.


    "Các ông tự than phiền cuộc sống, thế tình điên đảo, đương nhiên các ông mang vào pháp giới khắc khao (khắc nghiệt, khao khát) có phải chăng các ông tự đặt mình thành ngăn cách, lại cầu Tri Kiến Giải Thoát. Chẳng khác nào tự mang lấy gánh nặng, chưa chịu vứt đi, cho nó nhẹ nhàng, chỉ đa mang rồi mong ước nhẹ nhàng không bao giờ có đặng.” –T.V.


    Khi bậc tu có tinh thần cầu giác ngộ, giải thoát sinh tử luân hồi, đương nhiên phải hóa giải pháp giới cay đắng, khắc nghiệt, không thể than thở cầu vái van xin cho hết khắc nghiệt. Dù cho có tu theo pháp môn nào cũng đều chung một lối, qua một đường hóa giải vạn pháp diễn cảnh mới gọi là Đại Thừa theo chân truyền.

    “Ta nói đây các ông chưa hiểu nổi, vì công năng còn kém. Các ông cứ tu, chớ trễ nải công phu rồi một ngày nào đầy đủ công năng như nhiên, tâm các ông không cấu tạo thời dù cho hoàn cảnh chi chăng nữa vẫn là món ăn Tri Kiến Giải Thoát thân tặng các ông.” –T.V.


    Tâm cấu là tâm còn loạn động ắt thường tạo tác những sự mê lầm, nếu bậc tu tinh tấn bền chí hóa giải vạn pháp là đi đúng đường chư Bồ Tát quá khứ. Kết quả đạo lâu mau đều do nơi chúng sanh có cải tạo được nơi bản thân sớm hay muộn mà thôi./-



    30. Công Đức Phẩm

    • Lời Ta nói đều là bánh vẽ, các ông hãy nương vào Công Đức sung mãn, đương nhiên bánh thật sẽ đến các ông.


    • Bằng các ông nhận nuốt lời Ta chẳng chịu nương vào Công Đức sung mãn, thì các ông tự ăn bánh vẽ mà thôi chớ chẳng đem được cái hữu hiệu cho các ông.


    –Vô sư kinh


    Công Đức Phẩm



    “Công đức hữu lậu là y áo cúng dường phẩm vật, cúng dường hương đăng hoa qủa, xây chùa nuôi Tăng. Còn vô lậu tín tâm phụng hành Công Đức, đa phần bậc sơ khởi tu hành còn quan niệm về nơi Phước Báo Nhân Thiên hay tu hành thoát sinh về Tịnh Độ Tây Phương Cực Lạc. Căn cứ nơi Công Đức Phẩm thì tùy theo sở nguyện mà thành.” –T.V.


    Ngài rất chú tâm đến phẩm công đức và khai thị cho Tứ Chúng, tôi nghe như vầy: muốn xây căn nhà vững chắc, móng nhà phải làm kỹ. Càng xây cao, nhà càng nặng, móng nhà cần phải chắc chắn tương xứng mới chịu đựng và đứng vững. Lấy đời để so với đạo công đức phẩm rất cần cho con đường tu cầu Tri Kiến Giải Thoát.

    Lúc còn nhỏ, một hôm Ngài muốn cúng dường Phật mà không có phẩm vật gì, Ngài lấy cái ly rửa thật sạch đi ra cái giếng nước, nhẹ nhàng thả gàu xuống múc nước để nước không bị vẩn đục, khi kéo lên Ngài tránh không cho cái bóng của thân thể che gàu nước. Múc xong ly nước, Ngài lấy hai tay đội trên đầu đi nhẹ nhàng không cho đổ một giọt. Dâng lên bàn Phật xong Ngài chiêm ngưỡng hình Phật. Ngài dạy tiếp,


    "Nghèo mà thành tâm vẫn cúng dường được, vẫn có công đức. Chư Phật đều có đầy đủ vô lượng công đức mới thành Phật."



    Kinh nghiệm trên đường tu chỉ có phẩm công đức mà thành tựu Cửu Phẩm Liên Hoa. Cứ mỗi phẩm công đức hữu lậu lớn, đầy ý nghĩa, đúng lúc là sở đắc một phẩm. Suốt lộ trình gặp được Đức Long Hoa Tăng Chủ, chỉ lập phẩm công đức cần mẫn mà được kết quả Đạo. Nếu chỉ nói mà không hành chẳng khác nào cái bánh vẽ không có bánh thật.


    Bậc tu giữa lúc Đức Tăng Chủ khổ, thiếu vật chất, không thể nói bằng hơi được. Có nhiều bậc tu, thấy Ngài khổ, thiếu thốn, họ làm lơ mặc dầu họ sống khá. Một hôm Ngài bảo: "Tôi phải ra đời nghèo, chân tử cúng dường cho tôi mới có giá trị. Công đức hữu lậu sung mãn mới thực tiễn bước sang công đức vô lậu. Công Đức hữu lậu rộng mở tâm đồng ứng theo đầy đủ, mới thực tế có công đức vô lậu."


    “Bằng có bậc tu công đức phẩm, kiến tạo công năng cơ bản tu cầu Tri Kiến Giải Thoát. Nương nhờ kiến tạo công năng, nên bảo trì công quả, phục vụ Công Đức không kể lễ. Gặp kẻ ngoại giáo dèm pha bậc này gìn giữ thân tâm không hờn giận, chủ yếu chuyên trì công quả.” –T.V.


    Bậc tu kiến tạo công năng chính là sự chịu đựng. Nếu có lập phẩm công đức mà bị chê trách cũng không tức giận, gọi là bảo trì công đức. Đó là công đức vô lậu cúng dường Như Lai, tu hành theo con đường giác ngộ.


    “Từ nơi bố thí không kể lể đến trì giới, tinh tấn, nhẫn nhục thảy đều nhất tâm cố giúp, càng giúp mọi người chu đáo bao nhiêu vẹn toàn không cầu tri ân trả nghĩa, gọi là trí tuệ thiền định.” –T.V.


    Khi thực hiện bố thí biết nói lời ôn tồn không ỷ mình là người cho mà hách dịch. Đó chính trong pháp bố thí đã có trì giới. Khi bố thí đem tình thương đặt vào kẻ đang khốn khổ. Đó chính trong pháp bố thí đã có nhẫn nhục. Gặp đúng pháp liền thực hiện bố thí. Đó chính trong pháp bố thí đã có tinh tấn. Bố thí đúng lúc chúng sanh cần giúp đỡ. Đó chính trong pháp bố thí đã có trí tuệ. Bố thí làm tròn duyên, xong an nhiên không còn bàn luận. Đó chính trong pháp bố thí đã có thiền định.

    Bậc tu cần trực giác được trong một pháp bố thí đã sẵn có trì giới, tinh tấn, nhẫn nhục, trí tuệ, tiền định gọi là lục ba la. Bố thí vô uý thí mới gọi là mật đa. Vậy trong một pháp bố thí đã có lục ba la mật đa. Pháp của Đại thừa phải tu Bát nhã ba la mật đa như vậy.


    “Từ đó mới bước vào con đường tu Bồ Tát Hạnh mà đặng sáng soi tất cả tánh của nhân sanh tánh, tạo thành pháp giới nên gọi là chúng sanh giới.”
    –T.V.


    Pháp môn của Phật dạy cho Bồ Tát phải hạnh nguyện chính là: Lục Ba La Mật Đa, Tứ Nhiếp Pháp (đồng sự nhiếp, ái ngữ nhiếp, tự lợi nhiếp, tha lợi nhiếp), Tham Sân Si.

    Hàng Đại Thừa phá mê chấp để sạch lý tham, trong khi Tiểu Thừa sợ tham khởi vọng nên không dám nghe, không dám thấy, không dám biết để tận diệt tham. Còn nghi ngờ, còn vọng đảo là chưa sạch lý tham. Hàng ngày quay vào bên trong soi lại tánh của mình sau biết rõ chúng sanh tánh của mình và của mọi chúng sanh khác đều có đủ. Mình có bao nhiêu chúng sanh tánh là tứ loài cũng có bấy nhiêu chỉ khác mỗi người nặng một tánh, như có người rất nóng nảy, có người ít nóng nhưng lại keo kiệt, có người khác rộng rãi... Mỗi tánh tạo một pháp giới sống từ kiếp này sang kiếp khác. Biết rõ pháp giới sẽ sở đắc pháp tánh. Bậc sở đắc pháp tánh viên dung bình đẳng, nhớ được tiền kiếp quá khứ. Nhớ nhiều hay vô số tiền kiếp quá khứ là do sở đắc pháp tánh sâu hay cạn. Có bậc nhớ được một kiếp quá khứ thời tu tập theo Đức Bổn Sư cách đây 2538 năm PL, số này rất đông trong Pháp Tạng Phật Giáo Việt Nam.


    Có bậc đạt được thiên nhãn, thiên nhĩ biết rõ tiền kiếp quá khứ, cùng tất cả chuyện trong đời cũng không hoàn mỹ bằng bậc đã tu đạt Pháp Tánh.


    “Nơi chúng sanh giới này chưa hẳn riêng loài người, nó chung gồm tất cả đều thọ chấp mà hóa sanh ra đủ loài. Từ các sanh vật đến vạn vật cùng con người, Tiên, Thần, Thánh hóa thảy đều bị giới sanh, luân chuyển nơi kiếp luân hồi sanh tử.” –T.V.

    ◊ Mỗi chúng sanh giới từ một tánh mà thọ chấp nên sanh một thân đầy khắp muôn hình tướng trong Tam Thiên Đại Thiên thế giới.


    ◊ Như con chó pháp tánh của nó là giữ nhà. Bậc biết pháp tánh của nó hễ vào nhà lạ có chó là phải canh chừng. Chủng tánh giữ của trong nhà đã tập nhiễm nên ai đụng đồ là nó cắn. Bậc không biết gọi là lầm chớ không phải lỗi ở con chó.

    ◊ Tỷ như con mèo pháp tánh của nó là ăn vụng bậc biết phải đậy kỹ thức ăn. Nếu lơ là nó ăn vụng, người không biết la, đánh nó là mình sai chớ không phải con mèo sai.

    ◊ Chư Thiên pháp tánh sạch sẽ, đi đứng thanh bai, nói năng dịu dàng, nhà cửa ngăn nắp vào ở chỗ lộn xộn, dơ dáy không chịu nổi.


    ◊ Thần tánh thương người hay giúp đỡ người nhưng tánh còn nóng giận. Trái ý liền giết...

    Do đó ta biết rằng mỗi chúng sanh thọ chấp, ôm giữ một tánh độc nhất của mình nên kiếp nào cũng bị nó dẫn dắt. Dù cho tu đến đâu chăng mà không rõ bổn lai của pháp tánh vẫn chỉ nói, thuyết giảng chớ chưa thực hiện đúng Hạnh Bồ Tát được, phải bị sanh tử, tử sanh vô cùng tận. Do đó mà bậc thực tu phải cầu Thiện Tri Thức đã được Phật thọ ký mới mong kết quả giác ngộ được.


    “Bậc này nhìn khắp thế giới vũ trụ gọi là THỂ. Bằng lớp lớp chúng sanh giới được gọi là Pháp Thân Sở Đắc, Pháp Thân Phật.”
    –T.V.


    Mỗi một tánh tạo một chúng sanh giới, vô số chúng sanh giới chính là Pháp Thân Chư Phật. Muốn tu sở đắc pháp thân cũng phải lần hồi tu đúng đường cho sạch hết pháp tánh chúng sanh, mới mong đến nơi chốn Chư Phật được, mới vào thể vũ trụ khắp khắp.


    “Nhờ công đức phẩm, nhìn nhận thị chứng pháp thân nên chi tỏ ngộ đặng pháp và tâm đều duy nhất, liền vui mừng nói: Tâm tiêu biểu cho tánh, còn tướng vốn là pháp thảy đều là một không hai, thật kỳ diệu thay.” –T.V.


    Nghe thấy biết là vạn pháp. Giải xong pháp liền hồi tâm nên pháp và tâm là một. Tỷ như gặp hoàn cảnh buồn tôi thấy khổ, hóa giải cho không còn buồn. Cái buồn đã hồi Tâm. Pháp cũng do Tánh thành Pháp Tánh. Lầm mê nhận tánh không trụ tánh hồi tâm nên Pháp - Tánh - Tâm đều duy nhất chứ không có hai, ba.


    Nhìn hình tướng biết tánh. Tỷ như một người đi, nói năng lộn xộn. Tướng này lộn xộn thì tánh không có nghiêm chỉnh. Tướng chính Tánh cũng là một.


    Pháp - Tánh - Tâm - Tướng đều duy nhất đồng thể tuy thị danh có khác nhưng gốc do Tâm tạo. Bậc thực hiện biết rõ thật tuyệt diệu, không còn phân chia nên trực giác Chơn Tâm ẩn trong vọng tâm, vọng tâm sạch, như nhiên Chơn Tâm hiện. Tuyệt diệu ở chỗ Chơn Tâm không ở đâu nhưng ở đâu cũng có. Cũng tướng, cũng tánh, cũng pháp còn lầm thọ chấp nó là vọng tâm. Sạch vọng hoàn lai Chơn Tâm vậy. Do đó bậc Đại Thừa tu đạt chơn tâm từ nơi Nghe Thấy Biết chứ không y kinh lý luận hiểu biết. Kỳ diệu thay chư Phật đã tận thành. Chư Bồ Tát đã thấu đạt.

    “Khi bấy giờ công đức phẩm hạnh này, chỉ thực hành tròn duyên, tròn nguyện gọi là công đức cúng dường Như Lai. Nhờ Như Lai, nương vào Như Lai mà dung thông pháp giới thị chứng vô sanh pháp nhẫn. Đó phải chăng bảo pháp cao quý giá trị, khó nghĩ bàn chăng?” –T.V.


    Gặp hoàn cảnh khó khăn, an vui hóa giải không phiền trách, không sân hận, luôn hóa giải trong tinh thần đạo đức, hướng thượng. Đó là công đức to lớn cúng dường Như Lai. Nương vạn pháp hóa giải là nương vào Như Lai, không sanh, không diệt hoàn cảnh chỉ nương vạn pháp gọi là dung thông pháp giới.


    Nhẫn nhục nếu cứ làm thinh sẽ không có trí, con người dần dần đến chỗ ngu đần. Nương pháp hóa giải đạo hạnh gọi là nhẫn nhục. Nhẫn xem xét để hóa giải gọi là nhẫn nại. Cố tinh tấn không nóng tánh mà vẫn hóa giải chứ không phải cứ làm thinh gọi là nhẫn nhịn. Mỗi pháp mỗi hóa giải gọi là niệm pháp, niệm niệm Pháp chính là niệm Phật. Đến lúc này sở đắc Vô Sanh Pháp Nhẫn. Phẩm này là bước đầu rất cần thiết để thành đạt Pháp Thân Phật.


    Chưa tỏ tường con đường Vô Sanh Pháp Nhẫn tu bao lâu cũng chưa vào thể của vũ trụ được.


    “Mỗi một Phẩm Hạnh diễn tiến giá trị cao qúy như thế, đã có bậc thực hành kết quả đi trước. Kẻ tu trì đi sau phải cố gắng thi hành. Chính ra như Tôi hiện nay hoàn mỹ vẫn nương nhờ Công Đức Phẩm, nảy nở công năng, từ thấp trưởng thành Tối Thượng Chánh Giác, đoạt đến Vô Thượng Phẩm khó nghĩ bàn.” –T.V.

    Đức Tịnh Vương, Long Hoa Tăng Chủ, hóa thân Đức Di Lạc Tôn Phật trước giờ phút Bát Đại Niết Bàn, lời cuối cùng của Ngài với Tôi như sau.




    “Chỉ có phẩm công đức mà thành Diệu Quả Bồ Đề nghe không ông!” –T.V.


    Đời Ngài tất cả đều hồi hướng Công Đức Như Lai mà nên sự nghiệp, được Muời Phương Chư Phật tán thán!./-

    31. Công Năng

    “Bậc tu hành cần đến công năng, công năng từ nơi tâm chí thiết tha cầu đạo, cốt lướt qua từng trở lực nơi Ma Nghiệp ngoại lai ngăn cách và lừa gạt, mới mong đoạt đến sở cầu hoàn lai chân thiện.” –T.V.

    Bậc tu hành khi gặp hoàn cảnh cần có tâm chí dũng mãnh lướt qua cho được gọi là công năng. Thiết tha tâm vững mới đủ sức nhận vạn pháp như huyễn được. Do quan niệm mà tạo nghiệp nên hạnh nguyện tu hành đều bị cản ngăn không qua được hoàn cảnh gọi là Ma Nghiệp. Phải bền chí mới đạt được Chân Thiện Mỹ theo vết chân chư Bồ Tát đã đi. Loạn tưởng là ngoại lai, dù có hiểu biết Tam Tạng Kinh vẫn bị mê lầm ngăn cách không đến chân giác được.


    “Bằng những bậc tu biết sáng soi rõ đó là nghiệp thức nơi tư tưởng, nghiệp lực nơi nghiệp căn thời chính nó là ngoại lai khôn khéo đi đứng nơi khái niệm văn từ, diễn biến theo tư tưởng, có lúc ngỡ mình giác, liền bị ngoại lai lừa dối, tu như thế rất phí phạm công phu, chưa hoàn giác lầm lạc ngoại lai đi vào tà kiến.” –T.V.

    Nghiệp thức chính là tư tưởng còn gọi là ý niệm lưu trữ và chuyển động trong tứ loài. Nó tạo một lực vô minh mà hàng chúng sanh, Tiên, Thần, Thánh không thể nào thoát khỏi. Từ đó nó tạo nghiệp lực.

    Nghiệp lực: Thật khôn, tinh vi, nó nghe, thấy và biết trước rất xa dù xa đến đâu nó cũng đến trước ngăn chận, cản trở chúng sanh, hàng nhị thừa, nó không cho phát Bồ Đề Tâm tu hành. Nếu chúng sanh gặïp phàm tăng nó để yên, nếu chuyển động gặp Thánh Tăng, Bồ Tát, Chư Phật nó quá ư khôn khéo, tinh vi nhập vào thân mình cản ngăn, chận cho tê liệt mà chúng sanh không hề hay biết, dù bậc giỏi biết được, nó liền chận không cho hạnh nguyện. Kinh nghiệm chỉ gặp bậc Thiện Tri Thức Tin Vâng Kính mà cứu độ cho để thực hiện mà thôi. Khi đã đóng khuôn nghiệp lực nó liền thành căn tánh cố thủ gọi là nghiệp căn. Dù có tu A Tăng kỳ kiếp cũng không tháo gỡ nghiệp căn sâu dày này được.

    Tỷ như một bậc tu quen tụng kinh vái cầu van xin. Nó đã có tư tưởng quen thuộc gọi là nghiệp thức. Có dịp gặp được bậc bảo phải tu sửa tánh xấu, giải đố tật, cải tạo bản thân, kẻ này chướng, đó chính tư tưởng tự phát ra chướng vì khác ý niệm với thói quen tụng kinh, tu cầu. Đến khi thấy sửa tánh có lợi, liền có sự cản trở không cho đi nghe giảng, không cho ngồi tọa thiền. Đây chính là nghiệp lực. Bậc tu xuôi theo bỏ dở để trở lại tụng kinh cầu xin. Nghiệp căn đã kết thành hình.

    Thời còn Ngài hàng Tiểu Thừa chuyển Tu Đại Thừa bị rớt nhiều. Tổng số chân tử theo Ngài tu hành có đơn xin, có sổ sách ban chấp sự lưu giữ được 3000 bậc tu. Tính đến năm 1975 đến thời Đại Thừa còn lại khoảng 200 chân tử lui tới chịu nghe tiếp, số kia ở nhà tụng kinh, lâu lâu ghé thăm Ngài. Họ tránh những giờ Ngài khai thị Phật Pháp. Ngài khuyên bảo gì họ cũng lơ là. Nghiệp căn không tự chuyển dù Ngài có giúp cũng đành chịu an bài. Không tự tạo công năng không ai cứu nổi dù Phật có ra đời định nghiệp đã đóng cứng cũng đành chịu.


    “Đường tu Phật ít nhất bậc tu cũng phải có công năng vun trồng hành nguyện độ sanh đặng tạo nhân duyên sanh trưởng mà thấu tỏ các pháp thâm diệu.” –T.V.

    Tỷ như người học trò đi học ở trường biết chăm chỉ lắng nghe thầy giáo giảng bài về nhà phải làm bài, gặp bài toán… khó phải nhờ bạn bè hay thầy chỉ dẫn giải cho được. Sau thi đậu ra trường có việc làm tương xứng. Người học trò thành người và mãn nguyện. Việc tu hành cầu Tri Kiến Giải Thoát nó cũng vậy, không mấy khác.

    Có bậc không thực hành, suy nghĩ, gặp việc đến đúng ý mình rồi cho là Giác. Thật tai hại vì bị Ma Lực gọi là ngoại lai xâm chiếm toàn thân mình, làm chủ mình mà không hay biết. Phải hành nguyện cho sạch chúng sanh tánh của mình gọi là Độ Sanh mới thoát được ngoại lai độc nhiễm. Đừng nên ngồi tưởng, suy nghĩ nữa. Tự tạo công năng vững chắc mới mong sở đắc chân lý. Tu như vậy là con đường nương theo Bồ Tát Hạnh.

    “Đến ngày hôm nay nghiệp sát tiêu giảm đối với các bậc tu hành về Đạo Phật, nhưng lại quá ư lệ thuộc ngoại lai Ma Đạo quấy nhiễm, từ nơi tâm trạng ý thức quan niệm, nên chi nơi Chùa Tháp các chư Tăng tu trì cổ võ, từ bên ngoài hình thức tu Phật, kỳ thật chưa thấu ngoại lai dung dưỡng Ma Lực, tự sống nơi hình sắc bên ngoài có sắc thái tu tập theo giáo điều của kinh điển đầy đủ hình thức.” –T.V.

    Khi Đức Bổn Sư ra đời ở Ấn Độ, Thần Đạo đang thịnh hành, họ giết súc vật tế thần, còn con người nghèo khổ bị xem là kẻ nô lệ. Ngài đã dạy dỗ về luật nhân quả. Đến nay nghiệp sát đã giảm nhiều. Còn những Phật tử chân chánh đã không sát sanh nữa. Nhưng sự tu hành không chú tâm hóa giải vô minh, chỉ chú tâm tổ chức hình thức tu hành đủ màu sắc, vì vậy không thấy quan niệm lạc hướng trở thành tu hành bị ngoại lai phủ kín. Ma Lực quá khôn khéo làm cho bậc tu không nhận diện được Thực Tướng của nó. Ma Lực làm cho các bậc tu tạo phe phái đồ chúng không còn cốt tủy của Đạo Phật nữa.

    “Bậc tu hành phần nhiều chưa hay biết, miễn sao mình chiếm được chức vị Cao Tăng, Đại Đức, lại cùng nhau dung túng ngoại lai trở thành tu hành phe phái đồ chúng khắp nơi làm cho Đạo Phật càng ngày càng giảm giá trị, tỏ tánh Kiến Tri Phật Đạo.” –T.V.

    Sự tu hành thời Mạt Pháp Đức Long Hoa Tăng Chủ chứng kiến phần nhiều bậc tu không hay biết gì lối tu tự tánh tỏ tánh để hóa giải ma nghiệp đang xâm chiếm, chỉ lo tổ chức về chức vị làm cho ngoại lai ngự trị, nó chia bậc tu thành nhiều nhóm phe phái tương tranh nhau làm mất hết ý nghĩa chân chính của Phật Đạo lại cho là cầu Tri Kiến Giải Thoát.

    “Tôi nói ra đây với tinh thần trách nhiệm sự tu hành bị lầm lạc ngoại lai nên đa phần, bị tình trạng nơi đây chưa phát triển.” –T.V.

    Thời Hạ Lai Mạt Pháp Ngài muốn nói lên để bậc thật tu cầu giác ngộ tránh nặng tổ chức hình thức mà lo phát triển cải tạo bản thân để cho xã hội, quốc gia được sống trong hạnh phúc thật sự. Lời nói của Ngài Đại Diện Tam Thế, từng đã được sự thọ ký của Đức Bổn Sư Thích Ca Mâu Ni Phật.

    “Cũng có bậc tu cầu tích cực, tu hành nghiêm túc đoan trang, tự sửa mình tu giải nghiệp nương theo kinh điển làm tài liệu lời vàng. Nhưng tiếc thay chỉ tầm cỡ hiểu biết phần nào, tựa như chỉ một miếng mồi tạm tu, tạm tỏ, liền tự cho mình Tri Đạo, cho đến bậc Tỏ Tánh Chân Không đã cho chính mình sở đắc.” –T.V.

    Thời Mạt Pháp Đạo Phật không những mất chân truyền mà còn bị mang tiếng tiêu cực. Thật ra đạo Phật rất tích cực, giúp cho chúng sinh có cái sống thực tiễn, sống động. Chức vị Hòa Thượng, Thượng Tọa, Đại Đức chỉ là thị danh không nên ngồi an hưởng mà phải giải tỏa cho được ma lực đang xâm chiếm toàn thân. Không phải chức vị là sở đắc. Phải kiến tạo công năng dẹp tan Ma Lực mới tri đạo. Chân không chẳng phải là sở đắc. Nó còn rất xa, quá xa con đường đi đến Giác Ngộ.

    “Chân không nó có rất nhiều tu chứng bị chứng đến thực chứng. Từ phàm phu Triết Học đến Tiên Thánh Chân Không, chung lại vẫn còn lớp lang ngoại lai diễn đạt, do nơi diễn đạt của ngoại lai mà chư Bồ Tát phải tu trải qua nhiều kiếp, hành thâm pháp giới, thi hành hạnh nguyện, kiểm điểm nội tâm trực chứng ngoại cảnh, cốt tỏ ngộ theo căn cơ, để khỏi lầm ngoại lai đề đạt thấp cao của cấp bậc tu chứng, hóa sanh hay bị sanh hoặc đặng sanh cùng tự sanh Cứu Cánh Giải Thoát.” –T.V.

    Một hôm Ngài khai thị về các tần số chân không của hàng tu chứng tôi nghe tóm lược như vầy: Hàng chúng sanh tu diệt pháp để Không, cái không này không nghe, không thấy đến không biết rất tai hại.

    Bậc Tiên chọn chốn thanh vắng núi non, tránh dơ chọn sạch lập Thiên Pháp. Cái không này còn Thọ Sanh Pháp Giới vì tu luyện bảo vệ thân thu nhiếp tinh chất thanh khiết bồi dưỡng thân, trong một thời gian được tráng kiện sống lâu hơn người thường nhưng đến một hạn định sau vẫn phải chịu với luật sống chết.

    Thật ra chúng sanh bị lầm tưởng, nương theo để sống tưởng là thật, nó do ảo tưởng thành hình thôi. Phải chí tâm chí thành tạo công năng thù thắng cùng được sự khai thị của Thiện Tri Thức Bồ Tát cùng Chư Phật mới thoát cái KHÔNG này.

    Ví như Pháp sư Trần Huyền Trang không ngồi yên trong chùa chờ tu hết kiếp mà bôn ba đi tha phương cầu đạo, chịu muôn chiều cay đắng, khổ cực cùng ngọt bùi. Chừng sạch chúng sanh tánh mới yên ngồi dịch kinh. Vì sát thực tế nên tâm ý rộng rãi rỗng rang nên việc dịch kinh được sát nghĩa theo đường Chư Phật.

    Bậc tu hành chủ yếu là phát nguyện rộng rãi tạo công năng, bằng tự lợi không tha lợi gò bó chật hẹp, lo sợ thì khó có đủ năng lực thành tựu. Không hành, chẳng nguyện, công năng không có, đích đến cũng không. Muốn đến giác ngộ không chịu đi! không tạo công năng hành nguyện, chẳng cựa quậy lại ngồi im dù có tu cho mấy đi nữa vẫn là cái không tịnh biệt.

    Ví như La Ma Milarepa ở Tây Tạng, chịu đựng bao gian nan cho nát nhừ chúng sanh tánh sau nhập lưu đóng cốc ngồi yên mới ra Chân Nguyên, chứ đâu phải còn nhỏ tu xuất gia đến già, yên tịnh ở nơi hoang vắng mà sau giác ngộ đâu.

    Tu không phải là giải thoát, Hiểu không phải là giải thoát, Biết không phải là giải thoát, Tri Kiến không phải là giải thoát. Giải Thoát nó có đặc điểm của giải thoát. Do đó có nhiều cấp tu chứng. Bậc thiên tiên hóa sanh. Chúng sanh bị nghiệp lực sanh gọi là bị sanh, sống thanh cao, hướng thượng tâm rộng rãi được sanh Thiên Giới. Bậc chánh giác tự sanh vì không còn bị nghiệp thức, nghiệp lậu, nghiệp căn điều động.

    Khi còn điên loạn, chư Phật mới dạy không ta, tùy công năng công đức cạn sâu. Có ta chung cùng trùm khắp giác ngộ đến chánh giác. Tu chưa tỏ tánh chưa tự tánh, lắm bậc chấp không nên bị sa vào phi phi tưởng. Tiên, bậc Chân Không vẫn còn ngoại lai diễn hóa thành đạt chưa phải cứu cánh giải thoát.

    “Thân mạng các ông đã từng chứa hàng vạn Thầy từng giai đoạn dạy các ông, cốt ngăn cách lời chỉ giáo nơi Ta, không chấp nhận Ta. Do nơi ấy mà các ông chưa lãnh hội lời chỉ giáo. Nếu các ông có lập trường công năng tiêu giảm các ngăn cản, qua các trở lực từng giai đoạn, các vị Thầy lần lượt ra đi, lần lượt giảm, thời các ông lần lượt lãnh hội nghe đặng, thấy đặng lời Ta đã từng nói, ngày nay mới nhận lãnh, dặn dò xong Ngài quay lại nhìn Di Lạc Tôn Phật chứng minh thừa kế gọi là Đương Lai Hạ Sanh Di Lạc Tôn Phật.” –T.V.

    Hàng vạn, triệu, vô số tư tưởng, nó nói tới nói lui, nó tính tới tính lui, nó dùng Ma Lực rất mạnh làm thầy bậc tu nên không nghe được lời khai thị của Đức Bổn Sư.

    Nó khôn khéo đủ cách ngăn chận đường tu, nếu qua được trở lực này nó thừa cơ tạo ngăn cản khác, phải thật biết nó mới giám đánh đổi thắng ma lực ngoại lai được. Khi nào trong thân không còn hay giảm nhiều ma lực chừng đó mới nghe được lời khai thị của bậc Thiện Tri Thức. Vì khó khăn vô kể nên Đức Bổn Sư mới thọ ký Đức Di Lạc Tôn Phật Hạ Lai này gánh chịu ngoại lai, vận chuyển qua từng cơn thù thắng mà dạy cho tứ chúng tu hành trong thời Mạt Pháp này, làm cho hàng vạn, triệu bậc thầy mê lầm trong ta lần lượt ra đi, y như thời Đức Bổn Sư đã từng khai thị cho Tứ Chúng tu hành thời quá khứ vậy.

    Khi không còn ngoại lai ma lực bủa vây bậc tu mới trực giác thật nghe, thật thấy, thật biết, tỏ tường thấu đạt ma lực. Lúc đó chỉ cần: Nhất ngôn liền Tri Kiến Phật, liền Phật Tri Kiến.

    “Tuyệt tác thay! Đức Bổn Sư, Ngài chu đáo đến đời sau, Ngài tận tường duy nhất chỉ có Đại Lực mới kiêm nhiệm đủ toàn năng đối với ngoại lai xâm chiếm.” –T.V.

    Đức Bổn Sư đã biết, thời Mạt Pháp chỉ có Đại Lực Di Lạc Tôn Phật là bậc duy nhất tháo gỡ được ngoại lai. Chỉ có Ngài đủ toàn năng. So như vậy đủ biết đã có lắm bậc lầm xưng hô Thiền Sư, xưng danh Phật nhưng nào có ra khỏi ma lực được đâu! Mà thật vậy, có gặp Ngài trong kiếp Hạ Lai này mới thấy tháo gỡ ngoại lai độc nhiễm, tự lực không đủ công năng, tất cả nó đều phủ kín. Bằng chứng là Ngài đã ở trong Hỏa Ngục mà toàn thắng Ma Vương.

    “Lúc bấy giờ Đức Đại Lực mới công dụng sắc, thinh, hương, vị mà không nhiễm cốt nương theo tường tận ngoại lai Chánh Giác.” –T.V.

    Pháp môn của Đức Di Lạc là đi trong Sắc - Thinh - Hương - Vị - Xúc - Pháp mà không nhiễm, để tận thấu tất cả tập khí sanh tử của ngoại lai. Sắc thinh hương vị xúc pháp ở trong thế gian, tiếp xúc tỏ tường hóa giải đó là lối tu đầy đủ công năng của Đại Thừa.

    “Đối với Đại Lực không riêng chi nhân sanh tứ loài vũ trụ tam thiên, vì sao? Vì Đại Lực viên đạt huyền cơ đã từng nằm trong bao đãy, có quyền tháo gỡ ngoại lai độc nhiễm cho những bậc tín tâm tu cầu Tri Kiến Giải Thoát.” –T.V.

    Thời này Ngài đã hạ lai! 37 năm Ngài chỉ bày: Ấn Chỉ cho số Chân Phật Tử tín thành đã từng gặp Ngài. Họ phát tâm đều được Ngài tháo gỡ ngoại lai độc nhiễm, nhưng con số này quá ít chỉ đếm được trên đầu ngón tay so với 3000 chân tử theo tu trong Pháp Tạng Phật Giáo Việt Nam

    Trên thực tế chính tôi đã chứng kiến, bậc tu gặp được bậc Thiện Tri Thức mà không quyết chí phát tâm cầu giải thoát cũng không tháo gỡ được cho, gặp rồi mà không nhận được giá trị chỉ lo cầu phước báo nhân thiên vẫn còn sanh tử. Không phải ai cũng được tháo gỡ ngoại lai độc nhiễm. Một hôm Ngài dạy:

    Đức Thế Tôn căn dặn Ngài rằng chúng sanh thời Mạt Pháp tâm ý như nồi đất mỏng, ông phải ráng nương chiều, đừng đụng mạnh nếu không sẽ rất dễ vỡ tan.

    “Ngài ấn truyền cho tất cả những bậc tu hành thời lạc pháp đặng tỏ tường và biết: Ngoại lai xâm nhập nó là: Nghiệp thức, nghiệp căn, nghiệp lậu cùng nghiệp chướng, thâm nhập gọi là kiết sử.

    • Khi chưa rõ chưa tận nó là vô minh.

    • Chưa thông nó là tánh di chuyển là Pháp Tánh.

    • Chưa tu đạt nó là Pháp Thân.

    • Chưa tháo gỡ còn mắc miếu nó là Pháp Giới.” –T.V.


    Nghiệp Lậu: Là chủng tánh thọ nhiễm nhiều đời kiếp tạo thành nghiệp gắn chặt vào chúng sinh không tự tháo gỡ được.

    Tỷ như một người quen bủn xỉn, keo kiệt lại muốn giàu có. Phật dạy cần bố thì mở rộng tâm đương nhiên tánh bủn xỉn, keo kiệt kia tiêu dẹp. Kẻ không tin sợ hao tốn của nên tâm không rộng rãi được, giữ mãi tánh keo kiệt từ đời này đến những đời sau nó cũng y như vậy, gọi là Nghiệp Lậu. Dù tu mắt thấy, tai nghe hiểu biết mà tâm không rộng mở cũng không được ích lợi thực tiễn. Nghiệp Chướng: Gặp pháp nghịch trái ý chê bai, ghét. Những mê lầm không hay biết cũng tạo vô minh gọi là nghiệp chướng. Nghiệp thức, nghiệp căn đã giải ở phần trước.

    • “Khi chưa rõ chưa tận nó là vô minh.”

    Bậc tu chưa rõ, chưa tận thì tự lực không biết hết được vô minh, cần Tin Vâng Kính nhờ bậc Thiện Tri Thức khai mở thuận, nghịch sẽ rõ được. Chư Phật tận hết vô minh. Tu thế nào để hết vô minh. Nếu tìm cái sáng, cái minh, nó là thần thức minh chưa phải thật sự minh. Phải lần hồi tỏ cái lầm, cái sai, cái chướng. Hằng ngày tu vô minh như vậy đến một thời điểm ý thức được đầy đủ vô minh bỗng nhiên Trực Ngộ Vô Minh. Trực ngộ vô minh tức không còn vô minh, như nhiên minh.

    Những Chân Tử Tin Vâng Kính trọn Đức Long Hoa Tăng Chủ hóa thân Đức Di Lạc khai thị rất nghiêm túc. Tối trước khi đi ngủ, ngồi kiểm kê lại ban ngày đã nói câu gì sai, câu gì nóng nảy với ai, hành động nào không đúng kiểm kê hết, dần dần loại bớt tánh xấu, tánh hiểm độc sau đó Ngài thử thách kiểm tra. Do đó có số chân tử không thực hiện bỏ tu rất nhiều.

    – Chúng sinh có vô minh của chúng sinh.

    – Thinh văn có vô minh của thinh văn.

    – Duyên giác có vô minh của duyên giác.

    – Hộ pháp có vô minh của hộ pháp.

    Tỏ minh mà được minh cũng mức độ không đồng, sâu cạn khác nhau nhiều lớp nên trực giác cũng có mức độ không đồng, kể không sao hết được. Còn Ngài khai thị vô minh của hàng Bồ Tát chư vị mà nghe thấy được phải hoảng sợ, bỏ trốn, không thể hiểu nổi. Thật khó khăn vô kể.

    Ngài diệu dụng không thể nghĩ bàn. Mở vô minh cho Chân Tử tín thành Ngài la rầy, đuổi, đánh đập. Bậc chịu được sẽ thông, còn bậc đứng ngoài diễn cảnh mà hỷ xả, không chướng kẻ đang bị rầy la, bị đánh đập sẽ thấy biết gọi là Tri Kiến. Nhưng phần nhiều bậc tu trong đạo mà ở ngoài diễn cảnh chưa tỏ thường chê, ghét, xa lánh kẻ đang bị khai vô minh, lỗi lầm. Bậc này chê lỗi lầm sẽ còn lầm lỗi mãi mãi, chưa bao giờ trực giác vô minh nên chẳng thể nào trông chờ minh cũng như lấy sạn đá đem nấu chờ mong thành cơm ! Khi trực giác được một môn, nhờ nó làm đà tiến quay vào nội tâm, soi xét sẽ mở hết, cuối cùng cái gì đúng mức nó cứ tiếp tục trực giác thật không gì hạnh phúc bằng!

    Ngài thường bảo sửa tánh, hỷ xả cho Tâm không, đến lúc thật tin, Ngài la chỉ cái sai, tức giận bỏ đi sau nhớ lời hỷ xả, hồi hướng bỗng trực giác được tánh xấu này bị la là đúng, tự nhiên quay về. Ngài lựa thế diệu dụng tiếp tùy sở cầu của Chân Phật Tử.

    • “Chưa thông nó là tánh di chuyển là pháp tánh.”

    Khi bậc tu chướng một việc gì liền có tánh ghét hiện. Tánh lưu lại trong thân khi gặp phải, nó là Pháp Tánh. Pháp tánh viễn dung bình đẳng. Tánh như thế nào Pháp Tánh như thế ấy không sai chạy vì nó vốn vô ngại. Dùng văn tự để diễn nói, không biết hết được. Pháp tánh không ngăn ngại Tịnh Bất Tịnh, Tà Chánh, nó cũng bất chấp lúc nào và ở đâu, chỉ tùy theo ý muốn của tứ loài mà cung đốn như ý. Do đó mà tu thế nào cũng được Như Ý Nguyện. Bậc tu biết pháp tánh chính lầm mê, nhưng nếu mong cầu nó nương chìu làm cho bậc tu tưởng thật và thích thú.

    Mỗi pháp giới có một cảnh di chuyển tạo thành cảnh giới. Tỷ như một người sống khổ, quen dùng đồ đạc trong nhà toàn hàng thường, khi có tiền họ không dám ném bỏ các thứ để mua sắm loại cao cấp. Đó là cảnh giới của họ tạo pháp tánh y như vậy. Mỗi loài sống trong môi trường đó, bắt sang môi trường khác không ưa vì pháp tánh di chuyển y như nó quen thuộc mới được. Người bị vô minh che thường than phiền trách móc chớ đâu có biết chính pháp tánh cung đốn vẹn vừa.

    Tự mình thấy tánh mình gọi là Tự Tánh Tỏ Tánh sẽ biết được di chuyển của Pháp Tánh. Bậc tu không có cái muốn, không có cá tánh sẽ tìm được, nhận diện được sự di chuyển của pháp tánh. Vì vậy bậc tu cần hạnh nguyện độ sanh, bằng cố chấp cứ tạo cái muốn sẽ không Tri Kiến Pháp Tánh, chạy theo sanh tử, gọi là chạy theo mê lầm vọng loạn.

    Khi không còn vọng loạn liền thấy giới nào tánh đó, không than phiền trách móc liền sở đắc Bình Đẳng Tánh Trí. Lúc đó mới tỏ thông vạn pháp khỏi lầm, biết rõ không còn chạy theo sanh tử. Không lìa cái muốn là vọng loạn, đã vọng loạn liền bất bình đẳng thì làm sao tu kết quả lớp lớp Bình Đẳng Tánh Trí cho được.

    Bậc Thiện Tri Thức, thật biết nó dắt chúng sanh, hàng nhị thừa, chạy vòng quanh trong lục đạo không có lúc dừng biết, nó làm cho bậc tu ở mãi trong giới chúng sanh mà chìm đắm trong sanh tử. Vì vậy muốn độ chúng sanh phải nương cái muốn để đưa chúng sanh tỏ muốn khỏi vọng. Nếu bảo diệt sẽ không còn biết gì để tu. Nương theo hóa giải là thượng sách nhất để tỏ tường Pháp Tánh.

    “Như kẻ hung bạo chuyên chém giết, nó liền có pháp tánh tạo cảnh giới phải chịu thọ báo đau khổ ở địa ngục không thiếu sót vẫn vẹn vừa.” –T.V.

    Như vậy từ người thiện căn cho đến kẻ ác căn pháp tánh cung đốn đủ theo cái muốn của nó.

    • “Chưa tu đạt nó là pháp thân.”

    Tất cả vạn pháp chính là Như Lai nhưng chưa tu đạt mới phân biệt riêng rẽ Pháp Thân. Nghe-thấy-biết là vạn pháp. Pháp vốn là Tâm. Thân là hình tướng khuôn khổ, hình tướng nhận sắc bị nhiễm mới có vô minh mà sinh khởi loạn.

    Do khởi liền hóa thân bị sinh ra muôn trùng tướng pháp, lại mê lầm cho đó là chân thật rồi nương theo cái muốn mong cầu mà có Tam Thiên Đại Thiên Thế Giới. Phước báo nhân thiên, thọ báo ngạ quỷ, súc sanh, địa ngục, quốc độ, tịnh độ... Từ đó mới có từng Ứng Thân và Pháp Thân. Ứng Thân còn gọi là Hóa Thân chính là Pháp Giới. Mê lầm gọi là chúng sanh giới. Nếu bậc biết hạnh nguyện tu tự tìm Chơn Tánh được giác ngộ thì chúng sanh giới đồng thể với Pháp Thân gọi là sở đắc Pháp Thân.

    Tỷ như một giọt nước biển đem phân chất nó cũng có đủ các chất như biển cả mênh mông. Nếu đem giọt nước biển bỏ vào biển cả nó liền tan, hòa vào biển không còn riêng rẽ nữa. Một chúng sanh biết chung cùng không cá nhân, cá tánh thì liền giao cảm vũ trụ tức giao cảm Mười Phương Phật, hòa cùng Như Lai Phật là một duy nhất. Vì vậy tu hành rất cần cải tạo bản thân, giải tật, hóa giải tập nhiễm kiết sử cho sạch. Có độ được mình mới dạy đạo độ chúng sanh. Nếu mình chưa độ được chúng sanh tánh của mình thì làm sao dạy đạo độ kẻ khác được. Cùng lắm thuyết pháp cho vui chơi mà thôi.

    Nếu bậc tu lấy cái học, cái nghiên cứu lâu năm để dạy đạo, để tu hành thì một nhà học giả, một kỹ sư, một bác sĩ, một giáo sư có học, có trình độ họ cũng nghiên cứu và cũng hiểu biết. Vậy có hơn ở điểm nào mà làm thầy chúng sanh được, làm sao biết được Đạo Phật siêu đẳng trên chúng sanh, trên khoa học...

    Sửa tánh, giải đố tật nói nghe dễ nhưng chưa chắc một vị Đại Đức, Hòa Thượng 70 tuổi đã làm nỗi, nếu không biết lối tu của chư Tổ, chư Bồ Tát đến Chư Phật. Thời Hạ Lai đã tàn canh, Chánh Pháp của Chư Phật ló dạng cần nói thẳng để tìm con đường giải quyết sanh tử luân hồi là cốt yếu. Bỏ qua một kiếp người đương thời rất uổng phí vì trên thực tế còn vô minh không dễ lai sinh trở lại làm người! Phải trả nợ miệng xong mới tái sanh.

    • “Chưa tháo gỡ còn mắc miếu nó là pháp giới.”

    Từ nơi nghe thấy biết sinh ra tự ngã riêng của ta gọi là dị biệt tạo thành pháp giới. Vô số pháp giới không tính đếm hết được, phải chịu một đặc điểm mắc miếu như nhau trong sanh tử. Pháp giới là một hạn định khuôn khổ thọ chấp còn gọi là chúng sanh giới.

    “Phật nói Phật nghe.Chúng sanh chỉ nghe, Chúng sanh lại tự ý nói. Thiền sư viết xong cười xòa, Ngài tiếp: Chưa bao giờ chúng sanh lãnh hội đặng lời Phật nói, vì chúng sanh quan điểm Phật nói đều là lời Phật Giới. Chúng sanh đang nghe chỗ nghe kia đều là nơi nghe giới sanh, làm thế nào nhận lãnh để nghe lời Phật nói.” –T.V.

    Chúng sanh còn thọ nghiệp nhiều tánh xấu lại loạn tưởng. Sự lầm mê chưa thấy biết nên không nghe nổi lời Phật khai thị. Chỉ cần lãnh hội một lời liền Giác Ngộ. Vì chúng sanh có quan điểm riêng của cá tánh nên khi nghe nó hóa ra tâm chúng sanh nghe. Chư Phật lúc nào cũng giải giới, hóa giải những gút mắc đủ hình thức, còn chúng sanh thêm phát khởi không ngừng. Nếu chúng sanh chịu học hỏi, thi hành sự khai thị của Chư Bồ Tát, Chư Phật hàng giờ phút đều giải giới ắt nghe được lời Phật. Chúng sanh thường nhiễm khen hoặc chê, tốt hoặc xấu, sạch hoặc dơ mãi từ pháp giới này thay đổi giới khác không lúc nào dứt, chỉ khi nào trơn liền gút mắc, tánh tình dịu mới nghe được lời Phật. Sự lầm mê mà chịu lầm trong vòng đai pháp giới. Chỉ có Chư Phật, Chư Bồ Tát mới khai thị, dìu dắt chúng sanh biết được pháp giới đầy nguy hại để họ tự hóa giải tháo gỡ.

    “Thiền sư nói đến đây, Ngài nhìn vùng mây trải, nhìn lại lá vàng rơi, nhìn đời sau tận thế, Ngài bèn vỗ vế đứng dậy xoa tay, châu mày nghĩ ngợi, Ngài đến chiếc chõng nằm dài chưa dám nói” –T.V.

    Đối với Ngài khai ngộ cho Chân Phật Tử, Ngài còn là một Thiền Sư biết tỉ mỉ chuyện quá khứ, vị lai trong Tam Thiên Đại Thiên thế giới, thời Mạt Kiếp này nếu Ngài nói rõ, chỉ thẳng chẳng những họ không nghe mà còn có thái độ ngạo mạn nữa nên Ngài bảo: Việc gì chưa đến mà nói sẽ bị kết tội phản động còn việc xảy ra rồi mà nói cho là nói hùa, tốt hơn hết là làm thinh.

    Thật ra pháp giới của kẻ ác là pháp giới diệt vong. Vì giới cấp có đạo đức rất trọng và lắng nghe để biết đâu là đúng đâu là sai, ắt gặp được Chư Phật, Chư Bồ Tát ra đời rất có lợi cho chúng sinh.

    Phật, Thánh Hiền ra đời mà còn thọ khổ chính là Pháp cùng cuối đời Mạt Kiếp. Tận thế có nghĩa như vậy. Khoa học càng văn minh con người sống thoải mái nhưng cuối cùng của khoa học là tận thế. Vì sao? Vì pháp giới kẻ có học chạy theo lợi nhuận, khi chế ra bao nhiêu loại vũ khí giết người hàng loạt. Nạn ô nhiễm bầu khí quyển ảnh hưởng thời tiết khí hậu cũng là nạn tận thế... Chấp nhận cho ra luật giới đồng tình luyến ái cưới nhau là báo hiệu tận thế.

    Giới Trí Thức này không biết hoặc biết rất ít Như Trí của Thiền Sư. Khoa học chạy theo trí thức phát triển trong triền miên của sanh tử. Thiền Sư chăm chỉ cải tạo bản thân, lời nói toàn sự thật, sống động, cải tạo chúng sanh thật hữu hiệu đem hạnh phúc thật sự Chân Thiện Mỹ cho chúng sinh.

    “Bỗng bên ngoài con bướm bay thẳng vào nhà, bướm chưa biết lối ra, còn đang bay qua bay lại. Thiền sư nhìn nó, nở nụ cười tươi, Ngài nói: Này bướm, chính mày là pháp giới, mày có giới hai cánh bay, có giới đôi lông mày, sáu chân mày đều là giới. Bổn lai diện mục bay lên, đáp xuống thực dụng những mật hoa. Vì kiếp mi đậm đà xinh xắn, do hoa nở sinh ra, Ngài đứng lên cầm chiếc quạt giấy, đưa bướm bay bỗng ra ngoài.” –T.V.

    Mỗi tư tưởng là một pháp giới, mỗi lời nói tạo pháp giới, mỗi hành động tạo pháp giới. Thành hình tướng bất diệt pháp giới. Nói đến con bướm là pháp giới, từng bộ phận phân chia có vô số giới nơi nó. Đôi cánh là pháp giới, râu dài là pháp giới. Pháp tánh của bướm xinh, nhiều người ưa ngắm nhìn cũng là pháp giới... Từ trứng hóa sinh ra trên cành hoa cũng là pháp giới. Pháp tánh cố định của bướm chính là bổn lai diện mục của nó, hành động, lối sống thời nào nó cũng không khác được, bậc tu cầu Tri Kiến Giải Thoát cần biết hết mà không nhiễm pháp giới quả là khó. Phải cần bậc thật thấu đạt mới chỉ bày giải giới được, mới mong ra khỏi hố sâu pháp giới.

    “Pháp giới vốn thị danh nhưng thị danh chung kết đều giới. Đến giai đoạn tỏ giới thời nhận chân là: nó chẳng phải pháp giới, thị danh là pháp giới, chính thật pháp giới.” –T.V.

    Khi con bướm bay chập chờn đủ bộ phận gọi là bướm, nhưng 6 chân không phải tên là con bướm, đôi râu cũng không gọi là bướm, đôi cánh không gọi là bướm. Bướm chính là thị danh do đầy đủ bộ phận gọi là giới thành hình. Bậc hiểu biết tỏ rõ gọi bướm là thị danh là pháp giới nhưng phân chia chẳng phải gọi là pháp giới bướm được. Từ tỷ dụ bướm ta biết được hằng hà sa số pháp giới chỉ là thị danh mà chúng sanh hơn thua, tranh giành, sống chết theo nó nên triền miên trong sanh tử.

    “Cũng như nó chẳng phải là thế giới, nhưng thị danh thế giới, thật là thế giới.” –T.V.

    Tỷ như quả địa cầu có, núi, sông, nhà cửa, vườn... gọi là thế giới nó là thị danh thôi. Vì khi nói nhà không phải là thế giới, núi đứng riêng không gọi thế giới, sông cũng không gọi là thế giới, rừng cũng không gọi thế giới. Những thứ đó đầy đủ gọi là thế giới. Đó chính nó chẳng phải thế giới nhưng thị danh nó thật là thế giới. Pháp giới muôn trùng là một vòng đai chung gồm tất cả tứ loài, Nhân Sinh, Tiên, Thần, Thánh... Không ai ra khỏi sự bao vây của nó, khiến cho tất cả tứ loài bị sống trong sanh tử.

    “Chỉ có Chư Phật Chánh Giác mới làm chủ động pháp giới mà thôi. Có bị vòng đai như thế mới có làm chúng sanh giới, đã chúng sanh giới là mê chưa hẳn đã ngộ.

    Chư Phật diệu dụng ra vào pháp giới, còn chúng sanh đến Thinh Văn khó qua nổi pháp giới. Thường bị chìm đắm trong pháp giới. Hàng Duyên Giác, A La Hán tỏ pháp giới nhưng chưa sạch. Bồ Tát sạch pháp giới, riêng chư Phật Tận biết pháp giới ra vào tự tại vô ngại. Còn một giới chưa sạch, còn mê lầm.


    Bằng còn một giới chưa giải quyết xong vẫn lâm nơi qui chế Phật giới.” –T.V.

    Trong vũ trụ hàm chứa vòng đai pháp giới bậc tu còn một pháp giới chưa làm xong mà xưng Phật đó là Phật giới. Tỷ như Đề Bà Đạt Đa tâm tánh Đại Cường cho dù ra vào khắp pháp giới nhưng sở trường của ông mỗi khi giải quyết pháp giới ông thường dùng tánh đại cường. Nếu có thành Phật cũng là Phật giới, gọi là Phật Danh Hiệu dạy con cháu hàng Đại Cường. Chẳng phải Phật Chánh Đẳng Chánh Giác cho dù có đắc pháp Vô Thượng Đẳng Chánh Giác mà hóa giải vạn pháp theo Tâm Đại Cường vẫn là Phật Giới còn gọi là Bích Chi Phật.

    Có bậc sở đắc Pháp Vô Thượng nhưng gặp pháp dễ hạnh nguyện, pháp khó khăn bỏ, có thành Phật cũng là Phật Giới. Có bậc đắc pháp Vô Thượng không hạnh nguyện đầy đủ tròn pháp giới cũng là Phật Giới.

    Đương thời Ngài bảo khó khăn vô kể: Một triệu vị đắc pháp Vô Thượng chỉ có một là viên dung ra vào pháp giới, thành Diệu Quả Bồ Đề mà thôi. Thời Hạ Kiếp thật chỉ có một Đức Di Lạc Tôn Phật chớ không có hai: Ngài sống trong lửa hỏa ngục, gánh chịu, vượt qua tất cả để chúng sanh thoải mái tu hành đến giác ngộ.

    “Thiền Sư đã từng qua khúc eo pháp giới, từ nơi tâm chí quán chúng của Ngài, tạng thức sáng soi ý thức, trưởng thành pháp giới.” –T.V.

    * Số đông bậc tu gặp thuận pháp vui mừng, sống yên ổn nhưng khi có nghịch pháp không sáng soi các chủng tử đang lăn tăn quấy động. Đa phần gặp khó bỏ, không qua nổi khúc eo của nghịch pháp. Tạng thức hàm chứa tất cả chủng tử thiện ác, tốt xấu, tịnh bất tịnh. Ý thức rõ các pháp, biết phân biệt sáng soi đúng sai, thiện ác. Một lối giải hợp lý nhất, đúng đắn nhất, nhờ ý thức quán xét các chúng sanh tánh, sâu hơn quán xét các tư tưởng, phát hiện nó tạo thành pháp giới thích hợp trong từng trường hợp.

    Tỷ như khi Ngài mới ra đời hành đạo, hoàn cảnh gia đình rất túng thiếu khó khăn. Đối với Ngài, bậc Vô Thượng Chân Tôn mà không có một chỗ dạy đạo, không có một cái bàn để ghi chép kinh sách, việc làm ăn sinh sống phải ngừng lại. Thật là khúc eo nan giải, Ngài phải xem xét, quan sát tất cả chủng tánh trong người, có lúc nó nói tới có lúc nó bảo thối lui , nản chí (tạng thức). Sau Ngài chọn một con đường đúng nhất thời điểm đó, quyết chí hóa giải (ý thức) cho đến khi thông, bằng cách giảng giải Phật Pháp cho người thân, sau đến người quen biết, nhẫn nhục, nhẫn nại dần dần ngày tháng qua, có một bậc tin theo tu, rồi hai, rồi ba... Như thế hàng ngày đã có một số công việc Phật sự nảy nở, trưởng thành pháp giới, không từ bỏ hoặc đảo ngược, từ đó hình thành Đạo Tràng tại gia...

    Ở chùa rất dễ, pháp giới không khó vì tất cả nhân gian đều tin chùa là nơi tu hành nên thường viếng thăm. Còn tu cư nhân hạnh như mở đường, phá rừng cho quang đãng, lập xóm làng an ổn là cả một công trình!

    “Bằng ý thức không thủ thời như nhiên vạn pháp diễn hành từ pháp này đến pháp kia, chẳng có chi gọi là pháp giới.” –T.V.

    Khi đã tạo xong đạo tràng nếu có hoàn cảnh tùy thuận hóa giải, khi chìu chuộng nương chìu, khi hóa giải đúng đắn, khôn khéo gọi là ý thức không thủ, không y giáo điều. Từng pháp diễn hành đều dung thông giải quyết nên đâu còn cố định. Đã không bảo thủ, không thủ chấp, không đứng yên rập khuôn, không bị biết lúc đầy đủ trực giác, tự tánh hóa giải, từ pháp này sang pháp kia viên dung thì chẳng còn chi là pháp giới nữa, gọi là không y kinh mà cũng chẳng ly kinh đường đi của Chư Phật.

    “Trường hợp này Thiền Sư đã từng trải qua, chỉ vì nương nhờ tâm chí mà soi tỏ đặng, bằng chưa đến mức độ công dụng tâm chí thì chưa bao giờ tỏ rõ pháp giới cùng nghiệp do đâu mà phát sanh.” –T.V.

    Ngài đã từng rất nhiều lượt vượt qua những khúc eo pháp giới, tháo gỡ độc nhiễm nơi thân mạng. Ngài dụng tâm bền chí, nhẫn nại sáng soi pháp giới để giải quyết khúc eo cho hợp tình hợp lý. Nếu lơ là, chểnh mảng, nản chí thì chưa đúng mức sâu sắc hóa giải, sẽ không giải giới đầy đủ. Còn một vi trần pháp giới là còn nghiệp vì phải sạch pháp giới mới thoát nghiệp.

    Pháp giới mà không tháo gỡ, hóa giải, nghiệp sẽ phát sanh. Khi hóa giải hết nghiệp, pháp giới hết mê lầm, hết lầm đâu còn mê. Tu hóa giải cái mê sẽ hết mê. Tu lầm lẫn lấy trí tuệ hóa giải lầm lẫn sẽ hết lầm.

    “Những bậc tu Đại Tín Thành, chưa có chí dũng thời toàn nương nơi tâm thức để tu.” –T.V.

    * Dù cho bậc tu có thành thật tâm, thiết tha tâm đến đâu chăng mà gặp hoàn cảnh vạn pháp khó khăn, đứng trước khúc eo không chú tâm hóa giải, chỉ cầu vái van xin sẽ không ý thức được vạn pháp. Tâm thần hỗn loạn, tư tưởng loạn động không còn định hướng đúng đắn. Bậc tu như vậy khó tỏ tường pháp giới nên thường sống theo tư tưởng thay đổi không chừng tức mê mờ trong thần thức điên loạn vậy. Bậc có trí tuệ dù khó khăn cũng dũng mãnh hóa giải trong đạo đức, nương theo tư tưởng diễn đạt để hóa giải hoàn mỹ.

    Tỷ như một người bị bệnh lở loét ung nhọt, hàng ngày bị đau nhức khổ sở, bậc biết liền đến bác sĩ chữa trị. Bác sĩ xem xét bảo phải giải phẫu lấy hết ung nhọt ra và làm thuốc, uống thuốc. Bệnh nhân nương theo ý mình sợ mổ đến da thịt sẽ đau thêm không chịu. Sau bị nặng phải chết còn có người hiểu biết cố chịu đau để bác sĩ mổ, khoét làm thuốc cho tiêu hết chất độc, uống thuốc theo lời chỉ bày của bác sĩ sau khỏi hẳn bệnh, bậc này nương theo tư tưởng của tâm thức hóa giải được thông, khỏe. Tu hành cũng như vậy nương theo tâm thức, những tiếng nói trong thân mình rồi nhận định đúng đắn để Thiện Tri Thức chỉ bày cho tự khai thông mới mong Tri Kiến Giải Thoát.

    “Bậc được dùng Tạng Thức để soi nghiệp thức chính là những bậc sẵn có chí dũng, chí dũng nương nhờ công đức mà có, chưa có công đức chưa phát sanh chí dũng.” –T.V.

    Bậc tu tự biết sáng soi các tư tưởng thiện ác là bậc biết sự diễn hành của nghiệp thức. Bậc có chí bền quyết tâm chịu nương theo hóa giải nó là bậc hiếm có, thấy biết từ khởi động ngay trong tâm mình, thật là chí dũng mãnh, quật lại ngoại lai ma lực. Bậc tu như vậy rất quí con đường Tri Kiến Giải Thoát.

    Nhờ nương vào hồi hướng hỷ xả thân tâm mà có Công Đức Như Lai, vạn pháp mở rộng tâm không keo kiệt, bủn xỉn, dám cúng dường việc đáng công đức không do dự, không liều lĩnh, không sợ ngày mai sẽ ra sao bỗng nhiên Trực Giác Trí Dũng, từ đó mới lần hồi quyết tâm theo bậc Thiện Tri Thức cầu Chánh Giác. Do đó không có công đức, không có hy sinh không hề có chí dũng. Ai nói suông cũng được nhưng thực sự tu có mở tâm liền có Chí Dũng. Chí dũng rất cần thiết đến vô ngại, tự tại nó là chính yếu để tiến bộ, giải pháp giới trên đường tu theo Chư Bồ Tát, Chư Phật. Bằng không có chí dũng không sao chứng đắc.

    “Thiền Sư nghĩ lại. Vạn pháp như huyễn, lướt qua khỏi nhìn lại mới nhận chân nơi huyễn của nó. Bằng đứng yên làm sao Kiến Tri cho đến chỗ huyễn thành chân.” –T.V.

    * Tu cầu mong đạt đến chân lý, không bao giờ tìm ra chân lý. Trước hết phải xem vạn pháp như huyển, xem nó là giả tạm có đó rồi mất đó, không thật ở mãi, nó là vô thường, khi có lúc không, luân chuyển vần xây, thay đổi biến dời. Tất cả từ hữu tri đến vô tri đều hứng chịu vô thường pháp. Vì vậy tất cả đều nhịp nhàng qui định nơi sanh - diệt do lầm mà cho cái gì cũng tồn tại mãi.

    Từ lức khởi sanh cho đến lúc bị diệt nó luôn nhịp nhàng theo thứ tự bốn pháp: Thành -Trụ - Hoại - Không trong vô thường. Cố lướt qua pháp huyễn khỏi tiếc thì mới đến nơi thường còn bất biến, tránh được lầm lẫn được mừng, mất buồn của vô thường pháp thuyên diễn, đó mới gọi là Kiến Tri Huyễn, đạt đến Chân Lý Vô Sanh.

    Tỷ như một người được làm quan, chức trọng quyền cao đứng trên thiên hạ, được đầy đủ sung sướng bên cạnh lại có kẻ hầu hạ, kẻ này cùng bà con giòng họ rất hãnh diện vui mừng, sung sướng, thích thú cho chức vụ của con cháu mình. Đến lúc sa cơ thất thế bị mất chức quan quyền thì người kia cùng bà con giòng họ đều buồn phiền, trách cứ, khóc than thật khổ sở cho là bạc phước.

    Từ câu chuyện trên cho biết chúng sanh thường sống trong vô thường pháp được mừng, mất buồn. Hợp rồi tan, gần rồi ly biệt là thường diễn từ vô thủy cho đến hiện tại và mãi mãi về tương lai. Nó vốn thường còn bất biến nào có sanh diệt đâu. Do lầm nhận mà chúng sanh không thấy nó thuyên diễn từng hồi, từng lúc rồi cho là thật, phải bị thọ chấp sống trong sanh tử. Nếu biết nó là huyễn, lại cho huyễn là mình liền bị nó điều động vướng mắc, đến khi không bị nó điều động sai khiến thì huyễn trở thành chân.

    “Thiền sư rất cần bổ sung những điểm chi thiếu khuyết trên bước đường tu hơn là tu cầu tiến thân trong quả vị. Vì sao? Vì chưa Bi Chí Dũng, chưa Tín Hạnh Nguyện thời làm thế nào? Kết quả đặng chỗ Chánh Tín Chân Tôn hay đạo hạnh cao dày chỉnh trang Tịnh Độ.” –T.V.

    * Một hôm Ngài khai thị tôi nghe như vầy: Bổ sung những điều chi thiếu khuyết có nghĩa xem xét lại những chủng tánh nào chưa hoàn mỹ phải sửa chữa chỉnh trang lại. Nói thì đơn giản nhưng khi va chạm vạn pháp mà tánh tình trơn liền không còn bị ma lực chủ động là cả một ý chí dũng mãnh mới vượt qua nổi. Nếu tự mình chưa tín thành hóa giải trong đạo hạnh, chưa có quyết chí, nguyện giải giới li ti trong thân mạng thì khó mà trực ngộ được đường đi chánh tín của Chư Phật mười phương ba đời.

    Nếu chưa sạch sẽ, chưa trơn liền tức mình chưa độ được mình sao độ được người! Làm sao tránh khỏi ma thuyết. Hóa giải vạn pháp trong đạo hạnh, hợp mình lợi người là đạo hạnh cao dày đưa đến an ổn thanh tịnh. Chính là tịnh độ vậy.

    “Thiền Sư rất biết, thật biết. Trí Bát Nhã viên dung, trên con đường tu hành nghiêm túc là một điều tối quan hệ cho tất cả những vị đại chí, đại bi nương theo đại nguyện mới thật thâu đạt phá vỡ vòng đai pháp giới.” –T.V.

    * Bậc thực hiện hóa giải vạn pháp quân minh nên việc gì cũng viên dung. Đó là Trí Bát Nhã. Bậc thật tu luôn nghiêm chỉnh quay vào trong xem xét mình, không hề có tự mãn với chính mình mà thành tâm tìm kiếm Thiện Tri Thức để bổ sung. Chỉ một lời, một diệu dụng liền vào biển cả, tương thông Chư Phật, Chư Bồ Tát mười phương. Bậc này ở trong đời mà tất cả đều dồn cho đường tu, xem nó là món ăn thường ngày rất quan trọng nên có đủ Đại Chí - Đại Bi nhờ thề nguyện thực hành cho đạt viên dung. Bậc như vậy không tiếc chi nên gọi là Đại Bi. Dù khó khăn cay đắng đến mức nào cũng không bỏ đạo là Đại Chí. Thiếu sót quyết thực hiện cốt lợi mình rồi đến lợi người, không còn lăn tăn chủng tánh nào gọi là Đại Nguyện.

    Chú tâm thực hiện chứ không nói suông, có pháp liền kiểm điểm, sáng soi hóa giải là đường tu căn bản của Đại Thừa mới phá vỡ vòng đai pháp giới chằng chịt phủ kín./-

    32. Ba lối phát hiện Pháp-Giới

    “MỘT LÀ: TƯỞNG TƯỞNG PHÁT HIỆN PHÁP GIỚI.” –T.V.

    • Khởi điểm là tư tưởng. Mỗi tư tưởng là một pháp giới. Ngồi Thiền dễ phát hiện tư tưởng tới lui trong thân, lúc ban đầu phải như vậy. Tư tưởng độc là tối tưởng, tư tưởng lành mạnh không gây cấn là sáng tưởng. Khá tiến dần đến quán xét các tư tưởng gọi là quán chúng liền tỏ thấy tư tưởng ra vào trong thân rõ hơn.

    Tư tưởng thay đổi không ngừng, gọi là khởi sanh khởi diệt, cho nên mỗi giờ, mỗi phút trong một ngày nó ra vào không biết bao nhiêu pháp giới. Khi tu hành đạt đến chẳng còn sanh diệt nơi tư tưởng nữa. Khi đó nghe, thấy hết khởi loạn, mà đúng vị trí nó là thường tưởng. Khi chăm chú, quan sát để soi nó, gọi là Định Tưởng. Định Tưởng để quán xét nếu bậc tu chăm nó tạo thần thông thì bị giả tạo, sống trong pháp giới.

    Thần, Tiên đều kẹt nơi Định Tưởng này mà bị sa vào pháp giới không sao thoát sinh, không sao giải quyết sanh tử được.

    “Lại có Tam Giới Chư Thiên trở thành Tam Thiên Đại Thiên Thế Giới cho đến Rồng Người. Mười Tám Cõi Trời quản lý thế gian. Mỗi giới, mỗi cõi nói chung đều là tư tưởng, về Chánh Báo thọ báo bất đồng nên cao thấp khác nhau về lý tưởng mà thụ sanh lớp lớp không ngoài trong Như Lai Tạng Giới.” –T.V.

    • Mỗi chúng sanh, cao thấp khác nhau nhiều lớp, mỗi lớp là một giới còn gọi là mỗi cõi. Mỗi cõi đều do tư tưởng mà thành. Từ cõi Trời cho đến thế gian, cho đến tất cả đều tạo thành giới đóng khung. Do thanh cao, thô kệch, do rộng hẹp mà có thọ báo đủ cỡ, phát tâm tu cầu Tri Kiến Giải Thoát rốt ráo có Chánh Báo Thân Phật. Chánh Báo, Thọ Báo đều do chúng sanh gây tạo, mong muốn mà thành, nó chính là Như Lai Pháp, từ Như Lai Pháp không phân biệt chủng tử nào chính là Như Lai Tạng. Mỗi Tạng có một pháp giới mới gọi là Như Lai Nhãn Tạng hay Như Lai Tạng Giới.

    Hàng ngày không lấy Như Lai Pháp để tu, chỉ nặng học Phật pháp, y kinh, thật khó khăn vô kể để tu đạt kết quả. Thật khó khăn thay cho con đường tu cầu giải thoát sanh tử.

    Tu hành khởi điểm ban đầu như thế nào thì kết chung như cái khởi điểm nó đến như thế. Cần lìa sắc tướng, không còn khởi vọng, được Bậc Thiện Trí Thức khai cho về Như Tướng đoạt Giải Thoát. Khởi điểm rất quan hệ, do tưởng như thế nào mà không có bậc Chánh Giác chỉ theo đường Chư Phật, Chư Bồ Tát đã đi, đến cuối, lúc lâm chung toại nguyện như thế ấy.

    “HAI LÀ: HÀNH ĐỘNG THUẬN NGHỊCH TẠO PHÁP GIỚI.” –T.V.

    • Hành động tiêu biểu cho giai cấp cao, thấp, mỗi hành động cũng chính là pháp giới. Mỗi lớp có một số hành động tư cách không sai chạy nơi nó.

    Hành động tốt và xấu mà có pháp giới thuận nghịch. Có nhiều bậc cố giúp đỡ cho chúng sanh qua hành động tốt nhưng tánh tình không chịu sửa làm cho những người mình giúp còn nhiễm tánh xấu của mình. Tỷ như lạy Phật, ăn chay, chiêm ngưỡng tướng Phật nhưng gặp chuyện khó liền nóng nảy làm những người chung quanh thấy được sanh tâm bất bình.

    Có rất nhiều bậc thuyết pháp như Phật nói nhưng gặp chuyện liền mưu sĩ đem lợi về cho mình âm thầm hành động điều ác. Lý và sự trái nghịch nhau mà không hề quan tâm sửa đổi cũng tạo pháp giới, khó mà Giác Ngộ được đó là Tánh và Tướng khác biệt nhau chưa đồng nhất là một.

    “Tạng Thức cùng Đạo Hạnh chưa hợp hóa làm sao chứng tri nơi thành đạt.” –T.V.

    • Tạng thức chính là chủng tánh thiện ác nó thuộc tánh. Còn Đạo Hạnh thuộc tướng pháp. Tướng hợp với tánh làm một duy nhất thì tu hành mới thực chứng. Tướng và Tánh chưa hợp nhất bậc tu vẫn phải thọ báo theo hành động nào quen thuộc tập nhiễm của mình. Do đó mà có Ma Tằng, Quỉ Quái rồi đến Phật Quỉ.

    Có nhiều bậc Phật Pháp thông suốt nhưng chấp vô ngại củng cố hành động nóng nảy, hành động mưu sĩ hại bạn đồng môn, hại người thật thà, chất phác tin theo mình tu học mà không sợ quả xấu. Phật Tiên cũng giỏi Phật Pháp nhưng hành động thanh bai, tránh thô, tránh dơ củng cố thọ chấp, không sao thoát được pháp giới nên chẳng bao giờ đến Chánh Giác đúng như Chư Phật.

    “Hành động là một biểu tượng quá khứ tiền kiếp gần nhất, hiện kiếp này lai sinh.” –T.V.

    • Tánh tình tập nhiễm do hành động quen thuộc trong nghề nghiệp, trong bạn bè, trong gia đình. Những bậc tu thật có kết quả nhìn qua cử chỉ, ngôn ngữ của chúng sanh mà biết được tiền kiếp trong tứ thời: đi, đứng, nằm, ngồi rất rõ ràng.

    Do đó, một là bậc Thiện Tri Thức chỉ bày cho bậc đã tín tâm hóa giải pháp giới là điều cần thiết. Hai là làm cho những bậc tín tâm chung quanh mình ái kính để tạo pháp giới thiện căn cho họ được phước báo nhân thiên khỏi phải đọa nơi Ngạ Quỉ, Súc Sanh, Địa Ngục.

    Bậc biết lần hồi tập hóa giải vạn pháp, thiện căn nhẫn nại, đừng bộc khởi một ngày nào công năng công đức đầy đủ sẽ sở đắc Vô Sanh Pháp Nhẫn mà nhiếp thu được tường tận pháp giới, tỏ rõ vô sanh pháp giới, đem đến chân hạnh phúc cho bậc biết tu an lạc vô kể.

    Dù cho một bậc Giác Ngộ chăng nữa mà không tỏ tường pháp giới tức chưa tỏ được Bổn Lai Diện Mục pháp giới vẫn không đầy đủ ba thân viên mãn.

    “BA LÀ: NGUYÊN TƯỚNG BẤT DIỆT PHÁP GIỚI.” –T.V.

    • Hằng hà sa số tứ loài mỗi loài có một hình dáng riêng không giống nhau, loài nào hình dáng nhất định như thế từ bao thế hệ vẫn không thay hình đổi dạng. Tỷ như loài người, dù Đông, Tây, Nam, Bắc thì nguyên tướng xưa nay vẫn không thay đổi. Con bò, con trâu, con ngựa... mỗi loài sinh ra đều có hình dạng nhất định dù trải qua bao thế hệ vẫn thế gọi là bất diệt pháp giới.

    Bậc tu hành đoạt đến viên dung thoát khỏi vòng đai pháp giới rất hiếm có. Bậc này đã từng thực hành đầy đủ chẳng thiếu sót Tứ Nhiếp Pháp, Lục Ba La Mật Đa, Bi Chí Dũng, Giới Định Huệ. Nhiều bậc cho những điều này quá thường, quen thuộc nhưng thực tế am tường thực hành rất khó.

    Do lầm mê mà nói tướng diệt mất, thật ra tứ loài trải qua triệu triệu năm vẫn còn nguyên. Sanh rồi lại diệt, diệt rồi lại sanh nối nhau bất tận. Bậc Đại Thừa phải nương theo pháp giới tu hành, hóa giải pháp giới, thoát vòng đai pháp giới, tường tận pháp giới.

    Thời Đức Bổn Sư, Ngài vẫn dạy hàng Bồ Tát Vòng Đai Pháp Giới, nhưng khi hành đạo có một tăng hoặc ni nào sai phạm Ngài mới cho một giới luật để khỏi phải tái lầm lỗi. Do vậy cuối thời Ngài tính lại giới Tỳ Kheo có 250 giới, Tỳ Kheo Ni 348 giới. Tu tập, tu trì các điều giới răn này để khỏi sa ba đường ác, được Phước Báo Nhân Thiên, chờ Chư Bồ Tát, Chư Phật ra đời chỉ dạy Vòng Đai Pháp Giới./-

    33. Diệu Pháp

    “Các ông nên nhớ. Cứ mỗi một thời có một Đức Phật thị hiện, chính lời Phật đều là lời Pháp Hoa Chánh Giác, được coi là Diệu Pháp Liên Hoa kinh để ghi nhớ đọc tụng. Chớ chưa mấy ai nói, gọi là Kinh Pháp Hoa hay tự nhận là giải Kinh pháp Hoa cả.” –T.V.



    Thời Đức Bổn Sư cách đây 2538 năm Phật Lịch, xã hội trọng đạo đức, đa phần con người sống hiền lương. Phật tận thấu mới chuyên khai ngộ Hoa Pháp Tánh hợp theo thời đó, Ngài lại dụng nghe thấy biết trong đời hóa giải hoa pháp cho Tứ chúng tu tập, tu hành rất tuyệt mỹ gọi là Diệu Pháp Liên Hoa Kinh.


    Đến thời Hạ Lai Đức Di Lạc ra đời trong bối cảnh Mạt Pháp, Ngài cũng đã tường tận Hoa Pháp Tánh độc nhiễm theo thời này bộc phát quá mức mà khai ngộ cho tứ chúng rất tuyệt mỹ, chẳng thiếu sót nên cũng có Diệu Pháp Liên Hoa Kinh của thời Mạt Pháp này. Do đó nhiều bậc tu không thấy, biết được sự nhịp nhàng di chuyển Hoa Pháp Tánh thời Mạt Pháp quá lộng hành, lại đem kinh Pháp Hoa của Phật thuyết giảng theo nghiên cứu trở thành không thực tế, không phải pháp sống hiện hành. Y kinh bất liễu nghĩa làm cho Tam Thế Phật oan. Mỗi thời Phật có một bộ Diệu Pháp Liên Hoa thích ứng theo đời gọi là không ly kinh mà cũng chẳng y kinh.

    “Ta áp dụng chỉ đạo, con đường tu tập tuần tự theo Bi Hoa Kinh Tối Thượng. Bi Hoa Kinh là mỗi một bước đi của Chư Bồ Tát cùng Chư Phật đã đi, đến các hàng Tứ Thánh đang đi, tất cả sự tu trì chứng minh đều nơi Kinh Bi Hoa thọ ký.” –T.V.

    Bi Hoa Kinh là bộ kinh Đức Bổn Sư dạy chư Bồ Tát Tổng Trì. Nay Đức Di Lạc đã dắt dẫn Chư Bồ Tát Nguyện, Bồ Tát Hạnh vào trong thể Phư Phật. Bậc tinh tấn đều được nghe tiếng Phật, tiếng Pháp, tiếng Tăng và tiếng Tịch Tịnh, tiếng Vô Sở Hữu, tiếng Ba La Mật Đa, tiếng Vô Sở Đắc cùng tiếng Không Sanh Diệt, tiếng Đại Từ, Đại Bi cùng tiếng Thọ Ký đầy Diệu Âm.


    Thời Mạt Pháp này Đức Tịnh Vương, Long Hoa Tăng Chủ đã khai thị cho Tứ Chúng không thiếu sót con đường tu tập theo Bi Hoa Kinh Tối Thượng mà Đức Bổn Sư đã từng khai thị cho Tứ Thánh của Ngài. Thời này, Tứ Thánh cũng được dứt phiền não, tâm yên vui, tâm vắng lặng xa rời sanh tử, không còn những điều ràng buộc mà không xa rời tất cả các pháp động loạn.

    Nay dù Đức Di Lạc đã nhập Bát Đại Niết Bàn mà Phật Lực đầy Đại Bi - Đại Chí - Đại Dũng của Ngài vẫn còn đầy khắp, làm cho Tứ Thánh đang đi được sức chuyên tâm, được sức quan sát tất cả pháp thiện, siêu thiện, được sức các Tam Muội, được sức Thiền Định, được sức Trí Tuệ Bát Nhã.

    “Còn bậc thành thật, thiết tha tâm, trí tuệ kém, khó thực tiễn hóa giải chấp mê, Ngài liền chỉ thẳng, nói thẳng kinh: Phật thuyết Di Đà Kinh cốt các bậc tu hành chuyên trì Niệm Phật Di Đà liền vãng sanh Tịnh Độ, như thế đủ chứng tỏ tùy thuận căn cơ chỉ giáo, chứng tri nơi Bi Hoa Kinh thành đạt.” –T.V.

    Còn bậc vẫn tin Phật nhưng không tu hóa giải vạn pháp, gặp việc trái ý vẫn chấp, chướng gọi là chấp mê. Đức Bổn Sư dạy trì niệm Phật A Di Đà để tùy công năng công đức mà vãng sanh Tịnh Độ. Tỷ như bậc tu chuyên tụng kinh, cầu vái van xin trước tượng giấy, tượng đất… Đức Phật A Di Đà nhưng không tu sửa tánh, không hóa giải vạn pháp, sau khi lâm chung nghiệp quả trả xong, được sinh trở lại vùng có chùa thờ tượng giấy, tượng đất A Di Đà để đến tuổi vào tu y như trước. Đó là tùy căn cơ tu hành pháp tánh như thế nào nó liền cung đốn như ý nguyện chứ không phải về tịnh độ là gặp được Đức A Di Đà Phật.

    Chừng nào tu thành Phật mới gặp Đức A Di Đà thật. Đây là điểm bậc tu cần quan tâm. Có bậc tu ở chùa lâu, gần ngày lâm chung thấy chiêm bao gặp Đức A Di Đà chỉ cho tòa sen tưởng mình đã thành Phật như Đức A Di Đà là không đúng.

    “Nơi Kinh Di Đà Phật thuyết, Ngài khéo léo nói thẳng tự tánh thành lập, tự tâm kiến tạo, tự nguyện tu trì thành đạt như sau: Kinh A Di Đà Phật vẫn dành cho bậc tu Đại Thừa hóa giải vạn pháp để tu Tự Tánh Tỏ Tánh kiến tạo tâm rộng rãi bao dung, quyết tâm tự tu hóa giải cũng giữ gìn Chánh Pháp trường tồn.”
    –T.V./-

    34. Chí Tâm Đảnh Lễ (Ý nghĩa xác thực Lời Nguyện A-Di-Đà)

    Nam Mô An Dưỡng Quốc Cực Lạc Giới Di Đà Hải Hội Vô Lượng Quang Như Lai.

    Muốn về an hưởng hạnh phúc nơi cảnh giới cực lạc của Đức Phật A Di Đà được mãi mãi an lạc thì phải tu pháp môn của Như Lai là pháp môn Vô Lượng.

    Pháp môn vô lượng là nghe thấy biết tức vạn pháp. Nếu y Tam Tạng Kinh trong sách của Đức Phật cũng không phải vô lượng mà hữu lượng. Chính bộ kinh ngoài thế gian mà Đức Bổn Sư 49 năm hành đạo khai thị cũng chưa đủ thời gian giải hết nên phải học Tam Tạng kinh ngoài đời, cùng Tam tạng kinh của Đức Bổn Sư mới gọi là vô lượng. Bậc tu chỉ cần sở đắc một vi trần nhỏ nhất liền thị chứng vô lượng.

    [​IMG]
    Nam Mô An Dưỡng Quốc Cực Lạc Giới Di Đà Hải Hội Vô Biên Quang Như Lai.

    Muốn về an hưởng hạnh phúc nơi cảnh giới cực lạc của Đức Phật A Di Đà được mãi mãi an lạc thì phải tu pháp môn của Như Lai là pháp môn vô biên.


    Pháp môn vô biên là tu không có giới hạn, ở chùa, ở nhà, ở nơi làm việc, ở khắp mọi nơi chỗ nào cũng nhận diện được vạn pháp qua nghe thấy biết, chứ không phải vào chùa xuất gia mới là tu, quan niệm lầm lẫn như vậy là tu hữu biên. Bậc tu chỉ cần sở đắc một diện tích cực nhỏ liền thị chứng Vô Biên.


    [​IMG]
    Nam Mô An Dưỡng Quốc Cực Lạc Giới Di Đà Hải Hội Vô Đối Quang Như Lai.

    Muốn về an hưởng hạnh phúc nơi cảnh cực lạc của Đức Phật A Di Đà được mãi mãi an lạc thì phải tu pháp môn của Như Lai và pháp môn “Vô Đối” tức không đối chướng. Đối diện vạn pháp cần hỷ xả không để cái chướng làm chủ sai khiến bậc tu. Như vậy hiện tại tâm được thảnh thơi đâu có phiền não. Chính sự đối chướng che Chơn Tâm. Sự đối chướng là vọng tâm. Thì chơn tâm ẩn trong vọng tâm. Vọng tâm bao che chơn tâm. Mây mù tan ắt mặt trời ló dạng quang đãng. Không đối chướng Chơn Tâm như nhiên hiện.


    [​IMG]
    Nam Mô An Dưỡng Quốc Cực Lạc Giới Di Đà Hải Hội Diệm Vương Quang Như Lai.


    Muốn về an hưởng hạnh phúc nơi cảnh giới cực lạc của Đức Phật A Di Đà được mãi mãi an lạc thì phải tu pháp môn Diệm Vương.


    Diệm Vương có nghĩa hòn núi vua của các núi Hỏa Diệm Sơn, ý nói không có hòn núi nào cao, to, lớn bằng, nó thuộc loại núi khó vượt qua thứ nhất lại phun lửa cực nóng. Pháp môn Diệm Vương là pháp môn bằng trí tuệ, bằng thân mạng phải qua khỏi núi lửa đầy bất trắc đứng thứ nhất này.


    Tỷ như vợ chồng một gia đình kia lâu nay tu ăn chay, tụng kinh, niệm Phật đi chùa, lễ bái cầu vái chư Phật quen thuộc nhiều năm. Bỗng hôm nay bà vợ thấy ông chồng không theo lối tu như trước nữa. Lại thấy chồng ngồi Thiền, đi nghe thuyết pháp, tu sửa tánh theo một Thiền Sư khác chứ không còn theo thầy ở chùa như trước nữa. Bà vợ thấy chồng như vậy, tức giận, quát to ầm ỹ cả nhà, buộc chồng phải bỏ tu theo lối này. Chồng không nghe vẫn cố giải thích lối tu này là của Đại Thừa rất tự tánh sẽ tiến bộ hơn lối tu trước. Bà vợ chướng đối bỏ nhà ra đi, con cái không người chăm sóc, gia đình đỗ vỡ và bị đảo lộn. Chồng thấy vợ không hiểu mà sanh tâm chướng đối làm tan cả nhà hoảng sợ quá, do nghiệp thức cản nên bỏ tu, bà vợ trở về. Bà vợ biện minh cho hòn núi Diệm Vương.


    Ông chồng hóa giải qua khỏi nghiệp chủng bà vợ là vượt qua núi Diệm Vương sẽ được quang minh. Bằng không, chỉ cầu vái van xin khi tụng niệm thì chẳng bao giờ vào được cảnh giới Tịnh Độ của Đức A Di Đà Phật. Pháp môn của Đại Thừa là pháp môn hóa giải vạn pháp chứ không ngồi tịnh, cầu xin. Phải đi mới đến. Phải hành mới tỏ thông. Tận Thấu pháp là tận Thành. Trong kinh Phật thường dùng núi Tu Di để chỉ sự cản trở to lớn không cho bậc tu thù thắng nổi.


    [​IMG]
    Nam Mô An Dưỡng Quốc Cực Lạc Giới Di Đà Hải Hội Vô Ngại Quang Như Lai.

    Muốn về an hưởng hạnh phúc nơi cảnh giới cực lạc của Đức Phật A Di Đà được mãi mãi an lạc thì phải tu pháp môn của Như Lai là pháp môn Vô Ngại. Vô ngại có nghĩa vào pháp quái ngại để biết, Tâm vẫn trơn liền không ngại ngùng lo âu. Tâm được quang minh khi không còn pháp nào quái ngại. Hàng ngoại giáo, Nhị Thừa vô ngại có nghĩa diệt, né tránh để không nghe thấy nên vô ngại này không có tỏ pháp.

    [​IMG]
    Nam Mô An Dưỡng Quốc, Cực Lạc Giới Di Đà Hải Hội, Thanh Tịnh Quang Như Lai.


    Muốn về an hưởng hạnh phúc nơi cảnh giới cực lạc của Đức Phật A Di Đà được mãi mãi an lạc thì phải tu pháp môn của Như Lai là pháp môn Thanh Tịnh.

    Giải sạch Hoa Pháp Tánh của chính mình nghiêm túc mới có thanh tịnh. Pháp bất sanh bất diệt tỏ tường vạn pháp chính pháp thanh tịnh. Tinh thần ổn định chính là nơi an lạc, là chân hạnh phúc thật sự. Đó là thanh tịnh. Bậc tu chưa ổn định tư tưởng thì chưa có thanh tịnh. Nếu chưa thanh tịnh thì làm sao dạy người khác thanh tịnh được. Bậc phải đắc an lạc mới quân minh, lúc bấy giờ hóa giải vạn pháp đều vào tuyệt đối. Không một quyết định nào sánh kịp bậc đã vào tuyệt đối pháp. Nhiều bậc cho rằng tu như vậy là ích kỷ cá nhân. Thử hỏi một người bệnh, không phải bác sĩ mà lại chỉ cho người khác uống thuốc. Có phải không đúng chút nào không? Học ra trường đậu bác sĩ rồi cho thuốc con bệnh mới an tâm.


    Bậc tu hành sống trong gia đình, hàng ngày làm việc kiếm sống dễ va chạm nhau, sướng khổ, vui buồn, được mất, có không làm cho bậc thật biết tu hóa giải, sau giỏi hóa giải sẽ được an lạc ngay trong đời. Đó là pháp thanh tịnh đầy hạnh phúc quí báu không gì bằng. Dần dần vào vạn pháp sâu thêm, năng động hơn, sẽ đến Đại Thanh Tịnh. Cho nên thanh tịnh cũng phải có nhiều cấp bực tùy theo công năng, công đức cao dày hay mỏng. Có bậc tu suốt đời không một phút giây thấy biết loạn tưởng, tối tưởng vẫn ngồi mong tưởng sẽ đắc đạo. Dù ở pháp môn nào cũng phải tu cho thanh tịnh mới đạt đạo được.


    [​IMG]
    Nam Mô An Dưỡng Quốc, Cực Lạc Giới Di Đà Hải Hội, Hoan Hỷ Quang Như Lai.

    Muốn về an hưởng hạnh phúc nơi cảnh giới cực lạc của Đức Phật A Di Đà được mãi mãi an lạc thì phải tu pháp môn của Như Lai là pháp môn Hoan Hỷ.

    Hoan có nghĩa là hoan lạc. Hỷ tức hỷ xả những gay cấn, bậc tu hóa giải sẽ quen dần chịu đựng vạn pháp. Trái ý vẫn hỷ xả không hờn giận, không oán ghét kẻ đã gây cho mình đau khổ. Hoa Pháp Tánh giải được sẽ thoải mái. Bậc tu như vậy thực hành đúng đạo đức, con đường chư Bồ Tát đang đi, Chư Thánh đang tu.


    [​IMG]
    Nam Mô An Dưỡng Quốc, Cực Lạc Giới Di Đà Hải Hội, Trí Huệ Quang Như Lai.

    Muốn về an hưởng hạnh phúc nơi cảnh giới cực lạc của Đức Phật A Di Đà được mãi mãi an lạc thì phải tu pháp môn của Như Lai là pháp môn trí huệ.


    Pháp môn trí huệ có nghĩa cái biết sâu đậm, trước chưa biết mà nay được biết, trước chưa nghe mà nay được nghe. Trước cái biết có bờ ngăn nhỏ nhen nay cái biết rộng lớn. Trước tu tập lầm lẫn nay nhờ Đạo Tràng lần hiểu biết gọi là trí huệ. Tùy theo mức hiểu biết của bậc tu mà thuyết pháp giúp đỡ đúng tầm cỡ, không cao quá cũng không thấp quá gọi là trí huệ.


    Bậc tu tìm được cái biết viên dung trùm khắp được quang minh, gọi là pháp của Như Lai Nhãn Tạng.


    [​IMG] Nam Mô An Dưỡng Quốc, Cực Lạc Giới Di Đà Hải Hội, Nan Tư Quang Như Lai.

    Muốn về an hưởng hạnh phúc nơi cảnh giới cực lạc của Đức Phật A Di Đà được mãi mãi an lạc thì phải tu pháp môn của Như Lai là pháp môn Nan Tư.


    Nan có nghĩa là nan giải khó khăn. Tư là tư riêng của cá nhân, cá tánh. Pháp môn Nan Tư bậc tu gặp pháp nan giải gay cấn đến với cá nhân mình phải hóa giải cho được mới quang minh. Đó là pháp của Như Lai. Bậc thiết tha tâm, thành thật tâm cần phải biết nhận định đúng đắn đường tu hóa giải vạn pháp qua những khúc eo gay cấn làm bế tắc đời mình. Nếu không, dù cho thành thật tâm, thiết tha tâm đến đâu chăng cũng không đem lại kết quả Tri Kiến. Bậc chỉ cầu vái van xin, chay trường, thành tâm, thiết tha cũng không làm sao tháo gỡ hoàn cảnh được.

    [​IMG]
    Nam Mô An Dưỡng Quốc, Cực Lạc Giới Di Đà Hải Hội, Bất Đoạn Quang Như Lai.

    Muốn về an hưởng hạnh phúc nơi cảnh giới cực lạc của Đức Phật A Di Đà được mãi mãi an lạc thì phải tu pháp môn của Như Lai là pháp môn bất đoạn.


    Bất đoạn có nghĩa không gián đoạn, bậc tu gặp bối cảnh, khó khăn nếu không tỏ được giá trị bảo pháp dễ bỏ dở. Sự chán nản làm cho bậc tu đoạn, dị, diệt. Vượt qua được sáng tỏ. Đó là pháp của Như Lai. Trong cuộc sống bậc tu gặp vật chất thiếu thốn, liền gia tăng xả thân vào cuộc đời tìm kiếm cốt thỏa mãn, trong trường hợp như vậy phải bậc trí dũng mới không bỏ tu. Bậc tu tầm thường không nhận giá trị, quyền lợi của đường tu cứu mình thoát khỏi trầm luân trong biển khổ, dù cho bậc chỉ đạo có ở cạnh cũng không đem lại kết quả cho được.


    Nam Mô An Dưỡng Quốc, Cực Lạc Giới Di Đà Hải Hội, Vô Xưng Quang Như Lai.

    Muốn về an hưởng hạnh phúc nơi cảnh giới cực lạc của Đức Phật A Di Đà được mãi mãi an lạc thì phải tu pháp môn của Như Lai là pháp môn Vô Xưng.

    Vô xưng có nghĩa không xưng danh chứng đắc. Nó vốn vô ngã. Chúng sanh bị hữu ngã nên xưng danh làm thêm tăng thượng. Tu hành như vậy vẫn còn lầm lẫn bị vô minh che mờ. Bậc tu sở đắc, biết nhận chân được pháp vô ngã không hề xưng danh liền vãng sanh Tịnh Độ.


    Phật nói pháp vô ngã là ý nói không có cái Ta nơi đảo loạn để chúng sanh nương theo tu tập khỏi lầm nhận. Nhờ không xưng danh mà tìm được CHƠN NGÃ đặng Tri Kiến Giải Thoát. Do chúng sanh bảo vệ danh xưng cùng tướng ngã mà sanh tham. Từ tham bị vướng mắc tranh giành sanh ra sân hận, phải bị si mê. Đó chính là con đường sanh tử. Danh xưng nó vốn như huyễn lầm nhận cái ta hư dối làm mình, nó chính là thị danh, danh giả. Từ Đại Đức, Thượng Tọa, Hòa Thượng tu hành nhận định kỹ khi thực hành vạn pháp tìm xem cái nào là của ta. Nó là cái dụng của Như Lai.


    Tỷ như, từ nơi lúa làm ra gạo đem ra làm bột, từ bột làm đủ thứ bánh, mỗi kiểu có một tên riêng chứ thật ra nó cũng chính là lúa. Nó bị biến mang danh ngã, tướng ngã.

    Tỷ như gỗ người thợ đem làm bàn, ghế, tủ, giường, cửa sổ, cửa chính. Nó vốn từ cây. Người thợ cưa, đục, đẽo làm thành. Nó đã bị biến và mang danh ngã, tướng ngã: cái bàn, cái ghế, tủ, giường, cửa sổ, cửa chính mỗi thứ có một công dụng khác nhau. Như cái ghế để ngồi, cái bàn để viết, để vật dụng, cái giường để nằm, chẳng ai đem cái ghế để vật dụng, chẳng ai đem cái bàn để ngồi. Gọi là cái dụng thành hình thì dùng đúng theo nó.


    Tất cả đều mang danh ngã, tướng ngã. Do đó bậc tu chân chính không hề xưng danh để được quang minh. Đó là pháp môn vô xưng của Như Lai. Cái ta thường còn bất biến, không còn nhận huyễn là mình. Bậc tu hành cần phải chủ quán vô xưng, tức tỏ được vô ngã làm cho nghiệp tiêu giảm, không còn nhận lầm huyễn làm chân. Đó chính là pháp môn Đại Thừa tu Tri Kiến Giải Thoát. Tất cả chúng sanh vốn nguyên một thể đồng với NHƯ LAI mười phương chẳng sai khác.


    [​IMG]
    Nam Mô An Dưỡng Quốc, Cực Lạc Giới Di Đà Hải Hội, Siêu Nhựt Nguyệt Quang Như Lai.


    Muốn về an hưởng hạnh phúc nơi cảnh giới cực lạc của Đức Phật A Di Đà được mãi mãi an lạc thì phải tu pháp môn của Như Lai là pháp môn Siêu Nhựt Nguyệt.

    Nhựt là mặt trời, Nguyệt là mặt trăng. Siêu Nhựt Nguyệt có ý nói ngày đêm đều sáng rỡ, không hề có tối tăm. Bậc tu giữ gìn tự tánh không lúc nào quên lãng, chẳng suy tính hạn lượng cùng biên giới. Chớ nên gặp khó khăn, gặp hồi gay cấn mà chướng đối ắt bị tối tăm. Hóa giải siêu đạo đức, tâm được thanh tịnh, vạn pháp được quân minh thành đạt viên thông, kết chung viên dung liền vào An Dưỡng Quốc Cực Lạc Giới Di Đà Hải Hội.


    Bậc tu phải chí tâm đảnh lễ, nhất tâm thiết tha mới thọ lãnh đầy đủ. Đó chính là lời ấn chỉ của Đức Bổn Sư Thích Ca Mâu Ni Phật. Bậc tu thành thật tâm, thiết tha tâm nhưng không cổi giải để hóa giải vạn pháp, chỉ cầu vái linh thiên vẫn bị lạc hướng khác với con đường Chư Bồ Tát quá khứ đã đi, chư Bồ Tát hiện tại đang hạnh nguyện. Tu hành chủ yếu thực hiện 12 câu nguyện trên, chính là tu theo con đường Chân Tôn hướng đi của Bồ Tát hạnh. Vì vậy bậc tu không nên kể tu lâu năm hay mới tu. Chỉ cần đúng theo tinh thần trên liền cũng được vào dòng Bồ Tát Hạnh.



    35. Nhất Tâm

    Nhất Tâm chính là điểm tinh hoa của sự tu tập để đi đến Tri Kiến Giải Thoát.

    • Bậc Đại Thừa Nhất Tâm cổi giải vạn pháp cho được an nhiên. Nhờ thế, đến một ngày nào đầy đủ sẽ lộ diện mà sở đắc chân không làm điểm tựa chuẩn bị tỏ rõ con đường sanh tử mà Giác Ngộ. Chân không chẳng phải là giác ngộ. Chân không là con đường của Bồ Tát Hạnh. Tu sạch sẽ chân không đến lúc nào Giác Tướng từng pháp trong vạn pháp mới thành tựu Nhất Tâm của Bồ Tát.


    • Bậc tu tinh tấn cổi giải thân tâm sung mãn để trưởng thành Nhất Tâm. Cổi giải để hóa giải vạn pháp được cái sống thực, không phải cái sống cầu vái ảo tưởng xa thực tại. Bậc này luôn sáng soi bờ ngăn chấp nơi thân mạng để lần tiến. Kiến tạo công năng đến nhất tâm. Hóa giải vạn pháp không phiền trách, than thân, oán đời. Đó gọi là tu đúng, hành đúng với con đường Đại Thừa, con đường tiến đến Chân Tôn, là y áo của Bồ Tát.


    Nhờ qua nhiều gây cấn, tai nghe được nhĩ tịnh, mắt thấy được nhãn tịnh, không còn đối tượng, không còn trụ chấp, được quân minh.


    Thật ra vì chúng sanh đa bệnh mà Phật phải đa hạnh chứ dưới mắt Ngài không thành lập giáo môn cố định, hành đạo không trụ xứ, chỉ tùy nghiệp chủng của từng mỗi tín chúng, cần hóa giải mỗi trường hợp ra sao Ngài đều Trực Giác tường tận.

    “Ngài chuyên về hóa giải quan niệm, hóa giải tư tưởng vọng tưởng lầm lạc nghi chấp con người.” –T.V.


    • Quan niệm là thói quen tạo thành nghiệp ăn sâu vào thân tâm làm cho không thoát sinh được. Muốn hóa giải quan niệm để tâm dễ trực giác mà tu hành, bậc tu phải hỷ xả, xoá bỏ tư tưởng định sẵn, khác quan niệm cần xem xét, không vội khen chê. Trước tiên do vọng tưởng bị lầm cho là thật nên bị chấp, phải tự thấy cốt tự hóa giải để tự giác con đường sanh tử.


    “Ngày nay đến thời Hạ Lai Thị Hiện vẫn không giáo môn, tùy căn, tùy duyên hóa độ.” –T.V.

    Thời Hạ Lai Đức Tịnh Vương hóa thân Đức Di Lạc cũng như thời Đức Thế Tôn. Ngài không lập một môn nào để không bị trụ xứ. Khai thị Phật pháp hợp thời Hạ Lai nên không trụ chứng, tùy chân tử quyết tâm liền được tận tình khai ngộ, bậc như vậy gọi là tùy căn cơ tánh chất cầu đạo. Còn bậc tùy duyên phải chiều chuộng, nếu tin sẽ được khai cho biết Phật Pháp, bậc này không ép như bậc có căn cơ cầu đạo quyết theo con đường Tri Kiến Giải Thoát.


    “Từ nơi Tạng Thức lầm lẫn mờ mịt đảo điên, thọ giới Tiên Thần làm nơi tu trì hư vọng, nên ta mới lấy Như Lai Tạng lập giáo hóa giải nên được gọi là PHÁP TẠNG PHẬT GIÁO.”–T.V.


    • Tạng Thức hàm chứa tất cả chủng tử Thiện Ác, Thanh Thô, Tốt Xấu, Dơ Sạch. Bậc tu Tiên Thần lầm lẫn chọn lựa, ưa thích thiện ghét ác, lấy tốt bỏ xấu, lấy sạch tránh dơ, giữ một khía cạnh yên lặng, tránh nơi ồn đông người, chọn nơi vắng vẻ tu hành, gìn giữ gọi là tu trì. Tu như vậy không vào thực tế chỉ là hư vọng.

    Do đó Đức Ngài mới lấy Như Lai Tạng còn gọi là Chân Như hàm chứa bao gồm tất cả mọi pháp thiện ác, tốt xấu, dơ sạch, tịnh bất tịnh, hữu tướng phi tướng, nghĩa là tất cả kho tạng của Như Lai đều được phơi bày ra chẳng thiếu sót để tận độ chúng sanh trong thời Mạt Pháp này. Do phiền não một chủng tánh của Ma Lực che khuất Chân Như, do Tham, Sân, Si… che khuất chân như gọi là pháp tánh lầm lẫn mê lầm giữ lấy tạo thành tạng thức từ đó Ngài mới thành lập PHÁP TẠNG PHẬT GIÁO để giáo hóa chúng sinh. Pháp Tạng biện minh cho Như Lai Tạng là quyền năng tổng thể vũ trụ.


    “Ta không xây cất chùa làm nơi trụ xứ. Ta chỉ đến những bậc tín tâm phụng hành theo lời chỉ giáo.” –T.V.


    • Chuyến Hạ Lai này, Ngài không chủ trương xây một ngôi chùa nào. Ngài mua một căn nhà cho gia đình sinh sống làm ăn. Phía trước làm chánh điện. Còn phía sau làm một gác gỗ gọi là Tịnh Thất của Ngài. Nhà ở làm Pháp Bảo. Những chân tử tín thành mỗi tỉnh đều lấy nhà làm Pháp Bảo tỉnh, Pháp Bảo Quận, xã đến ngày 14 và 30 âm lịch làm lễ Phật đọc giáo ngôn, giáo lý. Hàng Hộ Pháp, Tôn Giả giảng Phật Pháp nuôi dưỡng Tứ Chúng tu hành.


    Ngài lui tới các nơi khai thị Phật pháp tu ngay trong gia đình, sửa tánh, tối công phu thiền tọa. Nghe dạy tại pháp bảo về nhà thi hành tu tập nên có nhiều cơ hội phải thực hành luôn, không phải tu ảo tưởng cầu vái van xin nữa. Nhiều gia đình tu sửa tánh là niệm pháp thường xuyên nên chứng 2 đến 3 năm cả nhà đầm ấm, sống biết nhường nhịn nhau, nóng nảy liền thấy sai. Một bậc tu như vậy kéo theo những thành phần không tu trong nhà thấy người này tiến bộ hẳn, cả nhà dần dần không còn ồn ào, nói năng biết giữ gìn, vợ chồng sống hạnh phúc, cha mẹ, anh em hòa thuận một cách tự động kỳ diệu.


    Ngồi thiền, niệm Phật ngay trong phòng ngủ nhờ đó trực giác được tánh xấu, đố tật xấu dần dần trừ giảm, vô minh tan. Nhiều gia đình khá giả, có tiền đầy đủ không tu tự sửa tánh nhà nào cũng cãi cọ, nóng giận, phiền muộn không sao giải hết được. Những gia đình Pháp Tạng Phật Giáo ý thức được nên có mê lầm ồn ào, phiền muộn sau đó họ thấy biết. Sửa dần, loại cái xấu sau chỉ còn cái tốt đem lại hạnh phúc cho cả nhà. Kết quả khoảng 80% đi được tự tánh. Chân tử Ngài ở rải rác trong nước từ Sài Gòn, Nha Trang, Huế, Đà Nẵng, Qui Nhơn. Ngoài nước như Vương Quốc Anh và Hoa Kỳ đều có chân tử.


    Cá nhân là nền tảng của gia đình. Gia đình là nền tảng của xã hội. Gia đình ổn định, xã hội phồn vinh. Đó là cơ bản cần tạo đạo đức thực sự, tự mỗi cá nhân ý thức được thì không gì quý bằng. Những cải cách bên ngoài chỉ là yếu tố phụ. Khi một con người tự ý thức đạo đức, họ không hề làm bậy ảnh hưởng không tốt đối với xã hội. Thật một pháp môn sống động thực tiễn.


    “Ta chỉ cần những bậc tu hành tin nơi lời hóa giải, VÂNG để thực hành tu tập, KÍNH Bảo Pháp Chân Truyền, gọi là Nhất Tâm Đảnh Lễ thành Phật.” –TV

    • Bậc tu thiết tha, thành thật tâm đều tin Ngài về nhà hóa giải những vướng mắc trong gia đình. Gặp khó khăn không tìm ra lối thoát khi gia đình gặp hoàn cảnh vật chất thiếu, chuyện gia đình bất ổn, Ngài đều cho một lối giải ổn định. Bậc biết vâng lời về thực thi điều Ngài dạy liền qua khúc eo rất tuyệt mỹ.


    Từ đó họ ý thức, gia đình, cuộc sống hằng ngày chẳng khác nào bài toán phải giải cho ra đáp số. Nên không ngồi khóc than, không cầu vái. Người nào cũng được dạy pháp môn Đại Thừa mới vào cũng dắt dẫn theo đường tu Đại Thừa. Bậc tu thực hiện vâng theo có kết quả, tự động kính ái Ngài xem như cha hiền đang chăn dắt bầy con, có lúc xuống vực thẳm, có lúc qua ghềnh, lội thác trong vũ trụ bao la vô tận. Đi đâu, ở đâu lúc nào cũng nhận diện bảo pháp ở trước mặt, từ đó họ tin tưởng Pháp môn sống động ở khắp nơi. Không thấy Pháp ở đâu mà đâu đâu cũng có Phật Pháp, đâu đâu cũng có Như Lai Pháp cùng Chư Phật mười phương. Nay họ đã được nhận diện, kiến diện, gắn chặt đời mình với Tam Thế mười phương. Bậc đạt đến trình độ trên gọi là Nhất Tâm, liền niệm một tiếng được Tương Thông Phật Lực./-



    36. Lý Sự Tương Song

    “Từ khi Thái Tử Tất Đạt Đa thành Phật, kinh điển là một tài liệu quí giá, quí ở nơi nung đúc con người từ nơi mê lầm tác quái trở thành vĩ nhân cao quí sống với nhân loại bình đẳng thân yêu cứu vãn nhân loại vạn vật tránh điều ghét bỏ sát hại lẫn nhau, đồng nương theo tài liệu thực hành lý sự tương song trực giác, gọi là Tri Kiến Giải Thoát.” –T.V.

    Từ khi Đức Bổn Sư ra đời khai đạo, chúng sinh từ chỗ vô minh tối tăm trở nên hiền lương, có bậc thiện căn Phước Báo Nhân Thiên, có bậc Thành Thánh, có bậc vĩ nhân Bồ Tát, Thành Phật, thật pháp môn đem lại tình yêu cao quý ngay cả cho tứ loài, loài súc sinh cũng không được giết hại.

    Lý sự tương song có nghĩa, tạo đạo đức, kết quả tri đạo, thực hành tu tập sửa hết tánh xấu, đố tật xấu làm cho lý sự tương song. Bậc giảng đạo thuyết pháp hay mà tánh không sửa đổi được gọi là lý sự không đồng, kết quả đạo không tri kiến được. Nếu thi hành sửa đổi thân tâm tốt, thì giáo lý hợp với việc làm là một, bậc tu sẽ một lúc đầy đủ theo tần số của mình mà Như Nhiên Trực Giác.

    “Hiện nay trên một nghìn năm trăm năm, sự lãnh hội điều hành bị sai lệch, thực tu chưa đầy đủ công năng đúng với tinh hoa Phật Đạo, hiểu biết không đồng khó phát triển, lại thêm vào nơi tài liệu y kinh trở thành giáo điều lạc hướng, dù có kết quả chăng vẫn kết quả nơi nhận định của mỗi bậc tu hành chớ chưa có năng lực trực chứng.” –T.V.

    Từ khi Đức Bổn Sư nhập Bát Đại Niết Bàn đến nay đã trên 2500 năm. Trong khoảng 1000 năm đầu Chư Tổ, Chư Bồ Tát còn lưu truyền Chánh Pháp, còn lại 1500 năm sau các bậc tu hướng dẫn chúng sanh dần dần bị sai lệch, không chú trọng sửa tánh, giải nghiệp để hóa giải ma lực, chỉ theo y kinh giảng giải, học nhiều giáo điều cố thủ nên không có tự tánh tỏ tánh, do đó không có năng lực trực giác làm sao chứng ngộ được. Hiểu biết, nhận định qua học hỏi, nghiên cứu chỉ là hiểu biết giả thuyết nó quá xa cách con đường Trực Giác Chứng Ngộ.

    “Thật là thuốc hay, linh dược cứu trợ vô cùng tuyệt tác, nhưng chưa biết sử dụng thì sao? Vì nó như thế nên làm cho chúng sanh và Phật Đạo tự mang Mạt Pháp.” –T.V.

    Lời vàng quí báu từ nơi Kim Thân của Đức Bổn Sư khai thị đã đem lại lợi ích vô số kể, nhưng đến thời này gọi là thời Mạt Pháp Đức Di Lạc Ngài chứng kiến trên lộ trình hành đạo của Ngài đâu đâu cũng không còn quan tâm đến hóa giải ma nghiệp nữa nên ma lực xâm chiếm tràn lan làm cho Mạt Pháp thịnh hành./-

    37. Thuyết Minh Đồng Ứng

    “"Đối với tài liệu Phật Đạo là một linh dược tuyệt tác, biết rõ nguồn mê, do cá nhân tự mãn nên mới thành lập hai chữ tu hành và sửa lại bản thân, phải hành sự bên ngoài để tiếp thu bá thiên vạn lỗi lầm lẫn nơi Đồng Ứng.”" –T.V.

    Tu hành cốt thực hành vạn pháp ở thế gian để tự tỏ, càng năng động càng thâm nhập sâu đậm, nhờ đó bước qua, nhìn lại mới thấy lầm sai của mình bị cuốn hòa đồng theo bá thiên vạn pháp đủ muôn chiều, làm cho bậc tu bị xuôi dòng không sao thoát ra khỏi nơi đồng ứng này được. Phải bền chí, kiên dũng mới tiếp thu bá thiên vạn lối mà tránh lầm lẫn, khỏi bị lôi cuốn nơi đồng ứng.

    "Có nhiều bậc tu hành kiên(g) sợ đồng ứng tác quái, nên tư tưởng hiền lành cốt khỏi sa đọa.”" –T.V.

    Bậc tu khi pháp động đến không hóa giải, kiên sợ bị chìm đắm, sẽ được hiền lành nhưng trí tuệ không phát sinh. Bậc không va chạm vạn pháp không thấy được lầm lỗi nên còn lầm lỗi. Bậc biết làm hết sai, bậc này được đúng. Bậc cho rằng có trí tuệ, không hạnh nguyện, trí này chưa thật trí cứu cánh, vẫn còn nghiệp thức vọng đảo.
    “
    "Có bậc thường xét lỗi lầm, tự nguyện sám hối, tầm phương hóa giải, nghiệp thức, nghiệp căn vọng đảo, chuyên trì tu tập bao nhiêu vẫn nhìn thấy chính mình đảo vọng, tìm nơi xa lánh, tận diệt trở thành Tiên Đạo hay hàng Nhị Thừa tu chứng.”" –T.V.

    Có bậc tu rất chú tâm xem xét lỗi lầm, thành tâm sám hối cốt yếu chừa lỗi, xem xét từ tư tưởng đảo vọng cho đến căn tánh tạo nghiệp nhưng cũng không hết được loạn tưởng, không điều động được loạn tưởng, đã nhập cốc tu riêng một mình, không tiếp xúc với bất cứ người nào cốt xa lánh cái nghe, cái thấy, diệt loạn tưởng để được thanh tịnh. Thanh tịnh này là Tịnh Biệt nguy hại.

    "Đối với Đồng Ứng thì như nhiên sẵn sàng tùy thuận theo sở nguyện của tứ loài trong vũ trụ. Từ nơi thượng cho đến hạ mỗi mỗi đều tùy thuận đồng ứng. Từ con người cho đến Tiên Thần Thánh Hóa phải lầm nơi đồng ứng.”" –T.V.

    Theo quan niệm cùng tập nhiễm của mỗi giòng giống trong tứ loài thảy đều Như Nhiên Đồng Ứng đúng với giai cấp với tần số của nó. Từ hàng thượng sanh cho đến kẻ hạ tiện mỗi mỗi đều đồng đẳng ứng trực với từng lớp lớp của nó. Vì sao? Vì vũ trụ với tứ loài như con người, Tiên, Thần, Thánh vốn đồng thể. Tỷ như bọt nước đá, sương, tuyết, băng đều gốc từ nước. Tùy theo nhiệt độ và khí hậu mà nước đồng ứng thành bọt nước, nước đá, sương, tuyết băng. Nó sẵn sàng tùy thuận từng vùng mà thành hình khắp tất cả.

    Còn con người thì nó cũng tùy trình độ và giai cấp làm cho từng giới đồng ưa thích vẹn vừa, không hơn kém được. Đối với bậc biết cải tiến bản thân Đạo Đức đồng ứng giúp cho trí hóa từ phàm phu trở thành bậc Thánh Tăng cao quý xuất ly thế gian.
    “
    "Phật và chúng sanh chỉ hơn nhau nơi tận biết và chưa được biết. Nên Phật thời không có giới. Chúng sanh có giới bị mê lầm. Phật không giới tròn giác.”"
    –T.V.

    “Không giới” đây không phải ngồi yên, tránh né vào vạn pháp để không, phải vào vạn pháp thuận nghịch, hữu tướng phi tướng chẳng còn thiếu sót một pháp nào mới tận biết mà không giữ một giới nào.

    Nghe qua thấy đơn giản nhưng thực hiện tận biết tròn giác phải qua lớp lớp vô lượng kiếp, chỉ trừ gặp Chư Phật đưa qua đến mức Bồ Tát, từ Bồ Tát tiếp tục hạnh nguyện ở những kiếp sau này chừng nào sạch tất cả giới mới mong thành Phật.

    "Khi Đức Quán Thế Âm Như Lai Phật, cho đến sau này Quán Thế Âm Bồ Tát, sở đắc Viên Dung Bình Đẳng Đồng Ứng Như Lai, phát nguyện nơi Phổ Môn Kinh bất cứ mỗi một ai, tùy theo sở nguyện liền hiện thân thuyết pháp. Ngài nói: Bà La Môn, Ưu Bà Tắc, Ưu Bà Di v.v... cầu lấy Ta, Ta liền hiện thân Bà La Môn, Ưu Bà Tắc, Ưu Bà Di thuyết pháp đó phải chăng đồng ứng hiện thân đồng đẳng không giới hạn biệt phân, trở thành tu quán Như Lai, đặng Như Lai thọ ký chăng?"” –T.V.

    Quán Thế Âm Như Lai Phật đã thành tựu viên dung bình đẳng, quán xét những âm thanh của tứ loài như nhiên đến. Còn bậc tu theo pháp môn quán xét âm thanh của tứ loài hóa giải độ khổ cứu chúng sinh, chính là Quán Thế Âm Bồ Tát những bậc này đều đã thành tựu viên dung bình đẳng đồng ứng với Như Lai tại vì sao?

    – Vì: Thân, khẩu, ý bình đẳng là pháp thực tiễn vi diệu, không còn có gì so sánh được. Nghiệp của thân chuyển bình đẳng với lời nói. Nghiệp của lời nói đều do tâm sanh nên gọi nghiệp của thân bình đẳng với tâm. Thân khẩu ý bình đẳng thì đâu đâu cũng bình đẳng giống như biển cả đâu đâu cũng chung một vị mặn.

    Chư vị đều phát nguyện, bất cứ ai tùy theo nguyện liền hiện thân thuyết pháp như có Bà La Môn cầu Ta, Ta liền hiện thân Bà La Môn thuyết pháp, có nghĩa Bà La Môn là hạng người ở giai cấp cao sang nếu cầu Quán Thế Âm Bồ Tát, Quán Thế Âm Như Lai Phật thì người cầu này sẽ tự nghe được, tự nhận được trình độ giai cấp cao sang ở nơi tánh mình, biết phải làm sao cho hợp với giai cấp hiện tại một cách tự nhiên. Đó gọi là Quán Thế Âm Bồ Tát hiện thân Bà La Môn đồng ứng thuyết pháp.

    Như có Ưu Bà Tắc, Ưu Bà Di cầu Ta. Ta liền hiện thân Ưu Bà Tắc, Ưu Bà Di thuyết pháp có nghĩa là người nam, người nữ giữ ngũ giới tự nghe được ý nghĩa ích lợi của giữ ngũ giới nên gọi là Quán Thế Âm Bồ Tát hiện thân Ưu Bà Tắc, Ưu Bà Di đồng ứng thuyết pháp.

    Tự tâm rốt ráo không có tánh thì ngã đồng ứng tự tánh không tánh. Pháp tánh này đồng đẳng không còn chỗ nào cao hơn, không còn giới hạn biệt phân, nghiệp phiền não đến không còn có sự trói buộc, cũng không có sự giải thoát. Chư Bồ tát nguyện trụ được Bình Đẳng, biết sử dụng vạn pháp nơi thân khẩu ý viên dung ắt được Thần Bí Gia Trì là chỗ nhập môn làm phương tiện. Bậc này ở khắp nơi đều viên dung bình đẳng đó là Mật Ấn, là Phổ Môn Bí Mật Trang Nghiêm từ thân bình đẳng viên dung này phổ chiếu hiện tất cả uy nghi, từ lời nói hiện uy nghi, âm thanh nào cũng là Chân Pháp. Còn tâm phổ chiếu hiện tất cả chủng tử, không có chủng tử nào chẳng phải là nhất thiết chủng trí, tất cả chủng trí đều là Tam Muội.

    Bậc tu đã đến kiến diện Như Lai rốt ráo viên dung bình đẳng, chẳng ngoài Tánh Như được Như Lai thọ ký.

    "Khi mở quyển kinh Hoa Nghiêm mới thấy lời Phật nói: Các ông nên biết Bồ Tát nương nơi Công Đức Như Lai. Tĩnh tọa an nhiên, đồng thuyết pháp cho vô số chúng sanh nơi mình đặng nghe pháp, lãnh hội lời thuyết ngôn, tất cả thảy đều đặng nhiều môn giải thoát, đó là những vị đã từng Cúng Dường Như Lai nên ngày nay mới nói như thế."” –T.V.

    Phật đã từng dạy nơi Kinh Hoa Nghiêm rất tỉ mỉ rõ ràng cho bậc tu tránh ngộ nhận nơi giả thuyết mà phải nương vào vạn pháp nơi nghe thấy biết, hóa giải, hỷ xả cốt hồi hướng tất cả ngăn chấp trong tâm cho trở về hư không gọi là nương công đức Như Lai thuyết pháp cho vô số chúng sanh tánh của mình được nghe, nhận định rõ được thoát sinh không còn chúng sanh tánh nào chấp trụ trong tâm. Đó là bậc biết Cúng Dường Như Lai là pháp môn giải thoát.

    Khi thuyết pháp chính mình nghe lời mình thuyết trước, lời thuyết có khi đồng ứng như minh thuyết, tưởng chừng như Phật nhưng lý và sự chưa đồng song. Lý học quá nhiều, sự không hành làm cho bậc thuyết bị lý chướng. Chớ có thọ ngã ngộ nhận thì mới lãnh hội được lời kinh vô giá của Đức Bổn Sư nơi kinh Hoa Nghiêm. Đa phần thuyết pháp hay nhưng chưa phải đã hiểu lời thuyết được chu đáo, chưa được quả vị như thế, cần phải học lại lời mình đã thuyết nên cần nương vào Công Đức Như Lai thuyết pháp để tránh thọ ngã.

    “"Thuyết minh đồng ứng rất dễ lầm, dễ nhận, đối kẻ Thiểu Trí Đa Văn ưa thích kỳ vọng mà lầm nhận. Còn ngoài ra bậc tu cầu Chánh Giác biết tự trọng bản năng Công Đức Phẩm."” –T.V.

    "Bậc học hỏi, nghiên cứu hay dùng trí suy nghĩ nên nó đồng ứng tưởng mình đã giác, nghĩ ảo vọng không hóa giải, không tu sửa tánh làm chính, trở thành lầm nhận. Bậc thực tu biết tự soi xét thân mạng cùng khả năng để tự tạo lối tu thực tế ngay trong đời để tạo Công Đức Cúng Dường Như Lai gọi là Công Đức Phẩm.
    “Mỗi một khi buông thả nương vào đồng ứng thề nguyện học. Bậc này có trạng thái xét lại bản năng, đạo hạnh cùng đức hạnh cốt chứng tri căn bản, thật khó lầm nhận phút cuối của một thời đang tu.”"
    –T.V.

    Bậc có tâm trí quyết tu cầu giải thoát không hề câu chấp từ lời kinh, tinh tấn tu cho bản năng được suông sẻ, từ hành động đẹp cho đến tánh tình thiện căn làm cơ bản, không mơ tưởng kỳ vọng cao xa, chỉ trực nhận tánh, luôn giữ gìn tâm điều hòa, giải sạch tánh để thanh tịnh tâm. Bậc như vậy giờ phút bỏ thân xác ra đi cũng không có một tư tưởng khởi vọng ảo tưởng. Chỉ thực tế tu sửa nên không có một pháp lầm nhận./-

    38. Thuyết Minh Ứng Hiện

    “Sự ứng hiện là sự chờ khai thị chứng minh, ngoài ra không thể dùng vọng tưởng, thường tưởng nào mà đặng sự ứng hiện.” –T.V.

    Bậc tu thành thật tâm cầu giác ngộ đều ứng thân nguyện gặp bậc Thiện Tri Thức mới được bậc này hiện thân khai thị, đến chừng tỏ thông đặng chứng minh. Nếu tu chưa gặp Thiện Tri Thức không có ứng thân đúng đắng sẽ không được hiện. Không thể ngồi yên suy nghĩ ảo vọng xa xôi mà đến đựơc, chúng sanh có sẵn như nhiên tự giác nhưng khó phát triển hình thành vì quyền lực Ma Lực khó thấy, khó biết, khó có đủ công năng để thắng nó.

    “Bằng bậc có sẵn căn tánh của Thiên hoặc Tiên Thần Thánh Hóa, bị sanh ứng hiện trong cõi đời, phải chịu sống theo sáu đường như tất cả nhân loài.” –T.V.

    Căn tánh có sẵn Thiên hoặc Tiên là căn tánh hàm chứa chất thanh cao, quyền uy thống trị thiên hạ. Căn tánh Thần chính trực quang minh. Căn tánh Thánh đi đứng nằm ngồi trong tứ thời nặng hình thức được tôn sùng, nặng nhắm mắt lim dim, thiện căn. Những bậc trên dù có tu đến mức nào, bao lâu cũng còn nằm trong vòng đai pháp giới, phải bị ứng trực hiện thân sanh tử trong lục đạo như chúng sinh chớ chưa được giác ngộ rốt ráo. Tuy sống trong đời theo dòng sanh tử chưa thoát sinh được nhưng tư cách họ vẫn khang trang, đàng hoàng, cử chỉ thanh thoát đẹp hơn chúng sanh.

    “Nhưng có một nỗi, nặng về hình sắc quan niệm nơi Thân Phật Thị Hiện, hơn là tu hành tự tánh. Nặng chiêm ngưỡng lễ bái hơn là lãnh giáo của Chư Tăng. Do nơi Thiên Pháp tập nhiễm thọ chấp, tu như thế khó thành tựu chứng tri Bồ Tát Hạnh được gọi là Nhị Thừa Tu Chứng.” –T.V.

    Số đông bậc tu xuất gia ở chùa, cốc, núi chú trọng hình tướng cho giống Phật nhưng lại ít quan tâm sửa tánh, ít xem xét tật xấu hóa giải cho thông. Lại nặng cúng lạy tu cầu Phật hơn là đào sâu chân lý. Vì căn tánh tập nhiễm nên chưa được nhập vào dòng Bồ tát hạnh. Chúng sanh tánh biết hướng thượng, hỷ xả trở thành Bồ Tát Tánh.

    “Bậc có sẵn căn tánh của Thiên hoặc Tiên Thần Thánh Hóa, bị sanh ứng hiện giữa cõi đời như trên đã nói: Nếu gặp đặng Phật. Nhãn quang phong phú, nhìn đặng thể cách bình dị của Như Lai thị hiện, sinh lòng ái kính. Khi nghe đặng lời khai thị, toàn thân long mạch của bậc ấy viên thông, tất cả sơn hà đại địa rung chuyển, liền lễ bái thọ trì xưng tán, chưa bao giờ nghe, nay đặng nghe lời khai thị, chưa bao giờ thấy nay đặng thấy Chơn Tướng Trực Giác, liền đặng giải tâm sắc tướng về Như Tướng tu hạnh Bồ Tát Nguyện.” –T.V.

    Bậc Thiên, Tiên, Thần, Thánh khi bị sanh ở thế gian, do tập nhiễm sẵn quan niệm: Phật phải sống kỳ lạ khác thế giới. Nếu bậc này biết nhìn thực tế lối sống ở đời Chư Phật sống bình dị, không cầu kỳ, không nhắm mắt lim dim, không phải lúc nào tay cũng bắt ấn, bậc như vậy được cái nhìn thực tế phong phú. Đó chính là cuộc sống hồn nhiên của Như Lai, liền biết nhận định sự bình dị của Đức Phật Di Lạc đương thời thị hiện bằng thân người đang trụ thế gian, biết ái kính, tín thành, thiết tha tâm, chừng đó một lời khai thị của chư Phật liền trực giác được pháp thực tiễn, toàn thân tứ đại liền tiếp nhận nguồn sống mới, phấn khởi tiếp được chân lý sống động ngay tại chỗ chớ không phải ở đâu cao sang.

    Toàn thân chuyển, tế bào được đánh thức đổi mới hoàn toàn. Quan niệm ảo, sai lầm bỗng chốc tan biến gọi là toàn thân long mạch viên thông. Sơn hà đại địa ý chỉ thân tứ đại của bậc tu gồm đất, nước, gió, lửa cũng được đổi mới nhờ xóa được nghiệp do quan niệm mê lầm từ xưa bảo thủ mà thọ chấp.

    Từ giờ, thân đã đổi mới ứng hiện theo Như Pháp mà lâu nay chưa bao giờ được nghe, nay được tự nghe, chưa bao giờ được thấy nay được tự thấy, chưa bao giờ được biết nay được tự biết, trở thành trực giác không còn chấp sắc tướng âm thanh cầu đạo nữa mà nương theo vạn pháp ngay thế gian, hòa nhập, nguyện tự tu tự hành. Đó mới là Bồ Tát Nguyện.

    Đương thời Hạ Lai Mạt Pháp Đức Di Lạc Tôn Phật, Vị Long Hoa Tăng Chủ đã chứng kiến tôi nghe hầu như số đông bậc tu đều lạc Tiên, Thiên, Thần, Thánh đạo. Đạo giác ngộ rất hiếm thấy bậc thực hiện độ chúng sanh.

    “Những bậc này thường đứng về Nhân Thiên Hạnh trong hàng Trưởng Giả Chúng tu tập.”–T.V.

    Những bậc Thiên - Tiên – Thần - Thánh sau khi trực giác tu con đường giác ngộ thường là những bậc Trưởng Giả, theo hạnh Trưởng Giả tu tập.

    Hàng Hộ Pháp Chúng, hàng Trưởng Giả Chúng, hàng Thị Giả Chúng, hàng Tín Đồ Đạo Chúng gọi là bốn chúng tu tập quanh Phật đều được giác ngộ.

    “Phật ra đời không thể nào khai thác căn nghiệp của chúng sanh, mỗi một khi chúng sanh thọ giới bị thọ chấp căn nghiệp kiến tạo thành hình Nhị Thừa Tu chứng hoặc giả thọ căn nghiệp Tiên Thần Thánh hóa, hay ngạ quỷ - súc sanh đến địa ngục Phật đành phải chịu. Chỉ có những bậc tự nơi bản thân của mình, nhất niệm hóa giải lấy mình thoát khỏi căn nghiệp của mình mà thôi. Đó là lời chân thật nên có câu: Phật bất hóa độ vô duyên. Bất hóa độ định nghiệp.” –T.V.

    Chúng sanh thọ chấp tạo nghiệp căn cố định chấp thủ thành bậc tu tánh tướng không tương song gọi là nhị thừa tu chứng hoặc thọ nghiệp Tiên Thần Thánh hóa, khi được đại nhân duyên gặp Phật khai mở cho nhận được nghe thấy biết trực giác, nếu không nhận lãnh đặng, không ý thức tự nơi bản thân, không quyết tâm bền chí hóa giải vạn pháp, Phật cũng đành chịu.

    “Khi gặp thời căn nơi chúng sanh đầy đủ sung túc lại bị chìm đắm nơi tướng dục hư vọng, tưởng vọng xa hoa Lọng Phướng, Phật bảo phải xuất gia tu tập Thiên Thừa Hạnh, cốt xuất ly Danh giả tướng, áp dụng bằng “chữ không” lối này điều ngự dục vọng, khắc phục tham vọng trở về Như Nhiên Trực Giác.” –T.V.

    Thời Đức Bổn Sư cuộc sống chúng sinh vật chất thật giản dị nhưng lại chấp đắm giai cấp cao sang, quý trọng, đi đâu, ở đâu cũng có người dưới quyền hầu hạ, họ độc quyền đối với lớp chúng sinh hạ cấp. Phật tận biết phải hóa giải cho xuất gia, lìa bỏ gia đình, không còn đắm danh vọng giả tạm. Lấy không nhà, ở nơi Tịnh xá, đạo tràng tu tập cho đạt đến “Chữ không” lại đi khất thực sống đạm bạc qua ngày, tất cả cốt yếu điều ngự căn tánh không còn ham danh vọng, không còn ngã, không còn sở hữu thành tựu hồn nhiên trong vạn pháp, như nhiên tự tháo gỡ được chấp pháp, thanh tịnh tâm đến Chánh Giác.

    “Đến thời căn chúng sinh đói khổ, dùng nơi năng lực khai thác mưu sinh trong hiện vật để sinh sống, ngành trí hóa văn minh thực chất chẳng thể nào dụng lối không hướng dẫn trên con đường Tri Kiến, nên chi Phật Thị Hiện phải Đồng Hóa chúng sanh. Dụng lối có để Hóa Độ. Khi đã dụng lối có thì có trăm phương vạn lối diễn hành. Tâm không nhiễm trước giác hoàn thể chân.” –T.V.

    Đến thời Hạ Lai Mạt Kiếp này, căn cơ chúng sinh đói khổ, phải dùng sức lao động hằng ngày, làm các ngành nghề trong thế gian để kiếm sống. Ngành khoa học phát minh đủ thứ mới lạ đầy hấp dẫn, hiếu kỳ, Đức Tịnh Vương hóa thân Đức Di Lạc tường tận sự bộc phát Như Lai Tạng đang diễn hành quá mạnh, nếu cho bậc tín tâm tiếp tục tu xuất gia ở chùa, cốc, am như cách đây 2500 năm, không vào các ngành nghề, ngành trí hóa khoa học, bậc tu sẽ bị lạc hậu không tỏ tường sự tiến hóa thời Hạ Lai, còn nặng học kinh, nặng nghiên cứu kinh thuyết giảng mà thực tế trước mắt không thấy biết vạn pháp di chuyển.

    Do đó ngài phải dụng pháp tu tại gia để bậc tín tâm nhận định được, tu tập được hành dụng Như Lai Tạng. Khi bậc tu có gia đình, có vợ chồng con cái, có thân nhân phải lo cuôc sống đương nhiên vạn pháp diễn hành không thiếu sót động, tịnh. Bậc tu nương theo động – tịnh tâm không trụ chấp, không mắc miếu ắt đặng tỏ thông hiện tại thật vi diệu. Thật là một lối tu cải cách thực tiễn trong gia đình mà vẫn đảm bảo chỉ tiêu Chân Giác.

    “HỶ, NỘ, ÁI, Ố, THƯỜNG, LẠC, NGÃ, TỊNH là pháp môn Diệu Dụng của Phật tùy căn tánh Phật phải thị hiện để hướng dẫn Bồ Tát thọ chủng tánh, chớ chẳng phải nơi trụ xứ chứng tri của Phật.” –T.V.

    Bậc tu hành gặp nhiều diễn cảnh buồn không qua được, Phật phải dụng Hỷ cốt hóa giải cho họ lướt qua không còn nhiễm phiền não. Bậc tin Phật tu hành nhưng không vâng lời hạnh nguyện, Phật phải Nộ cho bậc tu hồi hướng tu hành. Bậc tu ưa thích nương chìu Phật phải dụng Ái hóa độ cho họ lần tiến. Bậc tu Tịnh Biệt nằm sâu trong pháp giới Phật phải dụng ố tức phi tướng, bất tịnh cho họ hành nguyện được đầy đủ chân giác. Bậc tu loạn tưởng đảo điên Phật phải dụng thường lạc ngã tịnh cốt yếu cho bậc tu liễu ngộ. Sự diệu dụng của Phật cứu độ chúng sinh không thể nghĩ bàn. Vì chúng sinh Phật tùy thuận bệnh mà thị hiện cứu độ chứ Phật không có bị nhiễm bao giờ./-

    39. Giác Tánh

    “Nơi Giác Tánh sẵn có nơi con người cùng các cấp bậc ưa thích Như Nhiên Tánh, Đương Nhiên Tánh, tự biết hơn là học đòi đặng biết tu học tụng tán kinh điển.” –T.V.

    Mỗi chúng sinh đều sẵn có Phật tánh. Phật tánh là tánh như nhiên khi nó chưa nhiễm vẫn suốt thông phổ chiếu cùng khắp chẳng khác. Khi chúng sanh nghi, trụ chấp bị che mờ gọi là vô minh nên Phật tánh kia trở thành Ma tánh. Ma tánh thường diễn tuồng hỗn loạn tạo thành nghiệp. Nghiệp dắt đi sanh tử không ngừng. Bậc học nhiều kinh điển, không quan tâm sửa tánh đương nhiên còn tham, sân, si chịu làm chúng sanh giới sống trong ba cõi: dục giới, sắc giới, vô sắc giới và sáu đường: Thiên, nhân, A tu la, Ngạ quỉ, súc sanh, địa ngục.

    “Đối với Nhân Sanh, từ thuở nghìn xưa đang sống thực tại hay hoài vọng, niệm tưởng xa xôi hiếu kỳ trở nên vọng sống. Họ chỉ ước ao hơn là thực tánh xấu xa cải hóa trở nên bậc thanh cao hướng thượng rộng rãi bao dung thì chứng ấy, đưa tập kinh điển ngang tầm đôi mắt liền thông cảm tỏ tường cần chi phải nghiên cứu.” –T.V.

    Thường bậc tu ao ước được thấy Phật từ trên trời giáng xuống, hoặc ưa nghe tiếng nói bên tai chỉ dạy, thích kỳ vọng cao siêu. Ít bậc chịu quan sát các pháp nơi nghe, thấy, biết, gặp gút mắc hóa giải. Nếu bậc tu biết tự quán xét lỗi lầm, biết hướng thượng tâm tánh được như nhiên, khi gặp kinh Phật vừa đọc liền tỏ thông một cách hồn nhiên không còn suy nghĩ, không còn nghiên cứu để biết.

    “Khi bậc tu hành vốn tùy thuộc nơi quan niệm của mình mà chứng tri đạo pháp.” –T.V.
    Bậc tu quan niệm như thế nào thì đường đi của mình nó kết quả như thế ấy. Tỷ như bậc có tư tưởng tu phải thanh bai, chọn nơi thanh vắng, tránh thế gian ồn thì đó là đường đi của Tiên Đạo. Tỷ như bậc tu tư tưởng nghĩ và hành nghiên cứu, học mà không chú tâm sửa tánh, độc nhiễm còn, đó là đường đi của La sát. Do vọng tưởng sai lạc bậc tu Phật trở thành Tiên, Thần, Thánh Hóa mới có Tam Thiên Đại Thiên thế giới, mới có ma, qủy dữ.

    “Bước đường tu Phật chỉ sợ chưa biết tu, chớ đừng sợ không giải thoát.” –T.V.
    Có bậc tu chỉ biết tu chớ không biết tu để làm gì? Có bậc cầu giải thoát lại không biết pháp môn giải thoát phải tu như thế nào hoặc tin theo một vị thầy mà vị này cũng không minh định được thế nào là pháp môn giải thoát. Do đó cầu giải thoát theo quan niệm. Chỉ sợ tu không đúng pháp môn giải thoát chớ nếu tu đúng nó phải đến. Đừng cầu giải thoát phải siêu hình vạn lối cũng đừng lo sợ không được giải thoát, cần chú tâm Đạo Đức, Giáo Lý, Tọa Thiền ba môn tiến đều dung thông là đến giác tánh. Giác Tánh Minh Tâm.

    “Những bậc đa văn trí thức tu hành rất cần có công năng thực hành hơn là xem kinh tu tập, còn bậc ít học thời phải xem kinh để tu hành hơn là công năng thực tiễn.” –T.V.

    Những bậc học nhiều rất cần thực hành để tự tánh, tránh tập nhiễm văn tự quá nhiều, cốt yếu đạt được giác tánh mà tự biết. Còn bậc ít học phải đọc kinh cho thông giáo lý rồi cũng phải thực hành tự tánh cốt giác tánh. Hai lớp chúng sanh tu hành trên đều bị tập nhiễm nên cần bổ sung cốt bất tăng bất giảm.

    Nơi tự giác nói thảy đều là lời Phật Ngữ nói, bằng chẳng dùng lời Tự Giác nói tức lời Ma Thuyết tưởng vọng nói. Đoạn này rất cần cho bậc tu hành lưu ý.” –T.V.

    Bậc sạch chúng sanh tánh rất hiếm có, bậc này đã từng hạnh nguyện Hữu Tướng, Phi Tướng, Tịnh, Bất Tịnh dung thông mới sạch chúng sanh tánh, đã từng gặp chư Phật được vào hàng Bồ Tát chờ Như Lai Phật thọ ký. Mỗi lời nói đều tự, pháp sống động cứu độ chúng sanh rất thực tế. Chưa sạch chúng sanh tánh mà thuyết pháp dù có học hết, nghiên cứu hết Tam Tạng Kinh điển của Phật vẫn là lời Ma Thuyết, do suy nghĩ chứ không do trực giác thuyết.

    “Trong vũ trụ và nhân sinh cũng thảy đều trong vòng Tâm Sanh, chừng nào khởi sanh tâm tu tỏ tánh, giác tánh mới thoát khỏi tâm sanh. Bậc mà chẳng bị tâm sanh thì gọi là Vô Sanh, khi tỏ tâm Chánh Giác gọi là Giác Ngộ.” –T.V.

    Tứ loài trong đó có con người đều khởi sanh tư tưởng, chạy theo tư tưởng sanh tánh. Tánh chính là tâm. Bị tánh dẫn dắt phải chịu sống theo nó gọi là Tâm Sanh, chừng nào bậc tu không còn khởi muốn, không còn vọng loạn mà thân tâm kiểm soát, kiềm chế, ngự chế tánh liền thông đạt thoát khỏi tâm sanh. Chừng đó mới không còn bị tâm sanh. Vậy phải làm sao? Ta Sanh Tâm luôn luôn xem xét tâm không cho nó dẫn dắt ta. Ta điều khiển được tâm, không còn bị sanh nào đâu còn tử. Đã không còn sanh tử gọi là vô sanh.

    Bậc bị tâm sanh gọi là chúng sanh. Khi đã là chúng sanh liền có phân biệt trong thân và ngoài thân. Bên trong là Tâm Pháp còn bên ngoài là Tướng Pháp vì phân biệt nên tâm điều khiển sanh muôn trùng vạn pháp. Bậc Nhị Thừa thấy loạn mới khởi diệt để đạt Không Pháp trở thành sanh diệt lại không biết còn cho là thực. Sự lầm lẫn này phải bị động vọng theo tâm thức di chuyển mà thành loạn tưởng không ngừng trong sanh tử luân hồi. Vì vậy sự tu hành rất cần đến Thiện Tri Thức đã giác ngộ. Vì bậc tu nào cũng vậy, chỉ trong một thời gian lơ là không kiểm soát, kiềm chế liền bị Tâm Sanh mà không hay biết lại cứ tưởng mình làm chủ tu tập chân chính.

    Tỷ như bậc tin Phật tu tụng kinh, cúng lạy thì tâm sanh làm cho bậc ấy trở thành mê tín, thích thú vẹn vừa nếu có ai bảo tu sửa tánh, giải tật xấu thì rất sân hận ghét không nhìn mặt.

    Tỷ như tu cầu vái lâu ngày trở thành bi mà không trí. Do đó không biết xem xét việc nào đúng việc nào sai thành ra thấy ai khổ sở thì bậc này rất sầu khổ hơn họ chỉ vì nặng về thiện căn nên chấp trụ cho là tu hành phải thương lụy chúng sanh như vậy, nếu có ai làm ác hay nói lời độc liền xa lìa, ghét bỏ chớ không có trí hiểu biết Bổn Lai của người ác tập nhiễm là nói năng, hành động hung bạo.

    Chừng nào họ tự kiên sợ cái ác, tự tâm hồi hướng tìm gặp Thiện Tri Thức chỉ bày để tự nguyện lìa chấp lìa chướng mới tỏ thông./-

    40. Thực Tướng Vô Tướng Tam Muội Pháp Môn


    Bậc tu, chủ yếu rõ biết Vô Minh mới gọi là tu. Bằng tu để tu không biết Vô Minh thời tu đến vô số kiếp chăng nữa, cũng không được lấy một ngày tu.

    –Vô Sư Kinh

    ”

    “Khi mà Đức Bổn Sư cầm cành hoa đưa lên hội trường, chính Ma Ha Ca Diếp nhận lãnh liền chứng thị: Thực Tướng Vô Tướng Tam Muội Pháp Môn, đó phải chăng Tương Thông Phật lực?”
    –T.V.


    Tôi nghe như vầy: Một hôm tại Trung Ương Hội Thượng số 42 đường Hồng Bàng, Nha Trang. Đức Tịnh Vương Nhất Tôn hóa thân Long Hoa Tăng Chủ Di Lạc Tôn Phật khai thị: Tôn giả Ma Ha Ca Diếp chứng thị Thực Tướng Vô Tướng Tam Muội Pháp Môn. Vậy thế nào là Thực Tướng Vô Tướng?


    Hoa hồng là thực tướng, nếu đem con sâu sống trong hoa hồng sang hoa cúc hay bất cứ một loài hoa nào khác, nó phải bị chết vì không quen ăn chất hoa cúc hay một chất nào khác, môi trường sống khác nó cũng không quen, nó chỉ thích hợp với môi trường và chất hoa hồng thôi. Đó là vô tướng. Từ đó Tôn Giả Ma Ha Ca Diếp trực giác chúng sanh giới nào chỉ biết giới đó, ngoài giới không biết không tồn tại được. Trong Tam Thiên Đại Thiên thế giới, mỗi thế giới có một môi trường sống, ẩm thực, vật dụng đều đồng đẳng với nó không sai khác được.


    Tỷ như con cá sống trong nước ngọt, nếu đem nó lên bờ hay bỏ nó vào nước mặn, nó sẽ chết. Tỷ như con người sống nhờ có không khí nếu mất không khí hay ra khỏi bầu khí quyển không còn không khí ắt phải chết, nếu muốn tạm sống phải có bình oxy để thở. Từ tánh tình, tập nhiễm, cách sống, cử chỉ thảy đều tương thông mỗi giới.

    Bậc biết thực tướng, biết được vô tướng, biết chình mình lầm mê gọi là ba cái mê nơi bậc tu. Vậy là bậc tu giải được Tam Muội. Đấy là Tâm Ấn chư Phật khai thị để bậc thật tín tâm giải sạch vòng đai pháp giới, là pháp vi diệu đạt được Chánh Định Tam Muội.


    Thực Tướng Vô Tướng là chính yếu để giải mê lầm khi gặp vạn pháp, nếu bậc tu Trực Giác nó chính là con đường Trung Đạo. Muốn bước vào con đường Trung Đạo bậc tu phải tự tánh tỏ tánh, không chấp, không chướng tâm rỗng rang mới đạt được. Thực Tướng Vô Tướng còn gọi là hai pháp Có – Không. Nếu bậc tu bỏ Có lấy Không thì sa vào Tiên Đạo. Còn bỏ Không lấy Có thì ví bằng phàm phu, thường mắc miếu trụ chấp, chướng đối phải bị chìm đắm trong sanh tử luân hồi.

    Các vị Tổ xưa kia khi chưa đắc chân lý cũng phải bị mê lầm như chúng sanh. Các vị trước tiên cũng niệm Phật, cũng nghe thuyết pháp, cũng xem kinh, cũng mê tín, cũng tập khởi, cũng chấp pháp Có-Không, nặng nhẹ không chừng. Nhưng với bản năng quyết tâm cầu Giác Ngộ cần thực hiện sửa tánh bộc phát hóa giải vạn pháp chớ không xem kinh, tụng kinh Phật mà học thuộc. Mục đích chư Tổ là tự biết chớ không bị biết cũng không thọ ngã, không thọ chấp Thực Tướng, cũng không thọ chấp Vô Tướng nên chẳng còn nghi, tỏ thông pháp tánh tròn khắp.

    “Ma ha Ca Diếp chứng tri Thực Tướng Vô Tướng Tam Muội pháp môn, phải trải qua hàng bao Tam Muội, vạn pháp Thần Thông Tam Muội, mới chứng tri lìa có lấy không, tận tận không không đến nơi Phật Tướng Giác Tướng.” –T.V.


    Mặc dầu sở đắc chân lý nhưng còn phải hành thâm pháp giới, phải trải qua hàng bá thiên vạn pháp Thực Tướng Vô Tướng mới tỏ thông liền lạc, mới không còn lầm, đến lúc sạch sẽ pháp giới tức sạch sẽ chúng sanh tánh, tận thấu không còn vướng một pháp giới mới đến giác tướng, bước từ Bồ Tát Nguyện, Bồ Tát Hạnh vào hàng Bồ Tát được. Cái Không của bậc Giác Tướng đã từng dẫm nát vạn triệu triệu pháp giới, vào ra không ngại chứ chẳng phải ngồi yên mà cho là đắc Không được.

    “Nơi Kiến Tánh nó tận dụng không sắc tướng vẫn Thấy Biết, nó từ nơi chân tánh phát hiện ở nơi soi tánh, sửa tánh mà tự thấy đặng tánh, nhờ tu pháp môn giải thoát nên chi thường tánh sáng soi nơi Không Tánh vẫn thấy.”
    –T.V.


    Chúng sanh phải có sắc, có tướng mới thấy biết, bậc tu thường quan tâm sửa tánh, xem xét tánh đúng mức tự nhiên phát hiện chân tánh, từ chân tánh như nhiên sáng nên khi pháp diễn cảnh thấy biết Vô Tướng gọi là Không Tướng vẫn thấy.

    Tỷ như hai người bạn thân với nhau từ lâu, bỗng một hôm có hoàn cảnh rối rắm, một trong hai người bất bình giận người kia. Người bạn nói một câu bất mãn, bỏ tình bạn cũ, người kia nhờ tu sửa tánh, không còn giận hờn bạn, lại bình tĩnh, sáng soi tại sao bạn mình nói câu dứt tình nghĩa như vậy, liền biết được nguyên nhân, biết được do hoàn cảnh gì từ trong thân tâm bạn mình ẩn khuất bên trong, đó gọi là Không Tướng mà thấy. Người bạn quan sát giỏi, hóa giải đúng vẹn toàn gọi là Diệu Quan Sát, chân tánh được tỏ thông pháp môn giải thoát, con đường đi đến Lục Thông. Từ Lục Thông sẽ hoàn tất Tam Muội.


    Không nên dùng thương, ghét suy đoán mà thấy, không suy nghĩ nặng một chiều, phải như nhiên quan sát kỹ lưỡng, được tự biết.


    “Hai giáo phái Đại Thừa và Tiểu Thừa đối với những bậc căn cơ chưa hiểu biết thường phân tách chướng đối. Bậc đã từng biết hoặc biết hơn thế nữa thì đặng gọi chung lại là Đạo Hạnh-Trí Tuệ của hai môn, phân ra hai lối tu hành nặng nhẹ của mỗi bên, do đó mới gọi là chung và riêng, Ứng Thân Chân Lý cùng Pháp Thân Chân Lý. Bằng Pháp Thân cùng Ứng Thân song tu thì được gọi là Viên Giác, mới hoàn toàn tôn chỉ duy nhất trên con đường Tri Kiến Giải Thoát.” –T.V.

    Tiểu thừa thuộc Đạo Hạnh. Đại thừa thuộc Trí Tuệ. Tiểu thừa tu kết quả Ứng Thân đắc chân lý. Đại Thừa tu kết quả Pháp Thân đắc chân lý. Bởi vậy bậc tu Ứng Thân đầy đủ cần phải tu Pháp Thân. Ứng Thân cùng Pháp Thân rốt ráo liền có Chánh Báo Thân, viên mãn ba thân. Chư Phật có ba thân.


    Bậc tu nặng Đạo Hạnh, nhẹ Trí Tuệ. Cũng có bậc tu nặng Trí Tuệ, nhẹ Đạo Hạnh, không tỏ thông viên giác được. Phải Trí Tuệ và Đạo Hạnh tương song. Tiểu thừa nặng tổ chức, nặng hình thức, từ đi đứng, nói năng, cử chỉ cái gì cũng đẹp, được nhiều bậc tu ưa thích. Bậc Đại Thừa tu Pháp Thân, chính là tu Nghe Thấy Biết trong đời sống, giải nghi chấp, giải mê chấp làm cho thân tâm thanh thoát, cuộc sống hồn nhiên. Bậc Đại Thừa đã tu được con đường chân lý thực tiễn, chứ không phải lúc nào trí cũng rỗng không, bỏ hết vạn pháp nơi Nghe Thấy Biết./-
     

Chia sẻ trang này