41. Tứ Hạnh Bậc chỉ đạo cứu độ chúng sanh cần tinh tấn nhiếp thu Tứ Hạnh, hoàn tất Pháp Thân để tỏ rõ trực giác đi vào Thật Hiện chứ không nặng Ứng Hiện. Trong Tứ Hạnh gồm có: – La Hán Hạnh. – Thinh Văn Hạnh. – Duyên Giác Hạnh. – Bồ Tát Hạnh. • Thứ Nhất : La Hán Hạnh. “Phẩm hạnh của những bậc A La Hán gọi là Hạnh Tướng Phật. Nếu an trụ tướng ấy thành đạt tướng Phật thời gọi là Bích Chi Phật. Bằng tu hành hạnh La Hán nó lại tùy nơi tu chứng cấp bậc an trụ thì Chánh Báo từ hàng Thiên Tiên, Đại Tiên, ở nơi ứng hiện trực hiện Tam Thiên Đại Thiên Thế Giới gọi là Tam Giới.” –T.V. Những bậc tu sở đắc chân lý Giác Ngộ, Đại Ngộ, Liễu Ngộ thường bị lầm cho là cao nhất và tưởng rằng đã đạt đến mức tận cùng của chân lý nên an trụ hạnh này gọi là Phật Giới. Thật ra sự an trụ hạnh tướng này chỉ là Bích Chi Phật còn gọi Phật Giới. Phật an trụ một giới tỏ rõ tùy mức độ tu chứng Giác Ngộ, Đại Ngộ, Liễu Ngộ mà đạt mức từ Thiên Tiên đến Đại Tiên gọi là Phật Tiên vẫn nằm trong đài hoa pháp giới, khó có kiếp nào thoát khỏi pháp giới để bước vào dung thông cùng Bồ Tát Hạnh. Đến mức tu chứng này những bậc nào biết cần phải tu tiến lên nữa liền không chấp trụ hạnh tướng Phật Giới rất hiếm hoi vô kể. Gặp Phật Vô Thượng Chánh Đẳng Chánh Giác cũng khó lìa bỏ Tập Nhiễm Phật Giới để được hóa độ con đường Bồ Tát. Thà rằng làm vị Bồ Tát tu tiếp còn có thời điểm thành Phật chứ trụ Phật Giới phải bị A Tăng Kỳ Kiếp không tiến lên được nữa. • Thứ Nhì : Thinh Văn Hạnh. “Bậc tu La Hán Hạnh, nương nơi Tứ Hạnh tu cầu Chánh Giác thời tận dụng kinh điển là ngón tay chỉ, xem kinh cốt liễu nghĩa không chấp tự kinh thâu nhận trực giác, gọi đó là thực hiện Thinh Văn Hạnh.” –T.V. Bậc Thinh Văn Hạnh tu giác ngộ cũng được gọi là La Hán Hạnh. Từ La Hán Hạnh tu cầu Vô Thượng Chánh Đẳng Chánh Giác, những bậc này xem kinh cốt liễu nghĩa kinh đặng trực thị vạn pháp. Nếu xem kinh, nghiên cứu kinh, học kinh mà không biết áp dụng kinh trong đời sống hàng ngày cốt tỏ vạn pháp, trực giác vạn pháp vẫn là Bị Giác rất khó thoát sinh. Những bậc này thường vấp phải Ngã, Ngã Sở mà không bao giờ hay biết mình đang bị vô minh bao phủ phải bị triền miên trong kinh điển. Họ cho rằng đọc, nghiên cứu kinh Phật là đường tu duy nhất chớ đâu có biết rằng nhờ kinh Phật để tu trực giác thoát khỏi pháp giới bị biết. Thật quá ư khó khăn thay cho một bậc nào biết nhận định sâu sắc để tự độ đời mình đặng tu cầu Tri Kiến Giải Thoát, thoát khỏi sự mê lầm nhiều đời kiếp. • Thứ Ba : Duyên Giác Hạnh. “Bằng tùy duyên cảnh thuận nghịch mà trực giác, không vì thuận, chẳng vì nghịch, tâm phân đối chướng ngại nơi Tịnh Bất Tịnh mà thối chuyển chấp nghi, duy nhất trực giác mà đặng, gọi là thực hiện Duyên Giác Hạnh.” –T.V. Tùy duyên cảnh thuận nghịch có nghĩa trong cuộc sống thường ngày gặp hoàn cảnh thường diễn thuận nghịch liền biết ở đời ai cũng có hoàn cảnh khi vui lúc buồn, khi sướng lúc khổ, khi có lúc không, không quái ngại cho là chuyện lạ, tâm bình thản xem xét hoàn cảnh không còn chướng đối. Dù hoàn cảnh có khó khăn đến đâu cũng an vui tìm phương tiện hóa giải đến tỏ thông không còn phân biệt đối chướng, không còn nghi chấp Chư Phật, cùng bậc Thiện Tri Thức, được đến thường còn không còn nằm trong vô thường của chúng sanh, được an vui. Bậc trực giác được hoàn cảnh đến thuận hay nghịch, tịnh hay bất tịnh đều phải hóa giải gọi là Duyên Giác Hạnh. Bậc Duyên Giác khi hóa giải hoàn cảnh không lo sợ pháp này giải đúng sai, sai đúng. Dù cho sự hóa giải một hoàn cảnh không đúng cũng ghi nhớ lấy cái sai này làm bài học cho cái đúng sau này, đặng hoàn tất Duyên Giác Hạnh là thiết yếu. Bậc La Hán Hạnh, Thinh Văn Hạnh, Duyên Giác Hạnh đúng nghĩa thường sở đắc một trong ba phẩm: ◊ Vô Sanh Pháp Nhẫn. ◊ Bình Đẳng Tánh Trí. ◊ Thực Tướng Vô Tướng Tam Muội Pháp Môn. Còn phải trải qua tu tập tự nguyện nhiều kiếp mới đến Giác Ngộ, Đại Ngộ, Liễu Ngộ. Nếu gặp bậc Thiện Tri Thức là Phật hay Bồ Tát có Tâm Ấn thực của Phật Thích Ca, Phật Di Lạc thì rất có lợi vô kể, chỉ cần một kiếp nếu Tin Vâng Kính đầy đủ là đến Giác Ngộ thật sự không đợi nhiều kiếp. Nhiều bậc khi đã gặp Đức Di Lạc nhưng lại tự ngã, lại thêm đeo cái cân tiểu ly bên mình tính hơn thiệt cũng không có kết quả chứng đạo. Đời Tôi đã chứng kiến và quá biết thật nó như vậy. Trên lộ trình hành đạo Ngài tận tình cho tất cả. Nhưng cũng khó vì họ không tinh tấn. Còn nhiều vị trụ ở Chân Không tháo gỡ đến giác ngộ không qua nổi khi Đức Long Hoa Tăng Chủ ra đi họ vẫn trụ không. Thật là khúc eo vĩnh cữu. Tại Trung Ương Hội Thượng, tôi nghe Đức Long Hoa Tăng Chủ hóa thân Đức Di Lạc khai thị như vầy: Thời Hạ Lai Mạt Pháp đã tàn canh, cần chỉ bày tu tập tỉ mỉ giúp cho mai sau bậc tín tâm tránh được lầm chấp KHÔNG, theo đúng con đường Giác Ngộ. Ngài ôn tồn khai thị tiếp: - Vua Lương Võ Đế nước Tàu là vị rất tin đạo Phật. Một hôm vua đến thăm Tổ Bồ Đề Đạt Ma và hỏi: - Trẫm xây hàng vạn ngôi chùa, cúng dường hàng vạn chư Tăng, vậy có công đức không? Tổ Bồ Đề Đạt Ma trả lời: - Không Vua Lương Võ Đế hỏi: - Tổ có biết trẫm là ai không? Tổ trả lời: - Không Vua Lương Võ Đế không tin Tổ, bỏ ra về và cấm các quan trong triều không được tu theo Tổ. Câu chuyện trên cho biết Tổ Bồ Đề Đạt Ma dùng Đốn Giáo sai lúc. Vì vua Lương Võ Đế mới gặp Tổ nên không thể dùng Đốn Giáo được. Tổ phải dùng Đạo Hạnh nương chiều dạy Tiệm Giáo cho vua một thời gian, đến lúc thấy đủ Tin Vâng Kính mới dùng Đốn cốt yếu cho vua Ngộ. Tổ chỉ biết Tổ chớ chưa biết ý vua muốn gì và tu đến mực độ nào. Vì Tổ chưa ngộ Thực Tướng Vô Tướng Tam Muội Pháp Môn. Do đó Tổ chỉ tự độ chớ tha độ chưa đúng. Tổ sở đắc chân lý, giảng đạo Đại Thừa nhưng phần thực hành áp dụng pháp vào đời sống bị kẹt KHÔNG. Cuối cùng Tổ quay vào vách thiền định chín năm hối hận sự đốn pháp sai gây hậu quả tai hại nầy chứ không phải quay vào vách thiền định chín năm là cao đạo như những lớp tu sau lầm chấp. Thiền quay mặt vào vách chín năm tránh thế gian bị lạc vào Tiên Đạo. ◊ Lý: Đại Thừa. ◊ Sự: vận chuyển Pháp không qua. Bị kẹt Không. ◊ Kết quả: lạc Tiên Đạo. Như đã ghi phần trước trong thời Hạ Lai Mạt Pháp này chính Đức Long Hoa Di Lạc Tôn Phật hành đạo từ năm 1957 đến năm 1993 cũng đã gặp lại 33 vị Tổ thời Đức Bổn Sư qui về tu hành đông đủ nhưng tất cả đều hiện Cư Nhân Hạnh, có gia đình, sinh sống đủ các nghành, nghề trong xã hội Việt Nam. Tổ Bồ Đề Đạt Ma cũng qui về năm 1980 với hóa thân mới, tên hiện kiếp. Có lần tôi được chứng kiến Đức Di Lạc Tôn Phật khuyên Tổ nên phát tâm dõng mãnh tu Bồ Tát Hạnh chứ đừng trụ hạnh tướng Phật bị giới gọi là Bích Chi Phật. Thà ở Bồ Tát Hạnh sau thành Bồ Tát còn có ngày thành Phật Chánh Đẳng Chánh Giác chứ ở hạnh Phật Giới đến vô lượng kiếp không thoát sinh nổi. Tổ không chịu nổi pháp động thuộc phi tướng do Đức Long Hoa Di Lạc Tôn Phật diệu dụng. Sau chỉ một năm Tổ quay về đóng cửa không tiếp bất cứ một ai trong đạo, Ngài kêu gọi gì cũng đóng kín cửa. Pháp tánh viễn dung bình đẳng, ngàn xưa nay tập nhiễm diễn y không hề thay đổi. Đức Di Lạc Tôn Phật có viết hai câu thơ cho Tổ như sau được lưu giữ trong Pháp Tạng: Đường về Thiên Trúc xa bao dặm Mà Tổ Bồ Đề gánh chữ KHÔNG. –TV Tổ sở đắc Chân Không chớ chưa Giác Ngộ. Lục Tổ Huệ Năng cũng vậy, tu được một năm trong Pháp Tạng, không chịu nổi pháp động cũng bỏ đi. Thế mới biết tu cư nhân hạnh thời này Pháp sống động phải bền chí, chịu đựng độ khổ mới qua nổi lớp lớp pháp giới. Tiền thân của Lục Tổ Huệ Năng chính là Sa Nặc trong thời thái tử Tất Đạt Đa. Khi Đức Bổn Sư thành Phật Sa Nặc cũng tu trong tăng đoàn, chưa được chứng minh vào hàng Thánh Tôn Giả. Khi đó Xá Lợi Phất và Mục Kiền Liên là hai vị Tôn Giả tích cực đến nay đã có trong Long Hoa còn đang hạnh nguyện từ Tôn Giả đến Bồ Tát thì làm gì có chuyện Lục Tổ Huệ Năng (Sa Nặc) đã thành Phật! Năm vị Tổ sau truyền sang Trung Hoa từ Tổ Bồ Đề Đạt Ma đến Lục Tổ Huệ Năng đều đắc Chân Không chứ chưa có vị nào Giác Ngộ. “Nói hay viết giỏi chưa phải của ta, khi gặp hoàn cảnh ta giải quyết hay đó mới là của ta.” –T.V. Tự tánh tỏ tánh được sạch chúng sanh, còn phải nương vào vạn pháp hóa giải, tịnh bất tịnh thảy đều nhiếp thâu cốt yếu tạo công năng còn phải nương nhờ nơi công đức mới mong sở đắc chân lý. Tùy mức độ cạn sâu nơi công năng, công đức mà được Giác Ngộ đến Liễu Ngộ. Cần có lập trường vững, kiểm chứng sáng soi nghiệp thức, nghiệp lậu cùng nghiệp kiết sử cố định lâu đời, hóa giải lầm mê vận chuyển sạch sẽ vạn pháp mà Chánh Giác. Bậc tu cầu con đường Tri Kiến Giải Thoát thời hãy tu tất cả các môn sao cho pháp hồi tâm, chỉ đúng pháp môn giải thoát mới đến. Bằng tu chỉ một môn Tiệm Giáo, Đốn Giáo, Mật Giáo, Hiển Giáo khó Giải Thoát được. Vì tu đốn giáo hiểu biết đốn giáo, tu tiệm giáo hiểu biết tiệm giáo chớ chưa phải đủ pháp môn giải thoát. Tu hiển giáo hiểu biết hiển giáo, tu mật giáo hiểu biết mật giáo chớ chưa phải tu pháp môn giải thoát. Bậc tu nơi thích muốn, tu cầu tịnh cũng không giải thoát được. Phải tu theo tôn chỉ mục đích được hướng dẫn rõ ràng của bậc Chánh Giác mới đạt được như đã tỏ bày phần trước mười vị Tôn Giả cùng chư vị Hộ Pháp thời Đức Bổn Sư Thích Ca Mâu Ni Phật kỳ hạ kiếp này có mặt trong Long Hoa, đã được Đức Di Lạc Tôn Phật cho thi kiểm tra quân minh về Đức Trí, dụng cư nhân hạnh tu hành thực tiễn. Kết quả chư vị còn ở vị trí Tôn Giả, Hộ Pháp. Duy nhất chỉ có một Tôn Giả được Ngài chính thức chứng minh Bồ Tát thi hành Ma Ha Tát trước mặt ba Chân Phật Tử. Tổ Bồ Đề Đạt Ma và Lục Tổ Huệ Năng còn ở vị trí Hộ Pháp chưa được Ngài chứng minh vào hàng Tôn Giả. Căn cứ vào sự chứng minh của Đức Di Lạc Tôn Phật kỳ Hạ Lai này thì Tôn Giả Mục Kiền Liên đi trước Tôn Giả Xá Lợi Phất một đời Phật. Như vậy Mục Kiền Liên sau này lai trần hạnh nguyện thành Phật sẽ độ lại cho Xá Lợi Phất vào Bồ Tát vì hiện tại Tôn Giả Xá Lợi Phất chưa được chứng minh Bồ Tát thi hành Ma Ha Tát. Bậc trí tuệ thường nghĩ đúng và sai, sai và đúng thì không bao giờ đúng được. Do đó cứ suy tính làm việc này sẽ sai không nên làm. Bậc chẳng nghĩ mà làm, lấy cái sai học hỏi rút kinh nghiệm thì cái sai làm Thầy cái đúng. Phải vào vạn pháp nương pháp dù có sai, tỏ sai một ngày kia sẽ đúng đó là đường đi của bậc cầu giải thoát. Bậc sợ làm bị sai nên không làm thì cái đúng của nghiệp thức chưa thật. Cuối cùng còn bị vướng trong suy nghĩ, không thoát khỏi vòng đai của tư tưởng. Mỗi một tư tưởng có một bản chất của nó, khi bậc nào cố định không ai giải tỏa nổi, dù có Phật ra đời cũng đành chịu. Duy chỉ có bậc đang tư tưởng cố định tự giải tỏa là xong. Do đó chư Phật dạy: Vạn pháp như huyễn hóa, đời là một giấc mơ qua nhanh như tia chớp. Phải tu trong pháp huyễn, tu trong mơ vọng, sau tỏ huyễn, hết mơ vọng về Chơn Tôn. “Thời Lục Tổ Huệ Năng với Ngài Thần Tú đồng tu dưới sự chỉ đạo của Ngài Ngũ Tổ Hoằng Nhẫn. Mỗi vị tu theo mỗi thế. Ngài Thần Tú đứng về Tiệm. Còn Ngài Huệ Năng thuộc về Đốn. Ngài Thần Tú tu nơi Đạo Hạnh, Ngài Huệ Năng về Giác Chơn thể tánh tịch diệt nơi vạn pháp. Một bên dụng tướng tỏ chơn, còn một bên truy chơn tỏ tánh. Rốt cuộc là Ngài Lục Tổ vẫn phải còn thực hành Đạo Hạnh Tướng cùng Chơn. Phần Ngài Thần Tú tầm chơn hợp tướng, đó chính là một con đường duy nhất Phật Thừa không hai lối.” –T.V. Bước đầu môn nào cũng phải tu sửa, nếu lơ là chểnh mảng tu sửa, dù tu môn nào cũng trở thành cố định đứng yên. Vô lượng kiếp cũng đứng yên vẫn bị lầm lạc không giải thoát được. Như kỳ Hạ Lai này nhiều vấn đề nói ra khó nghe nhưng đều có thực. Các vị Mã Minh, Thế Thân, Vô Trước thời quá khứ giảng Phật pháp Nhứt Thừa, Tối Thượng Thừa được xem hàng Bồ Tát. Nhưng kỳ này trong Long Hoa, Đức Di Lạc Tôn Phật kiểm tra, chứng minh còn ở hàng Tôn Giả, Thinh Văn Hạnh. Cấp A La Hán lý giỏi, sự vận chuyển pháp chưa qua nổi, còn đứng yên một chỗ gọi là Lý Sự chưa tương song - Đức Trí còn chênh lệch chưa tương song. Nói chung Ngài rất nghiêm túc khi chứng minh. Ngài đã từng khai thị: "Tôi chứng minh hàng Thánh Chúng không bao giờ để vướng động chữ Vì. Tất cả đều quân minh, do đó mới có cơ bản chân truyền." • Thứ Tư: Bồ Tát Hạnh. “Khi ba phẩm hạnh trên đầy đủ đương nhiên phát tâm dũng mãnh vào con đường tu Bồ Tát Hạnh. Vì sao? Vì hạnh Bồ Tát tùy căn mà trực hiện Bổn Lai Diện Mục nơi Bồ Tát. Khi Bồ Tát thực hiện ứng thân nơi Bồ Tát, Bồ Tát giả mê, như nhiên có phẩm hạnh đầy đủ, có uy nghi có những lời chánh đáng nằm sẵn tự tánh của Bồ Tát xuất ra không lệ thuộc giáo điều, nhưng không làm hại kinh pháp của Đức Thế Tôn hướng dẫn.” –TV Hạnh Bồ Tát là hạnh tự nguyện, trực hiện có nghĩa tự ý thức tu tánh, đào sâu tất cả nghiệp kiết sử trong thân mạng đặng trực giác thấy biết hóa giải vạn pháp. Không còn nặng cầu vái van xin. Nếu đã được chư Phật chứng minh thành đạo Bồ Tát cho dù có lai trần chưa đến thời kỳ trực giác gọi là Bồ Tát giả mê thì bậc này tuy thân còn nhỏ tuổi vẫn hàm chứa sẵn phẩm hạnh, vẫn có uy nghi của Bồ Tát. Đến đúng tuổi xưa bỗng trực hiện, Bồ Tát được trả lại không còn có vô minh che như chúng sanh. Nếu là Bồ Tát đúng nghĩa của chư Phật tạo dựng thì không còn có sai sót nào mà tần số ở dưới thấy biết được duy chỉ có Như Lai dạy cho Bồ Tát được mà thôi. Do đó ý nghĩ, lời nói, việc làm đều tự phát Tịnh Bất Tịnh cũng không sai, tất cả đều thừa hành chư Phật mà dạy cho tứ chúng cốt Giác Ngộ thôi. “Vì lời trực giác kia toàn lời thị hiện chư Phật nay Bồ Tát thừa hành nên phát lời nói ấy. Các ông chớ nên phê phán lời trực giác, tự giác nói ra, hoặc giả chấp nghi mà dừng trụ thời không bao giờ đến quả Bồ Đề. Nay Ta vì thương các ông để các ông khỏi tổn thương con đường tu đạt.” –TV Phật làm phàm phê, Bồ Tát làm phàm phê từ lâu vốn thường diễn. Nay Đức Long Hoa Tăng Chủ nhắc nhở những bậc tín tâm cầu giải thoát chớ nên chấp nghi, chớ nên phê phán chỉ trích, vì đức mỏng công năng lại kém xa Chư Bồ Tát, nếu chỉ trích bậc trực giác hàng Bồ Tát ắt bị tổn thương công đức rất lớn. Cần thận trọng bảo trì công đức mỏng manh của mình đã tạo trong việc tu hành nhiều đời, nhiều kiếp mà chưa được Chư Phật Chư Bồ Tát chứng minh. Thời Hạ Lai tôi đã chứng kiến một số bậc tu nghi chấp, vô tình phá pháp làm tổn hại Bồ Tát, hậu quả tai hại đến không lường hết được. Thế mới biết “Đức trọng quỷ thần kiêng” xưa nay vẫn bất diệt. “Ngài vừa nói đến đây thời trong hàng Thinh Văn, Duyên Giác cùng A La Hán chư Thiên đều đứng lên thưa gởi: - Bạch Đức Vương Phật chúng con đang đi trên đường này. Chúng con đang đứng trong đàng này, chúng con đang tu trên con đường này. Nếu chờ cho mãn kiếp, nếu chờ cho đúng thời, nếu đợi cho đến lúc, chưa đặng gặp Phật, chưa đặng gặp Đại Tăng thời mới làm sao tu cầu Chánh Giác? Xin nhờ Đức Phật Vương khai thị cứu giúp chúng con. Ngài liền phóng quang nơi pháp đảnh, tỉa ra chín dòng quang, nét mặt tươi đẹp vô cùng tận, nở nụ cười tựa như triệu nghìn hoa đàm xòe cánh. Ngài nói: - May thay! may thay: Các ông là những bậc gặp lúc, những bậc đang gieo căn duyên lành vô triệu kiếp bị lung lạc trong các lối đi, gặp bậc Thiện Tri Thức chỉ đường hướng dẫn thì làm sao lạc lối mà sợ sệt van xin? Ngài vừa nói đến đây tất cả vui mừng vô kể, đồng đảnh lễ, đồng chiêm ngưỡng, đồng ái kính chẳng khác cha lành cứu bầy con đói khổ. Các tuần Trời reo tiếng nhạc, các cõi Tiên trải hoa đầy đủ màu sắc, toàn là các giàn hoa quí nhất thảy đều trải đến cúng dường. Ngài lặng yên thọ ký công đức cho tất cả Ngài nói: - Các ông hãy nghe, các ông hãy thọ trì đọc tụng. Tứ Hạnh đồng đẳng như nhau, không lớn chẳng nhỏ, không cao chẳng thấp, bằng thiếu khuyết một trong tứ hạnh khó mà thành. Phải chăng các ông đã đặng sự đồng đẳng tu hành thực hiện tứ hạnh mà Giác Ngộ Chánh Giác chăng? Tất cả đảnh lễ thọ trì phụng hành kính bái.” –T.V. Hàng Thinh Văn, Duyên Giác, A La Hán còn gọi Bích Chi Phật, mỗi hạnh đang độ khổ, vừa giải khổ. Từ hàng Bồ Tát đến Đại Bồ Tát hành dụng, diệu dụng pháp khổ mới thực hiện được bốn hạnh trên đồng đẳng, đã đồng đẳng liền đúng thời gian, đúng vị trí nên pháp không lớn cũng chẳng nhỏ, không cao cũng chẳng thấp. Bậc chưa thực hiện được bốn hạnh, hoặc chưa thực hiện được đầy đủ chiều sâu khó hoàn mỹ Chánh Đẳng Chánh Giác. Bậc như vậy chưa đúng nghĩa Bồ Tát. Khi Đức Long Hoa Tăng Chủ Di Lạc Tôn Phật Hạ Lai kiếp này thành Phật, mỗi khi Ngài khai thị Phật Pháp tại bất cứ nơi đâu, ngoài chúng sanh, tứ chúng Pháp Tạng còn có các bậc ở Cõi Trời, Chư Thiên đồng giao cảm đến dự đông đủ. Trong lúc đó hàng Tăng Ni cùng bậc tu ở thế gian đâu có được duyên lành tham dự trong suốt 37 năm hành đạo của Ngài. Ngài cũng từng than thời Mạt Pháp này thật khó đắp xây./- 42. Tứ Thánh Bậc Trí Tăng biết thích quý lướt qua các trở lực, đặng cầu quả Vô Thượng. Bậc Phàm Tăng tránh né các trở lực đặng cầu quả Thanh Tịnh Tâm, đó là một điểm lầm truyền kiếp. –Vô Sư Kinh Hàng Tứ Thánh gồm có: • Hộ Pháp, Tầng Thánh Thứ Nhất. • Hộ Pháp Bồ Tát, Tầng Thánh Thứ Hai. • Bồ Tát thành tựu Bồ Tát, Tầng Thánh Thứ Ba. • Bồ Tát Ma Ha Tát nương bổn nguyện nhứt sanh bổn xứ thành Phật, Tầng Thánh Thứ Tư. • Hộ Pháp, Tầng Thánh Thứ Nhất. “Khởi điểm ban đầu. Tâm Chí Hộ Pháp, Tín Thành Hộ Pháp, Tự Nguyện Hộ Pháp. Dù cho Hộ Pháp bằng cách nào chăng vẫn đứng nơi thứ vị Chúng Sanh Hộ Pháp.” –T.V. Bậc Tâm Chí Hộ Pháp, Tín Thành Hộ Pháp, trải qua nhiều kiếp thông đạt Phật Pháp đến lúc tự thấy thích thú và tín thành giúp cho chúng sanh tu theo Đạo Phật. Thường những vị này chưa ý thức lìa cá tánh cá nhân. Những bậc Hộ Pháp khi gặp hoàn cảnh không nản chí, gặp lúc gay cấn gian nan tâm không thối chuyển huân tập như vậy gọi là Tự Nguyện Hộ Pháp, bậc này quyết chí lại không có gì ngăn cản được việc hành đạo giúp đời tạo đạo đức gọi là Hộ Pháp Bất Khả Tư Nghì. Nhiều kiếp Tự Nguyện Hộ Pháp như vậy đến một kiếp nào sung mãn công đức nơi Hộ Pháp, gặp đặng Phật ra đời hay Bồ Tát Ma Ha Tát chứng minh cho mới chính thức là Hộ Pháp. Nếu chưa có kiếp nào gặp Phật chứng minh thì còn ở hàng “Chúng Sanh Hộ Pháp”. Dù có giỏi đến đâu cũng vậy. Thế mới biết nhập thể vũ trụ tức nhập thể Như Lai Phật ở bậc Hộ Pháp không phải dễ! đối với Phật Đạo là như vậy, còn đối với đời dù có giỏi cũng phải chờ mở kỳ thi được thi đậu có cấp bằng tú tài I, tú tài II, cử nhân... mới chính thức công nhận bắt đầu vào các ngành ở Đại Học. Vậy nếu là Hộ Pháp, Bồ Tát phải có sự chứng minh của Phật mà vị Phật này phải được chứng minh từ Như Lai Trụ tức Đức Tịnh Vương Phật. Kỳ Hạ Lai này Đức Di Lạc Tôn Phật chứng minh lớp Hộ Pháp vòng trong Hội Thượng Long Hoa không quá 30 vị trong tổng số 3000 Chân Tử đã được ghi ở phần trước. • Hộ Pháp Bồ Tát, Tầng Thánh Thứ Hai. “Hộ Pháp Bồ Tát tu hạnh Bồ Tát, hành thâm pháp giới tận độ giới sanh thực hành hạnh nguyện cúng dường Như Lai Phật, lần tiến tu hành trải qua nhiều kiếp mới tu đạt Bồ Tát tự nguyện Bát Nhã, Bồ Tát Bất Khả Tư Nghì liền mới bước sang cương vị Ma Ha Tát gọi là Bồ Tát Ma Ha Tát.” –T.V. Tuy cùng tu trong một đạo tràng có đầy đủ tín chúng, Hộ Pháp nhưng hàng Tôn Giả vẫn được nâng đỡ dạy tu theo hạnh Bồ Tát. Hàng này phải sở đắc xong một trong ba phẩm: – Vô Sanh Pháp Nhẫn. – Bình Đẳng Tánh Trí. – Thực Tướng Vô Tướng Tam Muội Pháp Môn. Và phải Giác Ngộ đến Liễu Ngộ mới đủ công năng theo Hạnh Bồ Tát. Hàng Hộ Pháp Bồ Tát hằng ngày không rời tận độ chúng sanh tánh đặng thâm nhập tất cả pháp giới cốt cúng dường Như Lai Phật. Nhiều kiếp cúng dường Như Lai Phật đầy đủ tận độ tất cả chúng sanh tánh mới tu đạt Bồ Tát, lại ý thức quyết chí tu theo Bát Nhã, phải tự nguyện tu Bất Khả Tư Nghì tỷ như Pháp Sư Trần Huyền Trang đi thỉnh kinh, tỷ như đời Hạ Lai chịu sống nơi cay nghiệt, nơi không có đạo lý, đạo đức, vạn cảnh đều bế tắc như sống trong lửa ngục dần dần hóa giải tháo gỡ không còn mắc miếu được tỏ thông. Nếu hàng Tôn Giả tránh né vạn pháp, chưa tu sạch chúng sanh tánh chưa tròn hạnh tiến lên Bồ Tát. Đến kiếp nào thực hiện Hữu Tướng Phi Tướng dung thông, sạch sẽ cũng phải chờ Bồ Tát Ma Ha Tát hoặc bậc Nhứt Sanh Bổ Xứ thành Phật chứng minh cho mới được vào hàng Bồ Tát. • Bồ Tát thành tựu Bồ Tát, Tầng Thánh Thứ Ba. “Từ Bồ Tát Ma Ha Tát gọi là Đại Bồ Tát trải qua Bất Thối Bồ Tát thành tựu công đức sung mãn vào hàng Đại Bồ Tát.” –T.V. Trong thời Đức Di Lạc hành đạo, có vị Hộ Pháp Bồ Tát và vị Bồ Tát chưa sở đắc Cửu Phẩm Liên Hoa nên không được Ngài chứng minh vào hàng Bồ Tát thi hành Ma Ha Tát. Trong Cửu Phẩm Liên Hoa Bồ Tát đúng nghĩa Chư Phật phải biết từ phẩm thứ nhất đến phẩm thứ chín là những phẩm gì. Tự giác sẽ biết rất nhẹ cảm chứ không y kinh giáo điều. Phẩm thứ chín là Vô Thượng Đẳng Chánh Giác. Nếu xưng Bồ Tát phải biết đúng đường đi theo vết chân Chư Bồ Tát quá khứ, đúng theo thứ tự từng bước một mới gọi là Thực Chứng Vô thượng Đẳng, Vô Thượng Sư. Nếu không tự giác được thứ tự chín phẩm thì đó là Vô Thượng Đẳng, Vô Thượng Sư học thuyết, giả thuyết chứ không có thực chứng. Trong Pháp Tạng đã xảy ra một trường hợp tự xưng Vô Thượng Đẳng không được Ngài công nhận, không được chứng minh hàng Hộ Pháp. Cái ngộ của giả thuyết thật lầm lẫn truyền kiếp. Thường những bậc này dễ bị lầm phải hành thâm pháp giới bá thiên vạn lần mới thực chứng Vô Thượng Đẳng, Vô Thượng Sư. Lầm giả thuyết, học thuyết xưng Phật bị Phật Giới thời Hạ Lai này vô kể. Lại định tưởng cho có thần thông làm chúng sanh bị lầm, bậc tu bị chấp do không tỏ rõ ngọn ngành đường đi nước bước của Bồ Tát. Như Ngài dạy: Đắc Vô Thượng Đẳng Chánh Giác do Đức Bổn Sư thọ ký từ Bồ Tát đến nay 2538 năm Phật Lịch Đức Di Lạc mới thành tựu Phật Quả. Lời nói mới đại diện Tam Thế mới hiện thực. Khi được Chư Phật chứng minh Bồ Tát, bậc này mới hạnh nguyện Bồ Tát Ma Ha Tát được. Bồ Tát Ma Ha Tát còn gọi là Đại Bồ Tát bậc này qua được tất cả trở lực cực kỳ khó khăn, cực kỳ bi đát, không nản chí, không bỏ dở hạnh nguyện mới sung mãn công đức cúng dường Như Lai vào hàng Đại Bồ Tát. • Bồ Tát Ma Ha Tát, Tầng Thánh Thứ Tư. “Nhất Sanh Bổn Xứ thành Phật. Trong bốn thời của hàng Tứ Thánh, thật dài dặn, trải qua vô lượng kiếp, vô lượng công đức, vô lượng phẩm cúng dường Như Lai, cúng dường chư Phật mới thành Phật, chớ nào phải tu một kiếp mà trưởng thành đâu. Sự trở thành trong một kiếp, nó đã có sẵn gieo trồng, có sẵn đầy đủ ngày nay mới tu đạt Chánh Giác.” –T.V. Đến đây chư vị hãy chiêm bái Đức Di Lạc kỳ Hạ Lai này Nhất Sanh Bổn Xứ thành Phật. Thế là 2500 đã đến. Long Hoa Tăng Chủ Di Lạc Tôn Phật đã hoàn mãn Diệu Quả Bồ Đề ở thời kỷ nguyên nguyên tử này tại nơi dầu sôi lửa bỏng, quả là một chứ không hai. Sự tê liệt, không vận chuyển được vạn pháp trong lửa chớ vội xưng Phật dù có Đắc Vô Thượng cũng bị lầm do Ngã, Ngã Sở mà bị thọ chấp thật uổng phí sự tu hành. Thành vị A La Hán thời Mạt Kiếp cũng đã là khó, còn nói chi Bồ Tát, còn Phật lại quá ư kín nhiệm, quá ư tuyệt mỹ đâu có tầm thường suy nghĩ loạn mà vẫn xưng Phật thật tội lỗi./- 43. Khai-Thị sàng lọc chọn Hộ Pháp, Tôn Giả, Bồ Tát Ngài khai đạo từ năm 1957, khai thị Phật Pháp, truyền Thiền, nương chiều tứ chúng vào tu tập đông tới 3000 Chân Tử. Sau đó bắt đầu từ năm 1974 Ngài ấn quyết mở khoa thi bằng cách dụng Hữu-Tướng cùng Phi-Tướng nghịch hành còn gọi là Pháp Tịnh cùng Bất-Tịnh. Dần dần, đến năm 1976 toàn thể trong Long Hoa hội chân tử nào cũng biết Ngài có vợ bé là người Chân Tử trong đạo. Lúc này đã lộ rõ số Chân Tử chướng đối và nghi chấp bỏ đạo gần hết, chỉ vọn vẹn kiểm lại không quá mười (10) Chân Phật Tử. Ngài viết Ấn Chỉ III khai thị những bậc tu và lưu lại mai sau cho hàng Bồ Tát, Tôn Giả, Hộ Pháp cần biết nhận định lý nghe quá nhiều, học quá nhiều, nghiên cứu Tam Tạng Kinh không thiếu sót nhưng phải thực hành không đối chướng, lìa chấp, tu hành theo pháp môn Vô Lượng, Vô Biên, Vô Ngã... mới mong đến bờ Chánh Giác. Luôn luôn dụng pháp ghi nhớ không được quên gọi là niệm niệm hai chữ HỶ – XẢ cho sạch sẽ mới từ Đại Thừa bước vào Nhứt Thừa được./- Hình ảnh căn gác gỗ đường Núi-Một Nha-Trang. Sau khi Đức Ngài mở Pháp Bất Tịnh, Ngài đã ở đây với người Thị Giả trợ duyên –vợ bé– để Ngài mở khoa thi hay còn là Pháp Tri Kiến Phật cho nhân sinh thời này cũng như muôn đời sau. Ngài đã từng thốt lên "Dù Nhân Sinh có bạc đãi Ta, Ta vẫn đưa con người đi Giác Ngộ." Hình ảnh lấy ra từ phim tư liệu Pháp Tạng năm 2009. Tình trạng căn gác gỗ vẫn còn y như ngày vào những năm 70, 80 lúc Ngài ở đó. \ 44. Ấn Chỉ III: Đồng Hoá Nhân Sinh, Dưới Sự Nhận Định Bất Đồng “Bàn về sự nhận định, phần nhiều hay bất đồng tự sanh khắc biệt, do lẽ ấy rất hiếm có sự đồng đặng hóa ra tri kỷ. Tại sao có những sự nhận định thường bất đồng như thế? –Vì nơi nhận định nó phải tùy thuộc vào trình độ đồng nhau, tùy theo hoàn cảnh tương sanh giai cấp chẳng dị biệt. Nếu như đa số Nhân Sinh thuộc với nhau một trình độ hoặc giả đã từng chung sống nhau một hoàn cảnh tương tự hòa hiệp cùng nhau, liền trưởng thành một khối. Bằng mỗi một con người riêng định tự nhận lấy mình, thì thuộc về nhân cách nhận định.” –T.V. Người thế gian khi nghe thấy khác ý mình liền chướng, do cá nhân cá tánh sinh chướng đối. Đó chính là thường tình. Học làm Thánh phải biết hướng thượng lại biết nương vào vạn pháp để cầu lấy giải thoát. Phải tập khi nghe thấy khác ý liền hỷ xả, xem xét những chướng đối bộc phát từ trong thân mạng mình mà kiềm chế, ngự chế. Nếu cùng trình độ cầu Giác, cùng hoàn cảnh gay cấn phải quyết tâm hỷ xả để không chướng đối. Chừng đó đồng ứng với bậc Thánh Tăng liền được đồng hóa theo bậc đó sẽ có lợi vô kể. DƯỚI SỰ NHẬN ĐỊNH BẤT ĐỒNG. “Bởi duyên như thế Phật Đạo mới phân định thành Bốn Lối nhận định trở thành dị chủng bất đồng. Lối thứ nhất là Nhân Sanh Trí. Lối thứ hai là Tiên Thần Trí. Lối thứ ba Là Bồ Tát Trí. Lối thứ tư là Phật Trí.” –T.V. Do có sự bất đồng nên Phật Đạo phân định thành bốn trí: - Nhân Sanh Trí: Còn gọi là chúng sanh trí, đã là chúng sanh phải có hình tướng, có sắc mới thấy biết. Không có hình tướng chúng sanh không thấy biết. - Tiên Thần Trí: Sống nhờ tư tưởng, lại công dụng Định Tưởng để luyện thần thông. Quan sát vũ trụ cùng dùng Định Tưởng thu nhận Tinh Khí Thần để nuôi thân sống lâu lại xa lánh chốn phàm phu, đó là sự sai lầm. – Thiên Trí dùng uy quyền làm lẽ sống thường bậc này thông minh. - Bồ Tát Trí: Hạnh nguyện thâm nhập tất cả pháp giới như Nhân Sanh Trí, Tiên Thần Trí để cầu Đại Trí. Tận độ chúng sanh tánh được linh động, tâm trí tinh hoa biết hành dụng vạn pháp sau biết diệu dụng thông đạt Như Lai Tạng đặng chứng tri Phật Trí. - Phật Trí: Chỉ có Chư Phật mới giải tận tường mà thôi. Vì hành dụng nên hàng Bồ Tát sống chung với chúng sanh không bị nhiễm nên gọi gần phàm không mất Thánh Ý, lại có Đại Trí tùy thuận cứu độ chúng sanh giờ phút trước giờ phút sau linh động không hề có bị biết, không y kinh nhưng chẳng ly kinh nên lúc nào dụng Trí đều đúng. Hàng Bồ Tát Trí lúc nào cũng niệm niệm cổi giải tâm mắc miếu trước hoàn cảnh để hiện giác. Đó là đường đi duy nhất. “Khi bậc đoạt đến Vô Thượng Chánh Giác thành Phật thì từ lời nói, đến cử chỉ thảy đều Diệu Dụng, thảy đều Diệu Pháp Liên Hoa Phật Trí. Bậc này từ nơi Phật Trí quán xuyến tổng trì soi khắp từ hàng Bồ Tát cho đến hàng Nhị Thừa A La Hán, Bích Chi cùng Thinh Văn, Duyên Giác đến Phàm Phu Nhân Thế. Bậc Phật Trí có thể soi từ trên xuống dưới, từ trong ra ngoài vì bậc này thật tỏ rõ tất cả Chủng Tánh Chúng Sanh, Chủng Tánh Bồ Tát nên đắc Phật Quả triệt thấu tất cả từng thứ lớp của các hàng nhận định thọ chấp ra sao, chánh báo thọ báo của nó như thế nào không còn vướng đọng nên hoàn toàn giải thoát.”–T.V. Bồ Tát Di Lạc đã Hạ Lai thời Mạt Pháp này đoạt Diệu Quả Vô Thượng thành Phật nên phải dụng Hữu-Tướng, Phi-Tướng thuộc Pháp Tịnh, Bất-Tịnh dung thông cốt đánh thức tánh tình của tất cả Chân Tử đúng thời điểm 1975 xã hội Việt Nam đang hỗn loạn, thế giới cũng lo thế chiến. Ngài dùng Phật Trí quán xét thấy biết Như Lai Tạng cũng đang vận chuyển hỗn loạn. Đây là lúc đúng thời điểm dụng Phi Tướng để đoạt Phật Quả. Với Đức Tăng Chủ, Ngài đã được Tứ Chúng kính ái, chiêm ngưỡng thế mà Ngài vứt bỏ quyết thực hiện lìa Ngã, Ngã Sở. Từ lời nói đến hành động ân ái với vợ bé cốt yếu phô diễn cho tất cả bậc tu theo Ngài nghe, thấy tổng quát hoặc chi tiết tùy bậc tin sâu, tin cạn làm cho họ không chướng bằng sự. Đến lúc nhận được là Hoa Pháp Tánh đã Diệu liền tỏ “DIỆU PHÁP LIÊN HOA” sống động thực tế trong đời chứ không còn tụng đọc cầu xin van vái mà mắt không thấy tai không nghe Diệu Pháp Liên Hoa. Bậc Chánh Giác tùy thời có Phật Trí nhìn được Như Lai Tạng mà vận chuyển để mở Diệu Pháp Liên Hoa mới đoạt Phật Quả. Ngài nhìn tận tường Như Lai Nhãn Tạng soi khắp, thấu đáo tất cả bậc tu. Có bậc thích thú hoan hỷ vẫn theo Ngài, hộ trì khi diễn cảnh hỗn loạn đến với Ngài. Có bậc hướng thượng đứng yên, có bậc thấy khó chịu nhưng vẫn tin theo, có bậc bất đồng bỏ đi không tin, có bậc chống đối cho là chuyện súc sanh bậy bạ. Từ đó Ngài phân định và triệt thấu lớp lớp nên bậc này được ở gần, bậc này phải có pháp mới được đến, có bậc không cho nghe thấy, hoặc không được gặp Ngài. Ngài tận tường lớp lớp chúng sanh giới, Thinh Văn Hạnh, Duyên Giác Hạnh, La Hán Hạnh, Bồ Tát Hạnh đến Phật Quả tức Diệu Quả Bồ Đề. “Nói đến các Nhân Sinh từ dưới soi tỏ lên trên thật khó khăn vô kể, phải nương vào công đức của Như Lai, nhờ công đức ấy mới lần soi tỏ tánh, lần bước giải mê, chớ đương nhiên nhận định chỉ trích bừa bãi gọi là: Phật Làm Phàm Phê. Cho nên Phật nói, Các ông cũng nên biết: Nhân Sinh không thể nào soi biết đặng Tiên Thần Trí, Tiên Thần không thể hiểu đặng các bậc Nhị Thừa A La Hán, Bích Chi, Thinh Văn, Duyên Giác Trí. Hàng Nhị Thừa không thể nào soi hiểu Bồ Tát Trí. Bồ Tát không bao giờ biết đặng chư Phật, phải thi hành hạnh nguyện cầu lấy Chánh Tri thành Phật.” –T.V. Chúng sanh không thể nào biết được việc làm của Tiên Thần Trí. Tiên Thần không thể nào hiểu đặng trí của hàng Nhị Thừa A La Hán - Bích Chi - Thinh Văn - Duyên Giác. Hàng Nhị Thừa không thể nào hiểu được Bồ Tát Trí. Bồ Tát không thể biết được Phật Trí. Thật khó khăn vô kể. Đó là căn bệnh truyền kiếp. Vì vậy, do mê lầm mà bậc dưới thường chỉ trích, phê phán việc làm của Bồ Tát cùng chư Phật gọi là Phật làm phàm phê. Hỷ xả để hồi hướng công đức Như Lai, chướng đối không còn nghi chấp lướt qua được đến lúc đầy đủ bỗng trực giác được thoát khỏi Nhân Sanh Trí. Do đó Ngài đã khai con đường Giác Trí cho bậc tu thời Mạt Pháp nhưng rất ít bậc nhận lãnh được. Đa số phê bình, chỉ trích nên không tỏ rõ lối tu giải thoát là thế nào. “Sự nhận định bất đồng là do trình độ hiểu biết chưa rốt ráo, khi hiểu biết chưa tường tận rốt ráo thường hay thủ chấp. Lúc đã tường tận hiểu biết đến thật tỏ rõ gọi là Giác, bậc Giác thường rõ ràng từng căn cơ, từng trình độ, từng ý mong muốn của con người, của Tiên Thần cùng các hàng tu chứng hoặc chưa đến mức tu chứng nơi Lục Đạo. Bậc Diệu Dụng Phật Trí minh xác tường tận, không khác mấy vị Đại Lương Y thật biết tính dược các món thuốc, lại thật rõ ràng chứng bệnh của các con bệnh mà chữa trị, nên chi bậc này đứng trước Nhân Sanh hay A La Hán đến Tiên Thần bất luận cấp bậc nào trình độ chi vẫn làm cho họ khỏi khắc biệt được vui vẻ an lành đồng đẳng, bậc này lại tùy theo thời cơ tùy thuận tất cả ý chí Chúng Sanh Giới mà Thị Hiện từ cử chỉ đến ngôn ngữ đồng hợp, đồng hóa Chúng Sanh, bậc đã thực hành như thế cử chỉ như vậy đều là Diệu Dụng.” –T.V. Bậc Chánh Giác nhìn chung thời Mạt Pháp này, đến nay là năm 2539 năm Phật Lịch trong Long Hoa hội Chư Tổ, Chư Hộ Pháp thời quá khứ đã qui tụ về đầy đủ, căn tánh cầu đạo nhiệt thành nên phải trắc nghiệm mới phân định được thực hư. Ngài liền diệu dụng nghịch hành, tất cả tứ chúng đều ngỡ ngàng hiện rõ sự tu hành chọn thanh bỏ thô, chọn sạch bỏ dơ, chọn tiếng thơm khen tặng, tránh chê bai, bác bỏ. Hầu hết chín phần mười bậc tu trong Long Hoa đều ưa thích Tịnh bỏ Bất Tịnh trở thành Tịnh Biệt truyền kiếp, không tiến đến con đường Chư Bồ Tát được. Dần dần từ cử chỉ, lời thuyết giảng Ngài lựa từng căn bệnh nghi chấp của số chân tử tín tâm mà thị hiện làm cho họ tỉnh trí, sau nhận được mới phát sinh trí tuệ mà tỏ thông Tri Kiến Phật, có bậc Phật Tri Kiến đến Chánh Giác. Ngài diệu dụng nghịch hành làm cho nhân sinh ở Nha Trang hầu hết chê bai, cho là tà đạo, còn số ít chân tử Ngài vẫn theo hộ trì. Họ đã thực hiện không chấp, không chướng khi đối cảnh diễn hỗn loạn. Ngài nhận thấy trình độ chúng sanh là phải vậy không hơn được. Nếu có chúng sanh nào không chấp, không chướng liền đồng Chư Tổ, Chư Hộ Pháp thời xưa. Nhưng trình độ Nhân Sanh Trí khó tìm được vị nào có tâm từ, hỷ xả vui vẻ với các bậc trong đạo tràng. “Tất cả sự nhận định bất đồng, chính là một vấn đề khó khăn làm cho hợp hóa. Có thể nói những bậc tu hành chưa sở đắc Bản Thể Tâm rốt ráo tỷ mỉ tường tận, tỷ như thời Đức Phật còn tại thế, Chư Bồ Tát được sự nuôi dưỡng chỉ dạy của Ngài, Chư Bồ Tát vẫn bị lầm lẫn nhận định đúng sai sai đúng, lúc bấy giờ có ngài Duy Ma thị hiện trưởng giả hóa giải chấp mê thì thử hỏi thời này là thời Lạc Pháp mấy ai nhận định đúng đắn?” –T.V. Ngài ra đời trong thời Lạc Pháp cốt yếu khai đạo nâng bậc tu cao hơn con người, nếu tánh bị nhiễm độc lại tự cao tự mãn còn thua con người hiền lành thời làm sao gỡ độc nhiễm để cao hơn Nhân Sanh Trí. Ngài phải tạo pháp nghịch hành, phô bày cho bậc tu nương theo vết chân Bồ Tát biết hướng thượng thực tiễn diễn cảnh trước mắt làm cho tâm chí chúng sanh biết cần phải sửa tánh, biết điều ngự tánh, đặng giải nghiệp nặng nề về sau trưởng thành sở đắc Bản Thể Tâm. Bậc bất đồng chướng đối việc diệu dụng của Ngài làm cho không đồng hợp nên vô cùng khó đồng hóa trưởng thành Thánh Nhân, Thánh Thiên. Tứ chúng thời Đức Bổn Sư Thích Ca Mâu Ni Phật cũng y tâm trạng bất đồng nên 1250 vị chỉ có sở đắc 10 vị Tôn Giả và vài Bồ Tát tại thế được chứng minh. “Vì nơi nhận định bất đồng sai biệt nên bậc Chánh Giác nói ra kẻ mê lầm nào hiểu, cho nên kẻ mê lầm phải tu trì tạo công đức thi hành Lục Ba La Mật có công năng mới lãnh hội đặng lời nói của Phật một phần nào, do lẽ khó nghe, khó hiểu nên chi Phật nói: Chúng Sanh Chưa Bao Giờ Xem Kinh. Lời nói trên như thế, trái lại Chúng Sanh Nhân Trí đã từng đọc tụng thuộc kinh thật vi diệu thay. Nói đến sự nghe lầm nhận như: Thời Đức Bồ Đề Đạt Ma từ Tây Tạng sang Trung Quốc gặp vua Lương Võ Đế, nhà vua thì Nhân Trí nên công nhận mình là vua. Còn Tổ thời Phật Trí biết thật rõ nếu nhà vua cầu Đạo. Ngài khai thị sở đắc tùy theo mức độ mà thọ lãnh thành Phật hay Bồ Tát cùng A La Hán chẳng hạn, do hai lối nhận định thành thử bất đồng khác biệt nhau.” –T.V. Như đã trình bày phần trước (vua Lương Võ Đế và Tổ Bồ Đề) về hành sự Tổ nằm ở chữ Không, còn về lý ở Nhứt Thừa nên lời nói của Tổ vua không hiểu phải sinh ra bất đồng. Khi bậc tu dù lâu đời vẫn còn thấy nghịch sinh chướng, liền có bất đồng, sai biệt không hiểu việc làm của chư Phật nên còn mê lầm. Phải tu sửa tánh tạo công đức, thi hành Lục Ba La Mật Đa, đến thời có đủ công năng không còn đối chướng mới nhận lãnh một phần lời dạy của chư Phật. Bậc không tu sửa, bất đồng chướng đối còn dẫy đầy, dù có đọc tụng thiên vạn quyển kinh, Phật vẫn bảo chưa bao giờ xem kinh là như thế. “Nhà vua mới hỏi: Ông biết tôi là ai chăng? Tổ trả lời: Không. Làm cho nhà vua chẳng tin Tổ là Phật khi chưa nhận định được thời nơi tưởng niệm chẳng còn, nhưng nhà vua hỏi tiếp: Thưa Ngài tôi xây dựng trên bốn vạn tám ngàn (48.000) Chùa Tháp để cho tất cả Tăng Ni trong nước tu hành có công đức chăng? Tổ trả lời: Không. Vua Lương Võ Đế bất bình, Tổ phải ẩn danh quay mặt vào vách chín năm không truyền đạo. Tại sao Tổ Đạt Ma Trả lời không công đức? Vì đối với Nhất Tôn Phật Thừa chính mình phải tu, tự nơi mình tạo công đức mới là Công Đức. Bằng xây cất Chùa Tháp để cho tất cả tu hành, chính mình chưa lấy một ngày tu chưa phải Công Đức, chỉ tu cầu Phước Nhân Thiên nên Tổ trả lời Không.” –T.V. Tâm chí sẵn có, vua tin Tổ là Phật nhưng khi gặp câu trả lời Đốn Giáo của Tổ, vua không nhận định được, từ đó tư tưởng không còn tin Tổ là Phật nữa nên phát sinh chướng đối bất đồng. Sự bất đồng thời nào cũng sẵn có ở chúng sanh, nhất là bậc tu cầu Phước Báo Nhân Thiên, khó lãnh hội được chân lý Nhứt Thừa. “Sự Diệu Dụng của Chư Phật đối với bậc Sơ Trụ Bồ Tát cũng khó hiểu đặng làm sao hàng Nhị Thừa đến Nhân Trí biết đặng. Nên Đức Bổn Sư Ngài thường nhập Chánh Định, Ngài biết tỉ mỉ các hàng Bồ Tát cùng trình độ các Tín Chúng đang suy nghĩ mỗi bậc một lý lẽ, mỗi người nhận định mỗi khác nhau, có từng người nhận định như thế này cho mình là đúng. Có bậc nhận định như thế nọ cùng thế kia hoặc thế khác, thảy đều đúng đắn với công năng khả năng của thứ bậc họ.” –T.V. Chư Phật chỉ có một thừa duy nhứt là Tối Thượng Thừa, một pháp môn duy nhất là Vô Thượng Chánh Giác nhưng chư vị Bồ Tát cùng A La Hán, Bích Chi, Duyên Giác, Thinh Văn, Tiên Thần, cho đến chúng sanh mỗi lớp, mỗi bậc tu có một nhận định khác nhau, nên có lý lẽ tu khác nhau. Đức Bổn Sư biết tỷ mỉ nên tùy trường hợp Ngài khai thị mỗi lớp một phương tiện trở thành Đại Phương Tiện khai ngộ cho Tứ Chúng. Thời Hạ lai này cũng vậy. Đức Long Hoa Tăng Chủ cũng tường tận lớp lớp trong Tứ Chúng cùng chúng sanh. Ngài dụng đủ phương tiện khai thị cho chẳng thiếu sót trong 37 năm. Có bậc căn cơ sâu dày nhận lãnh được Chân Lý thi hành thấu đạt, cũng lắm bậc nghe xong để đó trở thành Lý không Sự, nhiều bậc nói giỏi mà thi hành thì thất bại do nghiệp lực không qua nổi. “Ngài bèn nói: Các ông nên biết, ngày nay các ông nhận định như thế này là đúng, thì nơi chỗ đúng ấy nó thuộc về ngày nay, chớ chưa phải ngày mai nó đúng. Đến mai kia mốt nọ, nó vẫn đúng nhưng nó đúng với mai kia mốt nọ chớ chưa hẳn đúng hoàn toàn với Chân Giác. Do đó, các ông phải tu tập lần qua rất nhiều giai đoạn, rất lắm bờ ngăn đoạt đến toàn diện rốt ráo Phật Trí nhận định chân thật đúng đắn.”–T.V. Thời Đức Bổn Sư, Ngài khai mở Chân Lý cho Tứ Chúng áp dụng tu hành, đến nay 2500 Phật Lịch chân lý ấy vẫn đúng, nhưng Đại Phương Tiện áp dụng cho thời Hạ Lai này phải đổi mới. Vì sao? Vì Như Lai Tạng chuyển mình trong thời đại văn minh khoa học quá mức. Bậc Chánh Giác như Đức Di Lạc Tôn Phật đã có Như Lai Nhãn Tạng nên thấy phải đến lúc làm cho tất cả nhận được Hoa Pháp Tánh hỗn loạn phô diễn để Giác Ngộ, làm cho tất cả nhận định được cái đúng ngày hôm qua chưa phải ngày hôm nay nó đúng. Từ đó trực giác được không còn bị biết mới đi đến viên dung sở đắc hoàn toàn đến Chánh Giác. Do đó Ngài chuyển mình cho Tăng Ni Pháp Tạng theo Cư Nhân Hạnh cho đúng Như Lai Tạng trổ hình. Đã Cư Nhân Hạnh thì gia đình phải có bối cảnh hỗn loạn, Hoa Pháp Tánh trổ để bậc tu hóa giải, Ngài nương theo chỉ đạo bậc tín tâm đến Chân Tôn. Những bậc không tin, nghi chấp, chướng đối không theo kịp ngón tay Ngài chỉ Như Lai Tạng chuyển mình đều bị đứng yên, coi như bị thi rớt dù ở trong Long Hoa Hội. “Kể theo câu chuyện dưới đây để biết đặng sự nhận định Phật Trí Chánh Giác, rất khó khăn vô kể, chỉ có đầy đủ công năng tu tập mới nhận định đặng lý thú kỳ diệu, bằng dùng Nhân Trí không thể nào rõ đặng. Có vị Thiền Sư tu đoạt Chánh Giác Phật Trí quan sát trùm khắp biết tỏ rõ, nhận định đúng đắn các hàng tu chứng thứ lớp, Thiền Sư tự nghĩ thật khó khăn làm thể nào cho họ nhận định đúng đắn đồng nhau cốt hóa giải lầm lẫn nơi họ làm cho họ đặng Chánh Giác. "Khi bấy giờ Thiền Sư thường tĩnh tọa an lành các pháp làm nơi an dưỡng quốc chờ ngày nhập Bát Đại Niết Bàn vì thật biết thời này chưa phải là thời hóa độ nhiều. Vì Sao? Vì chúng sanh đang sinh sống gặp phải thời an lành thích hợp, nên khó tu, khó có bậc phát tâm tu cầu Giải Thoát, chờ đến thời Đông Độ chúng sanh nhiều ý nghĩ, nhiều tham vọng nghiệp cấu vạn pháp linh động Hành Dụng Như Lai chuyển mình, mới có thể hóa sanh đồng độ, vì duyên trên nên Thiền Sư tận dụng hư không an dưỡng quốc.” –T.V. Tâm sự của Thiền Sư tu đoạt Chánh Giác Phật Trí cũng thấy quá khó làm cho chúng sanh nhận được thế nào là Chân Pháp đặng hóa giải cho họ hết lầm lẫn. Phải chờ cơ hội đến lúc Hành Dụng Như Lai chuyển mình, các pháp động loạn, chúng sanh gặp lúc cuộc sống khó khăn mới nảy sanh tham muốn, lúc này mới dụng pháp đồng độ được, làm cho chúng sanh Giác Ngộ, vì khi chúng sanh còn cuộc sống sung túc, xã hội an lành không ai nghĩ đến việc tu cầu Giác Ngộ. “Một hôm có vị văn hào đã từng nghiên cứu kinh điển thành thật thiết tha tu tập tìm tòi Chân Lý đến bái kiến Thiền Sư thưa gởi: Kính thưa Thiền Sư, mong Thiền Sư chỉ dạy Đến Rõ, Biết Rõ Chân Giác Chánh Giác thưa gởi xong đứng lại một bên. Thiền Sư mỉm cười đáp: Ông cứ tu cứ tìm, bây giờ Ta nói ông liền chửi Ta. Nói xong Thiền Sư tĩnh tọa, vị văn hào ra về, đến 20 năm về sau, nhà văn hào tu tĩnh tọa vừa nâng chung trà liền đánh rơi, tiếng khua chung trà Trực Giác. Nhà văn hào đứng lên quay mặt về phía Thiền Sư đảnh lễ, thật vi diệu, thực khó nhận, nếu nhận được Trực Giác thời chẳng có chi bằng.” –TV “...Ông cứ tu, cứ tìm, bây giờ Ta nói ông liền chửi Ta...” Vậy cầu Chánh Giác có đặc điểm gì mà khi khai cho bậc cầu đạo phải chửi lại? Thật ra Bậc Chánh Giác hành thực tiễn cho Bậc Tín Tâm nhận được Vô Ngã, Vô Sở Hữu. ◊ Vô Ngã: Tỷ như bậc Chánh Giác đánh đuổi ông ra khỏi đường tu, khai trừ ông ra khỏi đạo chúng. Nếu ông còn cái TA hư dối ắt không chịu nổi liền chửi lại... ◊ Vô Sở Hữu: Người đời ai cũng say mê giữ gìn ba thứ: Vật chất - danh vọng - tình yêu. Những thứ đó ai cũng lo xây đắp bảo vệ. Nếu là tâm chí chúng sanh vào tu cầu Giác Ngộ, Bậc Thiện Tri Thức giỏi như đại lương y sẽ Diệu Dụng nghịch pháp một trong ba thứ. Nếu hoan hỷ hướng thượng, ông sẽ Giác Ngộ đến Liễu Ngộ. – Nếu cầu Chánh Giác, ông được Bậc Thiện Tri Thức diệu dụng bất tịnh cả ba. Nếu hướng thượng, tận độ chúng sanh tánh ông sẽ Chánh Giác. Phải sự sự chớ không nói lý. Thiền Sư không mở cho văn hào vì vị này chưa đủ TIN VÂNG KÍNH. Thứ hai vị này tu: học, nghiên cứu, chớ không tu sửa tánh nên không thể khai mở được. Nếu mất danh dự văn hào sẽ chửi lại do không tu sửa tánh nên mở cho rất nguy hại. Gặp bậc có chức quyền còn có thể giết hại Bậc Thiện Tri Thức Chánh Giác nữa. Chỉ có Đốn mới Ngộ. Có Đốn mới Nghi. Giải Nghi sẽ Ngộ. √ Không nghi không ngộ. √ Tiểu nghi tiểu ngộ. √ Đại nghi đại ngộ. Bậc cầu Giác Ngộ phải nhẫn nhục, nhẫn nhịn, nhẫn nại cốt điều ngự chúng sanh tánh trở thành Điều Ngự Trượng Phu mới sạch chúng sanh tánh. Kẻ ngu xuẩn thấy chân tử cầu Chánh Giác bị khai trừ do diệu dụng vội vui mừng chê bai. Kẻ xuẩn này tu vô lượng kiếp cũng uổng phí công tu mà thôi. Cũng chẳng khác kẻ vào tu, lại không chịu tu lại đi ĐÒI NỢ Bậc Chánh Giác ban cho Phước Báo Nhân Thiên để hưởng sung sướng. Chính vì vậy mà nhà văn hào phải lần theo vết chân của học trò Thiền Sư sau về lo tu sửa tánh, tự tánh tỏ tánh nương vạn pháp thực hiện dung thông. Đến lúc sung mãn công đức cúng dường Như Lai, công năng xuất thế mới trực ngộ khi đánh rơi chén trà. Lúc đó đã 20 năm dài! Thiền Sư tuổi già không còn ở thế gian nữa. Nhà văn hào hối hận vì không còn Bậc Chánh Giác để đảnh lễ tri ân nên quay về hướng Bậc Chánh Giác thi lễ tạ ơn về sự giác ngộ của mình. Nếu nhà văn hào đừng chấp cái học, sinh ngã mạn, không háo danh, vô sở hữu thì chỉ một lời khai thị của Bậc Chánh Giác liền Giác Ngộ, chớ đâu phải đợi đến 20 năm sau. Đương Thời Hạ Lai Mạt Pháp nầy: “Tất cả nhân sinh tứ loài lạc lối tu hành, thất chân truyền bảo pháp, làm cho chưa biết nhận định đường lối để tu, cho nên tu theo nhu cầu ý muốn đem lý trí Nhân Sinh khảo cứu với bộ óc Nhân Trí huyễn hóa, thêm vào đó sự ước mơ thèm khát, càng mong tìm con đường Tri Kiến Giải Thoát bao nhiêu càng thọ ngã bấy nhiêu, chỉ vì thời Cấu Tạo phát sanh tư tưởng quá nhiều trở thành Lý Chướng, Sự Chướng. Do đó, mà ưa thích tu học những pháp môn nào Không Tu Mà Chứng, chưa thực hành, chẳng thực tu mà mong mỏi thâm nhập vi diệu Chánh Giác, hiếm bậc lần nơi Chơn Tánh để tu, có bậc tu nơi chơn tánh lại chưa tu Tận Giác. Kể từ hàng Phật Tử đến các nhà tu Tiên thảy đều bị vướng víu sống nơi kỳ ảo mộng mị sưu tầm, chưa mấy bậc đã từng nương vào Diệu Dụng, Hành Dụng cốt thâm nhập Pháp Giới. Vì vậy cho nên đem lời Chánh Giác Phật dạy đặt trong vọng đảo Nhân Sanh Trí mong mỏi Phật ra đời theo lòng ham muốn.” –T.V. Đối với Đức Long Hoa Tăng Chủ, Bậc Vô Thượng Chân Tôn đương thời Hạ Lai Mạt Pháp này, Ngài đã chứng kiến tường tận số đông tu lạc pháp chưa nhận định đúng đường lối tu Giác Ngộ, thịnh hành nhất tu theo ý muốn ưa thích. Nếu bậc nào có tâm tu cầu Tri Kiến Giải Thoát lại vương mang nghiệp cái Ta thọ ngã quá lớn. Chư Bồ Tát Chư Phật có tâm đến gần chỉnh trang cho tu sửa không sao cứu độ được. Đâu đâu cũng nặng sắc tướng âm thanh, cầu vái van xin, không hề chú tâm tu sửa trở thành tu nơi kỳ vọng, ảo tưởng trong chiêm bao. Sự Diệu Dụng của Ngài cốt chờ một Tăng Ni đến cũng không có. Có số mong chờ Long Hoa, Đức Di Lạc ra đời theo quan niệm của riêng mình trong lúc Ngài đã thị hiện ở Nha Trang bằng xương bằng thịt như tất cả con người đang sống. Đức Bổn Sư, Ngài đã tường tận thời Mạt Pháp chúng sanh dự đoán bằng Nhục Nhãn Nhân Trí, xem kinh chấp tự, nương tựa theo cuồng vọng mê tín, do như thế mà căn cơ thấp kém, không khác nào Nồi Đất Mỏng, nên Ngài nói: "Y kinh diễn nghĩa, tam thế phật oan. Ly kinh nhất tự, tức đồng ma thuyết" Hai câu trên ám chỉ lời kinh chính lời Chánh Giác không thể dùng tướng văn tự mà hiểu đặng, duy chỉ tự giác, giác tha mới nhận định được thôi, hoặc Hạnh Nguyện Hành Dụng mà thọ lãnh, vì nó như thế nên chi đọc tụng thuộc kinh liền bị biết, khó lãnh hội Phật Trí. Đức Bổn Sư Thích Ca Mâu Ni Phật thọ ký Đức Di Lạc năm 2500 Phật Lịch Hạ Lai tận độ chúng sanh, có nghĩa là Đức Bổn Sư đã biết tường tận thời Ha Lai Mạt Pháp không còn thực tu, thực chứng mà chỉ y kinh học, nghiên cứu rồi chấp từng chữ tán rộng ra cho là cao đạo. Lại lấy con mắt thường để xem xét, suy đoán có tướng mới thấy, không tướng không thấy nên Ngài căn dặn chư Bồ Tát thời Hạ Lai phải nương chìu theo cái mê của chúng sanh mà lần tháo gỡ, đừng chỉ thẳng họ oán bỏ đi chẳng khác nồi đất mỏng đụng mạnh sẽ vỡ tan. Vậy chỉ thẳng cái gì mới có trực giác không còn y kinh? Bậc thấy biết chỉ tật xấu, tánh độc của chúng sanh ngay trong cuộc sống, chỗ ở, chỗ làm việc chung đụng với mọi giới từng ngày để tháo gỡ độc nhiễm. Một ngày nào sạch sẽ bỗng Trực Giác thấy biết không còn lầm. Đã Trực Giác đâu còn y kinh, lời Trực Giác toàn là bộ kinh Nghe Thấy Biết trong thế gian, ngoài thế gian khắp trong Tam Thiên Đại Thiên thế giới nên đâu có ly kinh Phật. Đúng lúc, đúng vị trí viên dung làm tỏ rõ tất cả thì đâu còn ly kinh mà bộ kinh tự giác xuất ra khác ý thế gian hay nghịch hành đều đúng, vì cốt tháo gỡ độc nhiễm của chúng sanh nên nó phải như vậy thôi. Ai chê tức bị bê trễ. “Đức Phật Ngài khéo thuyết đạo, Ngài tinh vi đưa cho chúng sanh cùng Tín Chúng tri đạo. Ngài thương tứ loài không khác người mẹ thương con vừa mới thoát thai ba tháng. Ngài phân tách tu Tự Giác cùng với tu Bị Giác. Ngài nói nếu các ông tu bị giác dù cho các ông có thành Phật chăng nữa cũng thành Phật với Định Tưởng Tướng Phật mà thành. Ngài chỉ nói trên mặt quyển kinh với nhan đề là Đại Phương Tiện Phật Báo Ân Kinh. Có nghĩa là tu đến Phật Trí Chánh Giác mới là Phật. Bằng tu thuộc kinh sau thành Phật chăng nữa vẫn là Đại Phương Tiện Phật Báo Ân Kinh, thật là lời Diệu Dụng quá ư tỷ mỉ, quá vi diệu của đấng Chí Tôn lo nghĩ chúng sanh từng tỷ mỉ.” –T.V. Như đã trình bày ở phần trước, nhiều bậc tu bị lầm lẫn dùng Định Tưởng lại cho mình là Phật bị ở Phật Giới vô số kiếp khi bậc tu thọ chấp thật khó gỡ. Còn nghe một câu kinh hay đọc quyển kinh sau ngộ là ngộ kinh. Kinh là Đại Phương Tiện Phật lưu lại để thi hành tự giác nếu ngộ kinh thì hãy báo ân kinh là Phật. Chứ Phật thật khai thị sau Trực Giác không bị vướng trong giác giả thuyết học thuyết. “Khó khăn thay: Nhân Sanh lạc pháp lầm lẫn chân truyền do kẻ kỳ ảo háo danh dục lợi dụng lý trí nhân sanh phổ truyền Đạo Phật, bằng tư cách ngồi yên dự đoán, chớ chẳng thành thật cùng thiết tha cầu đạo, giải mê phá chấp, lìa Ngã cốt đoạt đến Phật Trí. Ta còn nhớ: Thời Đức Bổn Sư thành Phật. Danh hiệu Ngài BỔN SƯ THÍCH CA MÂU NI PHẬT. Tứ chúng Tin Vâng với tư cách Đức Thầy, chớ chưa hẳn Tin Vâng với bậc Tối Thượng Chánh Giác Sư Bổn nên Phật nói: Các ông tin Ta làm bậc Tôn Sư, nếu Ta thực chất là vị Tôn Sư của các ông, thời các ông liền Tri Kiến Giải Thoát. Vì sao? Vì trong thân của các ông có đến hàng ngàn hàng vạn, đồng với hàng trăm ông Tôn Sư, do lẽ ấy ngăn cản các ông nên nơi Tin Vâng chưa hẳng Nhất Tâm đảnh lễ thành Phật. Lời dạy của Đức Bổn Sư đủ cho Tín Chúng hiểu thời Chánh Pháp có Phật vẫn còn như thế. Tứ Chúng thời ấy vẫn nhận định sai biệt, nhận định trên hình sắc Thái Tử Tất Đạt Đa hoặc tập quán chủ quán là Thầy như thói thường ngày nay vậy.” –T.V. Đối với chân lý chỉ biết nhận cùng chưa biết nhận. Nếu biết nhận thì sự nghe thấy biết được viên thông chân lý. Ngài thường khai thị: Nhất Ngôn Tri Kiến Phật. Bậc tu chỉ cần bỏ tạp nhập sẽ có lúc Trực Giác Nhất Tâm. Nếu đầy tham vọng, thích vọng bậc tu bị vô minh dù cả đời có nghe Ngài khai thông biết bao nhiêu lần, vẫn không nhận lãnh được. Tham vọng, thích vọng chính là nghiệp thức phiên diễn hàng vạn, hàng vô số nó làm thầy của ta khiến ta sống trong vô minh với nó vô số kiếp. Thật tự thấy vô minh quá khó. Duy nhất đủ công đức mới gặp Chư Phật, Chư Bồ Tát thị hiện phá vô minh cho. “Nhược bằng đương thời hạ Lai Lạc Pháp nầy: Tâm chí tất cả thảy đều tu cầu Tri Kiến, tu cầu Giải Thoát, nếu ai va chạm đến cá nhân cá tánh liền bất mãn bỏ tu, hai nữa có hy vọng thời Mạt Pháp Phật ra đời. Di Lạc Tôn Phật hiện thế, trên hình thức Long Hoa Khai Đạo. Từ nơi tâm chí cá nhân cá tánh kia làm sao nhận định được, cho nên nếu có trường hợp nào gặp đặng Ngài hay đang ở tại Long Hoa tu tập thì làm sao nhận định đặng Ngài? Khi nhận định chưa đặng thì Đức Tin yếu kém, Đức Tin kém thời công năng cũng sa sút, làm thế nào nhận lãnh thấy biết đặng? Khi chưa thấy biết Nhất Tôn được, thời chưa bao giờ Giác Ngộ.” –T.V. Người thế gian hy vọng Long Hoa ra đời theo sự ưa thích kỳ lạ. Nếu gặp đặng Long Hoa cho họ tu sửa theo vết chân chư Tổ đã đi, họ sẽ chán ngán. Do lối tu này không giống cá nhân cá tánh của chúng sanh nên không nhận định được pháp môn Tri Kiến Giải Thoát. Đã không nhận định được chân lý ắt không nhận ra được Đức Di Lạc Tôn Phật đang khai đạo cho họ. Khi không thấy biết con đường tu Giác Ngộ là như thế nào thì kiếp nào cũng vậy dù có gặp vị Phật kế cũng không cứu độ được. “Dưới sự nhận định bất đồng của Nhân Sanh Trí đối với chư Phật chẳng biết bao công trình Diệu Dụng, cứ chúng sanh đa bệnh bao nhiêu thì Phật phải đa dụng bấy nhiêu, chừng nào chúng sanh hết bệnh thì Phật mới hết dụng. Do nó như thế nên chư Phật hiện thế gánh chịu chẳng biết bao nhiêu chua chát đắng cay từng giây từng phút. Nhất là thời kỳ Mạt Pháp Hạ Lai này nếu Đức Đại Lực Tôn Phật thị hiện thời chưa có bút mực nào kể cho hết đặng sự gánh chịu cho Nhân Loài Tứ Chúng. Chỉ vì Phật Tử lạc lõng đảo điên hư vọng mới có như thế.” –T.V. Chúng sanh không biết Diệu Dụng của Chư Phật thường sanh bất đồng. Cứ mỗi căn bệnh tập nhiễm thì Phật phải có Diệu Dụng. Khi chúng sanh hết nhiễm Giác Ngộ, Phật hết Diệu Dụng. Chúng sanh bị nhiễm ái Phật phải Dụng ái tháo gỡ cho hết ái nhiễm. Do đó việc thực hiện phi tướng cốt độ chúng sanh thoát sinh ái nhiễm thường bị chống đối. Chư Phật phải gánh chịu chẳng biết bao nhiêu việc làm độc hại, từng phút từng giây nhận cay đắng nguyền rủa của chúng sanh, Chân Phật Tử. Chỉ vì chúng sanh, Chân Tử đảo điên, hư vọng mới phản đối như thế. Tỷ như bác sĩ giải phẩu ung nhọt cho đứa trẻ. Nó không biết lại la, hò hét phản đối bác sĩ. Khi hết bệnh lớn lên nó mới biết sự sai lầm của mình. Chúng sanh mê lầm dùng Nhân Sinh Trí phản đối chư Phật cứu độ cũng vậy, không khác đứa trẻ nhỏ kia. Sự diệu dụng phi tướng của Ngài ở Nha Trang làm ồn ào chúng sanh chê bai, nguyền rủa từng giây phút không ngừng. Mục đích khai mở Hoa Pháp Tánh còn gọi Long Hoa để trị tâm bệnh mà đào tạo Thánh Chúng. Thật sự Hạ Lai này chỉ có Ngài mới ở trong lửa mà vẫn diệu dụng cứu độ sự mê lầm của chúng sanh. “Hiện nay các Phật Tử cùng bậc tín tâm hãy nhận định lý chân trên hai trường hợp có Đức Tôn Phật đã Hạ Sanh nhưng đang còn ẨN như sau: • Trường hợp thứ nhất: Ngài xuất gia làm vị Hòa Thượng, làm vị Đại Đức hay Thượng Tọa. • Trường hợp thư hai: Ngài là Cư Sĩ tại gia có vợ có con cùng Tứ Chúng.” –T.V. Không nên trông chờ kỳ lạ như Núi Thất Sơn nổ Đức Di Lạc Tôn Phật từ trong núi đi ra như vậy không hợp với như nhiên. Do kinh sấm mà nhân sinh hiểu theo lý trí mê lầm. “Nếu Ngài xuất gia Hòa Thượng, Đại Đức hay Thượng Tọa đương thời này Ngài vẫn có Bổn Đạo Tín Đồ từng lớp từng trình độ hiểu biết khác nhau, từ tâm lý hẹp hòi đến rộng rãi khoát đạt. Nhưng vấn đề phê phán chỉ trích của Nhân Sinh Trí vẫn còn, Ngài cũng bị chỉ trích như: Ngài thế này hay thế nọ hoặc thế kia, cùng thế khác, làm như thế phải như thế, Đạo Chúng mong sao Ngài từ lối ăn đến mức ở, từ sự Diệu Dụng nơi Ngài buộc Ngài phải làm y theo lý trí của Nhân Sanh Trí, mới bằng lòng tán thán, nếu trái ý với ý thức đương sanh nghi ngờ mê chấp. Rất hiếm bậc Tin Vâng từng theo lời chỉ dạy cốt lìa Ngã, Ngã Sở để tu trì chuyên đạt đến Chân Trí Phật Trí. Đứng trước trường hợp diễn cảnh mà Đức Ngài đã chịu biết bao cay đắng chát chua, chỉ vì nhận định chưa đồng nên mới có những điểm như vậy.” –T.V. Nếu Ngài xuất gia mà muốn tận độ chúng sanh thì phải diệu dụng hữu tướng phi tướng thế nào cũng bị Phật Tử do mê lầm chỉ trích phê phán. Họ muốn Ngài phải nói năng, hành sự giống theo cái Ngã và Ngã Sở của họ mới được. Khi đã diệu dụng tận độ chúng sanh không sao tránh khỏi ồn ào, động loạn của người chung quanh nên Ngài phải chịu đắng cay chua chát từng lớp lớp trong từng phút từng giây vì họ không biết việc hóa độ của Phật. “Bằng Ngài thể hiện Cư Sĩ Đồng Hóa Nhân Sinh vẫn có vợ, có con đồng với có Tín Đồ Đạo Chúng. Khi bấy giờ Tín Đồ Đạo Chúng có từng lớp người, có từng trình độ nơi hiểu biết khác nhau, nơi tâm ý chẳng đồng, có kẻ hẹp hòi, có bậc rộng rãi khoát đạt mà vấn đề phê phán chỉ trích của Nhân Sinh Trí cũng không ít, có thể nói: Ngài làm như thế này, hay thế nọ hoặc thế kia và thế khác phải làm như thế, cùng như thế, lại có phần chỉ trích phê phán còn hơn thế nữa, nào là lối ăn, mức ở, mỗi mỗi phải chịu trong mọi hình thức chê khen phỉnh báng. Về phần Ngài: Từ Diệu Dụng đưa Nhân Loại đến nơi chốn Đạo Đời Hợp Nhất khó nói khó giải, duy chỉ có Ngài biết thôi. Nhưng buộc lòng Ngài phải hứng chịu sự ràng buộc của Nhân Sinh Tứ Loài, chỉ lý trí của tất cả Nhân Sinh nó như thế.” –T.V. Hiện kiếp này Ngài hiện Cư Sĩ dạy đạo chủ yếu đồng hóa Đạo và Đời cho nhân sinh nhận được chân lý. Ngài có vợ và sáu người con. Nếp sống cũng như bao gia đình, cũng có vui buồn, sướng khổ, giận hờn yêu thương. Vợ con cũng ồn ào và yên ổn. Cũng đòi hỏi nhu cầu cuộc sống. Tứ Chúng trong Đạo có nhiều lớp nhiều trình độ khắc biệt chê, chống đối, phỉnh báng cho là phàm tục như bao gia đình khác. Mắt trần thấy, tai nghe đều chướng đối. Đạo hạnh là quả vị của Thánh Hiền ai cũng ưa thích Thanh, gia đình con cái có lúc lộn xộn vốn như nhiên, gia đình nào cũng một thể cách không khác. Đa số bậc tu không nhận được, đã vào theo chân lý mà còn nghi chấp bỏ đạo tất nhiều. “Ngoài Đạo Chúng Tín Đồ còn về Con và Vợ. Con thì tự trách Cha sự đòi hỏi khờ dại, nơi mộng tưởng đua tranh nên thường nói: Cha tôi phải lo cho chúng tôi như thế này, như thế nọ hay thế kia, thật ra khó diễn tả hết, ai là kẻ đã từng sống giữa thời Hạ Lai mới thông cảm nổi, bằng thanh bình thịnh vượng chưa nhận định được thời Mạt Pháp Con Đối Với Cha, Vợ Đối Với Chồng. Về phần vợ thì lại nặng vào gia đình, do lẽ ấy nên Ngài phải qua rất nhiều trở lực quá đáng, phải chịu những gì khi bà vợ nổi lôi phong bối diễn.” –T.V. Bên ngoài Tứ Chúng trong Đạo cùng Nhân Sinh thấy dị biệt sanh bất đồng. Bên trong gia đình con cái đòi hỏi nhu cầu ham muốn theo thời thế. Nhưng làm Đạo thì tiền và vật chất có rất hạn chế không thỏa mãn đủ cung cấp cho con nên Ngài cũng bị phiền trách, khó kể hết bối cảnh gia đình. Còn phần bà vợ thương con cũng muốn con mình có đủ như những gia đình khác, cũng đứng về phía con nên Ngài cũng phải trải qua rất nhiều trận bà vợ nổi lôi phong. Còn những trận nổi lôi phong rối loạn do bà vợ ghen tuông, bất chợt Chân Phật Tử gần xa về thăm Ngài bắt gặp, thấy diễn cảnh kỳ lạ liền nghi chấp, gặp bạn bè đồng tu kể lại đồng bỏ đi biền biệt. Chỉ còn một Bồ Tát và ba Tôn Giả số còn lại thấy bối cảnh trốn hết. Có số ít sau trời êm biển lặng thỉnh thoảng ghé về. Chân Tử các tỉnh không bao giờ thấy việc này, số nghe được còn theo tu nay là Hộ Pháp ở các tỉnh thị hội Pháp Tạng tức Long Hoa Hội. Xuất gia ở chùa thật khoẻ, tu hành yên yên tịnh tịnh. Thế mới biết Đức Bổn Sư thọ ký Đức Di Lạc Hạ Lai Đồng Độ, mở màng cho chúng sanh, cho bậc tu đủ lớp lớp, đủ trình độ. “Ngoài gia cảnh còn có Thế Nhân viễn ảo mộng tưởng, sự nhận định Phật Đạo khắc biệt, nên thường xảy ra các Tôn Giáo cạnh tranh, các lối tu mâu thuẫn phê bình chỉ trích nhau quá kể, chính thật Phật Nơi Tự Tánh Không Tu, lại tu trong mộng tưởng đảo điên của thời lạc pháp. Chỉ vì Ngã, Ngã Sở mà có như thế. Đối với ba đời Phật cùng các chư Phật đến mỗi một vị Phật hiện thế, lời nói như Ngài là duy nhất không hai, nhưng có ba phương thức khác nhau sự kết quả chu toàn nó sẽ về một. Thế nào gọi là: Ba phương thức khác nhau? Thứ nhất lời Ấn Chứng Phật nói. Thứ hai phương tiện Phật nói. Thứ ba tùy thuận Phật nói.” –T.V. Đây là tâm sự của Ngài trong chuyến Hạ Lai thời Mạt Pháp đã chứng kiến sự tu hành của tất cả Nhân Sanh Trí. Đối với ba đời Phật, lời nào cũng là lời Chánh Giác nhưng có bậc tu tin tuyệt đối, có bậc tu tin vừa, có bậc tin nhưng rất dễ nghi chấp bỏ tu nên chư Phật mới có ba phương thức nói: –Thứ nhất lời Ấn Chứng Phật nói: Có nghĩa chỉ thẳng, nói thẳng sự mê lầm của bậc đang tu. Hàng Đại Bồ Tát, Bồ Tát, hàng Thánh nghe liền tán thán thi hành. –Thứ hai phương tiện Phật nói: Có nghĩa nếu nói thẳng, chỉ thẳng vô minh thì bậc tu sẽ bỏ đi nên chỉ quanh co sau đến chỉ thẳng như Hàng Tiên Thần Trí, Chúng Sanh Trí. –Thứ ba tùy thuận Phật nói: Bậc trí tuệ lung lạc, không vâng lời Phật, không thi hành lời Phật dạy. Tu tự ý kết quả vẫn theo ý nó muốn. Tự phá chấp tu bất tịnh không do Phật, Bồ Tát hướng dẫn nên Phật tùy thuận nói cho vừa ý cá tánh nó. Đương thời Đức Long Hoa Tăng Chủ ra đời trong thời lạc pháp này, ngay trong Long Hoa Hội cũng có bậc tu tự ý, Ngài tùy thuận nương theo. Chưa sở đắc chân lý tự ý đi phi tướng rất nguy hại. Vì sao? Vì còn nhiễm bị vòng quanh trong lục đạo. Tu tự ý không vâng lời Ngài chỉ đạo, chỉ có tin Phật nhưng không biết việc Ngài diệu dụng, sở đắc của giả thuyết Ngài không chứng minh. Ngài bảo chứng minh là không có một phần ly ty sai chạy được mới chứng minh. Khi ấn chỉ lời nói nơi Ngài như thế này: "Các ông cũng nên biết. Ta là Phật đã thành, Các ông là Phật sẽ thành Chư Bồ Tát đến Đại Bồ Tát thảy đều công nhận, lời Phật nói quá đúng, khi Bồ Tát tu trì mới đoạt thấu nên nói: Có tu mới có thành, Chưa tu vẫn chưa thành, Bổn lai vốn rành rành Nhân sinh đều Phật Tánh. Phật ấn chỉ dưới sự mê lầm của chúng sanh, Đui Điếc Ngọng Câm Ngài nói: Các ông cũng nên biết, đời nầy đến thời sau: Nếu các ông gặp Bồ Tát ra đời, hoặc Phật Hiện Thế kẻ đui liền đặng sáng. Người điếc đặng nghe. Ngọng câm biết nói. Bậc tê liệt biết đi. Ngài chỉ cho Nhân Loài thảy đều Câm Điếc Ngọng Đui Tê Liệt. Nếu không đui thời tại sao chưa nhìn thấy Phật. Chẳng điếc tai sao chưa nghe đặng lời Phật thuyết. Không câm vì sao chẳng thuyết pháp, bằng chẳng tê liệt tại sao trí tuệ chẳng suốt thông, nhập Chánh Định du hành vạn triệu cõi. Lời trên chân thật trực giác, còn Nhân Sanh Trí dùng vọng tưởng mong đợi Phật ra đời, Bồ Tát thị hiện chữa các con bệnh Đui Điếc Ngọng Câm, Tê Liệt theo lý trí hoài mong Nhân Loại tự đặt Đức Phật cùng Bồ Tát không hơn không kém với một vị Phù Thủy vậy. Đó chính lời Phật nói, ý chí phàm nghe bất đồng nó như thế.” –T.V. Vì ảo tưởng kỳ vọng của bậc tu chờ Long Hoa bằng kinh sấm như núi Thất Sơn nổ chuyện không như nhiên, trông chờ Đức Di Lạc làm chuyện Phù Thủy, dù Ngài có hiện thần thông cũng không đem đến Chân Giác. “Lúc dùng phương tiện Ngài nói: Ngài đã nhìn vào vọng tưởng điên đảo của Chúng Sanh, nhìn nơi tham vọng mong ước của các bậc Tín Tâm. Nếu để nó như thế nó vẫn thành như thế, nó phải sinh vào các cõi Tiên Thần, do lẽ ấy Phật mới phương tiện nói các cảnh giới và các cõi Tiên Thần đến Tịnh Độ cùng Quốc Độ Phật Quốc. Làm cho tất cả phấn khởi phát tâm tu cầu đến quả vị Phật Trí Giải Thoát.” –T.V. Cõi Tiên Thần người thế gian mơ ước cho là sung sướng. Các cõi này vẫn còn sanh tử, tuổi thọ có hạn đến lúc già vẫn chết. Chỉ con đường giải quyết sanh tử luân hồi của Chư Phật mới bất tử. Đó là nơi an lạc nhất. “Phật lại tùy thuận mà nói: Sự tùy thuận nơi Ngài không làm tổn thương Đạo Phật, chẳng làm mất Công Quả của các bậc đang tu, không phương hại đến Công Đức. Nếu có bậc xuất gia vào hàng Tỳ Kheo, Tỳ Kheo Ni, Ưu Bà Tắc, Ưu Bà Di tu trì thời gian lâu mau chẳng hạn, có Trí Tuệ hoặc giả chưa có Trí Tuệ đầy đủ. Nhưng tánh tình lung lạc, đạo hạnh khó gìn giữ phạm nhiều giới luật, làm cho tất cả Tứ Chúng phê chỉ rất nhiều, lúc bấy giờ Phật tùy thuận nói: Các ông chớ nên nói đến bậc này hoặc bậc kia cùng bậc nọ. Những bậc ấy thảy đều tu trì nơi Hạnh Nguyện. Có bậc hiện thân tu trì nguyện độ Súc Sanh, có bậc tu hành nguyện độ Ngạ Quỷ, có bậc tu trì nguyện độ Địa Ngục, có bậc tu hành nguyện làm Quỷ Dạ Xoa làm Càng Cát nên chỉ có những hạnh như thế làm như vậy. Đó chính lời Thiện Xảo mà Phật nói đến hậu quả vẫn y như thế. Qua thời nầy các tín tâm tu hành phá chấp hay dùng lối này để tu lối bất tịnh, tu theo sự Kiến Dục, chỉ vì Nhân Trí tham vọng mơ màng trên lý thuyết mà nó phải như thế.” –T.V. Trong tứ chúng Pháp Tạng, những chân tử tu công năng công đức còn yếu kém, họ tin Ngài nhưng không làm theo lời dạy do thiếu Vâng. Ngài biết Bổn Lai mỗi vị liền Diệu Dụng, tất cả đều ưa thích ái kính Ngài. Cả trăm bậc tu thiếu vâng lời, tự ý nào có hay biết, vì Ngài biết không làm gì hóa cải đố tật tập nhiễm của họ nên làm cho họ an trụ thích thú còn hơn. Vì vậy vị nào cũng thấy Ngài thương mình thứ nhất. Phật tùy thuận nói trình độ họ không sao hiểu biết nổi. Có một bậc tu theo Ngài tự xưng Hoan Lạc và xưng Phật, Ngài tùy thuận làm họ thích thú nhưng quyết định không được Chứng Minh văn bảng dù là hàng Hộ Pháp cũng không có được. Hàng Tôn Giả vị nào cũng tùy công năng công đức Ngài giao nhiệm vụ giúp đỡ hàng Hộ Pháp. Hàng Bồ Tát điều hành mối đạo thừa hành lệnh Ngài thật nghiêm túc –Vị xưng Phật, Ngài diệu dụng gạt ra vòng ngoài, đứng lơ lửng trong đạo không hề nhận một nhiệm vụ gì vì thọ ngã không gỡ được. Gặp Phật ra đời mà biết nhận định tu cho đoạt chân lý cũng thật khó. Chỉ một sơ sót liền bị rớt vì tự giác phải cao độ mới ở gần Ngài, được Ngài dạy tỷ mỉ chẳng thiếu sót. Do quá khứ tu lung lạc bị thọ nhiễm đến thời Hạ Lai Mạt Pháp này pháp tánh không biến đổi được. Thật uổng phí một kiếp gặp Phật Chánh Giác. “Đối với Chư Phật ba thời (Quá Khứ, Hiện Tại, Vị Lai) cùng các Đức Phật nếu có Vị Phật Hiện Thể chứng minh tận độ chúng sanh, thời vị ấy trước tiên phải tùy theo thời như: Thời Thượng Kiếp, Trung Kiếp, Hạ Kiếp của chúng sanh mà Thị Hiện, lại tùy theo căn cơ lòng hoài vọng mà Hành Dụng đến khi chúng sanh nhận chân ít nhiều mới Diệu Dụng cốt hóa độ chúng sanh Tri Kiến Giải Thoát.” –T.V. Thời Trung Kiếp Đức Bổn Sư Thích Ca Mâu Ni Phật khai đạo, xã hội thời này chưa phát triển văn minh khoa học hiện đại tánh tình chúng sanh dễ ngộ nhập Phật Pháp. Đến thời Hạ Lai Mạt Pháp này, Đức Long Hoa Tăng chủ nhìn thấy xã hội phát triển theo khoa học hiện đại quá mức, trình độ chúng sanh cũng bộc phát theo nên Ngài diệu dụng phi tướng cốt yếu đưa chúng sanh vào sâu Chân Lý cho kịp xã hội hiện đại, phá tan nghi chấp, chấp thủ dừng trụ đứng yên, từ đó chúng sanh nhận được sự họp hóa vạn pháp của Như Lai Tạng đang chuyển mình, nếu theo kịp sẽ sở đắc Như Lai Nhãn Tạng sau đến Trực Giác mà ngộ nhập con đường Tri Kiến Giải Thoát. “Về Phật Trí nơi Phật, lại thường soi khắp ba thời hóa giải thành một. Là quán xuyến quá khứ Chư Phật đã thi hành, hôm nay Đức Phật phải làm, đồng chỉ dạy chư Bồ Tát rõ để làm. Lại diễn giải trong thời hiện tại tỏ rõ, hóa giải các ngăn chấp ngăn ngại để lướt qua từng lớp lớp nghi chấp, trí tuệ tăng trưởng tỏ tánh Trực Giác. Ngài tùy theo thứ lớp công dụng Đốn Tiệm tương song, làm cho tất cả Tứ Chúng hợp căn cơ, hợp trí tuệ đạo hạnh đoạt đến Phật Trí.” –T.V. Ba thời là thời Thượng Kiếp, thời Trung Kiếp và thời Hạ Kiếp soi khắp để hóa độ Tứ Chúng tu đến Giác Ngộ. Hóa giải ngăn chấp, ngăn ngại không thể ngồi nói mà được phải diệu dụng phi tướng trong thời này cho ngăn chấp, cho ngăn ngại sau nhờ hỷ xả đầy đủ bỗng Trực Giác xóa sạch ngăn chấp, ngăn ngại. Tùy theo trình độ Tứ Chúng Ngài dùng Đốn cho Ngộ sau dùng Tiệm Giáo lập lại Đạo Hạnh cho tương song đoạt Chánh Giác. Thật khó khăn vô kể, nếu tự tu không sao hết ngăn chấp, ngăn ngại nên không bao giờ Trực Giác để có Trí Tuệ tiến dần đến Bồ Tát Trí. “Lại vạch rõ cho Tứ Chúng nhận chân, tu như thế nào Chánh Báo, tu như thế nào Thọ Báo, Ngài dặn dò tỷ mỉ lưu lại đời Vị Lai để các bậc tu hành đời sau khỏi sai lạc trở thành Tam Tạng Kinh Điển ngày nay. Phật lại Ấn Chứng Thọ Ký cho Vị Đại Bồ Tát Nhứt Sanh Bổn Xứ thành Phật để hoàn toàn Ba Thời Đồng Nhất, toàn diện rốt ráo Như Như gọi là Không Hai Tướng. Phật thường nói : Phật Diệu Dụng duy chỉ có Phật mới biết Phật mà thôi, cho nên giai đoạn Phật chỉ dạy cho Tứ Chúng Phật Diệu Dụng ba phương thức diễn nói, để cho Nhân Sanh nhận định đặng, chính ra Phật chỉ Ấn Quyết một phương thức khai thị, chớ chẳng có ba phương chi cả. Phật Trí soi khắp trong ba thời hóa giải duy nhất, mỗi một thời thọ ký chớ không có ba thời như trên đã nói.” –T.V. • Tu Chánh Báo: Tu sửa có tự tánh tỏ tánh, đến hóa giải, vận chuyển vạn pháp. Viên dung đoạt Chánh Báo. • Tu Thọ Báo: Không tu sửa, tu theo ý muốn, tu định tưởng tướng Phật bị thọ báo Tiên Thần. Tu không thấy không biết vô minh dễ sa ba đường ác bị thọ báo A Tu La, Ngạ Quỷ, Súc Sanh, Địa Ngục. Vô Minh không phải dễ thấy, dễ tháo gỡ nó. Duy có Chư Phật, Chư Bồ Tát mới chỉ được rõ Vô Minh mà thôi. Vô Minh thấy cạn sâu tùy theo công năng công đức. Thời Hạ Lai Mạt Pháp cả đời lắm bậc tu chưa thấy một pháp Vô Minh, trong lúc Vô Minh nhiều như đám rừng! Nói giỏi viết hay nhưng không nhận diện được Bổn Lai của Vô Minh tu uổng phí thời gian. Vậy học giỏi Phật Pháp để làm gì? Thấy Vô Minh, phá Vô Minh mới sạch Chúng Sanh Tánh, chờ bậc Chánh Giác khai mở Trực Giác mới có ngày Giác Ngộ. “Nên chi khi Đức Bổn Sư Thích Ca Mâu Ni Phật, ấn chứng thọ ký Di Lạc Tôn Phật thành Phật, lúc bấy giờ nơi hội trường tất cả thảy đều nhận định hai tướng nhận định ba thời (Quá Khứ, Vị Lai, Hiện Tại) Đức Di Lạc thành Phật. Liền sau khi đó Đức Duy Ma Cật, Ngài là một vị Cổ Phật, thật biết sự nhận định sai lầm của Tứ Chúng hội trường làm mất lời vàng của Đức Chí Tôn nên chi Ngài hỏi Bồ Tát Di Lạc? - Ngài Di Lạc, Đức Thế Tôn thọ ký cho Ngài một đời sẽ được quả vị Vô Thượng Chánh Đẳng Chánh Giác thành Phật, đó là đời nào Ngài đặng thọ ký? Nếu đời quá khứ chăng? Đời vị lai chăng? Đời hiện tại chăng? Quá khứ thì quá khứ đã qua, bằng vị lai thời vị lai chưa đến còn hiện tại thì hiện tại không dừng, chính lời hỏi của Duy Ma, chỉ vào ba thời đồng nhất thọ ký Không Hai Tướng, ba phương thức lời của Phật thảy đều Khai Thị Chứng Tri Phật Trí.” –T.V. Khi Đức Bổn Sư Thích Ca Mâu Ni Phật quyết định thọ ký đức Di Lạc Tôn Phật, lúc bấy giờ nơi hội trường Tứ Chúng đều lấy hai tướng Sanh và Diệt để nhận định. Dù cho bậc tu gặp Phật Chánh Giác mà chưa giác ngộ thì Quá Khứ, Vị Lai, Hiện Tại ba thời đều lấy tướng tương đối để nhận định Đức Di Lạc Tôn Phật đều lầm lẫn. Vị Cổ Phật Duy Ma biết được sự nhận định sai lầm của Tứ Chúng chưa nhận định được sự thọ ký tuyệt mỹ này chính là chỉ thẳng Pháp Vô Sanh Tam Thừa. Ngài Duy Ma liền hỏi, Bồ Tát Di Lạc giải Bí Tạng này. Quá khứ thì quá khứ đã qua, bằng vị lai thời vị lai chưa đến còn hiện tại thì hiện tại không dừng. Vậy thời nào mà Bồ Tát Di Lạc được quả Vô Thượng Chánh Đẳng Chánh Giác? Đến nay thời Hạ Lai Mạt Pháp Đức Di Lạc giải Bí Tạng như vầy: Ba thời đồng nhất có nghĩa: Từ vô thỉ vô chung Phật Quả Vô Thượng vốn sẵn có nơi chúng sanh tại tu chưa đủ công năng công đức, chưa trực hiện chớ đâu phải chờ 2500 năm sau mới đoạt được. Khi Trực Giác liền nhận được sự Khai Thị của Đức Bổn Sư: Phật quả vốn ba thời đều sẵn có. Nó đồng Nhất Tướng, không hề có hai tướng, là chơn tâm thanh tịnh viên dung, chung cùng vô thỉ vô chung, thường còn bất biến. Ngày 24 tháng 12 âm lịch năm Nhâm Thân, tức năm 1992, tôi đại diện Tứ Chúng Pháp Tạng tổ chức đại lễ kỷ niệm ngày Đản Sinh thứ 75 và cũng là kỷ niệm mùa Hồi Sinh hy hữu của Đức Vô Thượng Tôn Long Hoa Tăng Chủ. Hồi Sinh có nghĩa Bậc Chánh Giác như Ngài đã tận thành việc phân thân Tứ Đại, muốn ở thế gian hay lúc đã nhập Bát Đại Niết Bàn mà muốn hiện thân bất cứ nơi nào đều tùy ý dùng thân Tam Muội thị hiện như lúc còn sống tại thế gian. Ngài đã tận dụng Đại Phương Tiện ngay cả nhập tận diệt định tận độ chúng sanh thật thậm thâm vi diệu, thật kín nhiệm mà Nhân Sanh Trí cùng Tứ Chúng trong Long Hoa chẳng ai hay biết. Ngài nhớ lại lời Đức Bổn Sư, thời Hạ Kiếp ông phải thị hiện bệnh Thần Kinh để Tận Độ chúng sinh mới Hồi Sinh. Sau đại lễ Vị Cổ Phật Duy Ma liền thị hiện gặp Đức Vô Thượng Tôn Di Lạc tại tịnh thất ở Nha Trang. Ngài Duy Ma hỏi: - Nghe nói ông đoạt quả Vô Thượng vậy ông để nó ở đâu? - Đức Di Lạc: Tôi để nó ở chỗ đó. - Ngài Duy Ma vừa cười vừa nói: Hay, Hay, thật tuyệt, danh bất hư truyền. Rồi Ngài Duy Ma cười đi ra khỏi tịnh thất. “Để nó ở chỗ đó” trong Long Hoa Hội không ai giải được Mật Tạng này, thực tế duy chỉ có Mục Kiền Liên Bồ Tát thi hành Ma Ha Tát giải sạch được cho cả Ngài Xá Lợi Phất và các Tôn Giả, Hộ Pháp ở vòng Trung Ương. Họ vui thích, hoan hỷ bảo chưa từng nghe nay được nghe. “Dưới sự nhận định bất đồng có từ ngàn xưa chớ chẳng phải thời Mạt Pháp nầy mới có, từ Nhân Sanh trí cho đến Phật Trí vốn sẵn nơi Mê và Ngộ, khi mà trí mê mong làm thế nào đoạt đến ngộ trí cũng chưa đặng. Đến lúc ngộ trí muốn trở thành trí mê cũng chưa xong, duy chỉ có tu hành vượt qua tất cả Trí Giới đoạt đến Giác Chân rốt ráo thành Phật mới đặng mà thôi.” –T.V. Thực tế bậc tu vượt qua giới vô cùng khó, kỳ Hạ Lai thời Mạt Pháp này hiện diện đầy đủ chư Tổ thời quá khứ, cho thấy không vị nào vào giới tự vượt khỏi giới nổi, giỏi lắm chỉ tu tự tánh tỏ tánh. Tỏ giới còn hóa giải, vận chuyển qua khỏi giới rất hiếm hoi. Nó thuộc quả tu chứng, quá ư khó! Chỉ bậc tín tâm nào thành thật tâm, thiết tha tâm còn phải có đủ trí tuệ hộ trì vết chân Ngài đi trên đường Chánh Quả mới được cơ hội khai thị, dắt dẫn, tháo gỡ pháp giới cho thôi. Kinh điển của Ngài đang còn nghi bút: Thiên môn đâu suất tọa Hạ lai vô thượng tôn. Đức Bổn Sư thọ ký Di Lạc Tôn Phật thời Đương Lai Hạ Sanh. Dưới cây Long Thọ đoạt Vô Thượng Chánh Đẳng Chánh Giác, khai hội LONG HOA nhiếp độ các Tiên Thần tận độ Chúng Sanh thành Phật có Kinh Sấm lại nói: Thất Sơn bảy ngọn núi dài, Chừng nào vang nổ Vương Đài khai hoa Từ nơi kinh điển lời vàng của Đức Phật, từ các Sấm Kinh dụng tưởng tương sanh phối hợp làm cho tất cả cố công tu hành chờ ngày Khai Hội. Thật cao quý thay! Thật đáng quý mến thay! Các Phật Tử quyết tâm cầu đạo hao công tốn của chẳng biết bao nhiêu. Nhưng đáng tiếc thay! Cầu đạo tự nơi đáy lòng mãi dùng Nhân Sanh Trí mãi dụng lối hoài mong Hai Tướng tu cầu. Nếu tu hành cầu Đạo Chánh Giác thì phải tìm Chơn Tánh để tu qua các chướng đối tâm không quái ngại sở đắc Nhãn Tịnh Nhĩ Thông mới nhìn thấy Đức Di Lạc Hiện Thế tại Việt Nam nầy.” –T.V. Như đã trình bày, cây Long Thọ có nghĩa là hóa thân một kiếp của Đức Di Lạc. Nếu Nhân Sanh Trí, Tiên Thần Trí tìm cây Long Thọ, chẳng lẽ cái cây này mà làm cho Ngài Chánh Giác sao? Nay đã đến lúc Mạt Pháp Ngài mới Hạ Lai tu hành trải qua bao gian lao thử thách, bao đắng cay nơi vợ và con cùng nhân gian. Thất Sơn bảy ngọn núi dài, ý chỉ là vợ và sáu người con cộng lại là bảy ngọn núi Hỏa diệm Sơn to lớn. Chừng nào vang nổ Vương Đài khai hoa. Khi Ngài có vợ bé dụng phi tướng là Pháp Bất Tịnh, vợ và sáu con Ngài nổi lôi phong làm náo động, trong đạo và nhân gian ai thấy cũng cho không phải là đạo Giác Ngộ của Đức Di Lạc, không ai nhận định được Long Hoa gì mà kỳ lạ quá không giống lối tu ở đâu cả. Chỉ có số ít không chướng tiếp tục theo Ngài để được mở Bảo Pháp. Tất cả Hoa Pháp Tánh lúc này trổ cực mạnh gọi là vang nổ. Cũng là lúc điều ngự, hóa giải, vận chuyển cho ổn là Thanh Tịnh Tâm đến kết quả Đạo Vô Thượng. Trong lúc đó Nhân Sanh Trí, Tiên Thần Trí trông chờ núi Thất Sơn ở Tỉnh Châu Đốc nổ theo Kinh Sấm làm ngăn che không cho những bậc trông chờ Long Hoa vào được với Đức Di Lạc. Tất cả đều dùng Tưởng để hoài mong Long Hoa. Tưởng là tướng sanh diệt hai tướng tu cầu này bị chìm trong cơn mê dài của sanh tử. Trong lúc Chư Tổ, Chư Hộ Pháp, Bồ Tát quá khứ tu theo Chơn Tánh mới nhìn nhận chính Ngài khai Long Hoa Hội tại thành phố Nha Trang của nước Việt Nam. “Vì sao? Vì Việt Nam là giống Tiên Rồng hoa Đàm nở tại Việt Nam gọi là Long Hoa Nhất Tướng đầy đủ các bậc tu Tiên, tu Thần, tu Thánh, tu Phật vốn ở trong một nước Việt Nam tạo thành LONG HOA TẬN ĐỘ. Khi nghe đặng lời nói chân thật này không hai tướng khuyên các bậc tu hành hãy hóa giải nghi chấp, dùng Tự Tánh Chơn Tánh nhận định mới tỏ rõ lời nói bất nhị, chớ vì nghe lời nói nầy mà phát sinh bộc khởi Tự Ngã xem như lời nói biện luận mà chướng đối thời rất phí một kiếp Hạ Lai khó gặp, khi có chướng đối ngăn ngại chưa phải tự ngã của các ông chướng đối ngăn ngại mà là tu trì chưa đầy đủ khả năng nghe được, đôi lúc nghe được lại vướng vấp loài Ma Ba Tuần làm cho khó gặp.” –T.V. Năm 1976 khi diễn cảnh trong gia đình hỗn loạn, Ngài điều ngự và gánh chịu. Ngài khuyên các bậc tu trong Long Hoa cùng các bậc tu ở ngoài nên nhìn diễn cảnh hỷ xả, chớ có nghi chấp dừng trụ, nếu chấp nghi nên hóa giải vì đó là Long Hoa đưa bậc tu đến Chánh Đẳng Chánh Giác. Không nên lấy cái nhận định hai tướng sanh diệt của Tiên Thần Trí, Nhân Sanh Trí mà phỉ báng uổng một kiếp tu hành rất khó gặp đặng Long Hoa ra đời, Đức Vô Thượng Tôn Di Lạc đang thề nguyện tháo gỡ tất cả Hoa Pháp Tánh cho chúng sanh không còn bờ ngăn. Khi Long Hoa khai hỏa cũng có những bậc tu không chấp không chướng, nhưng trong thân mạng bị Ma Ba Tuần làm cho đứng riêng không đến với Ngài những lúc cần nghe, cần thấy hỗn loạn nên cũng chẳng biết gì tháo gỡ sâu Hoa Pháp Tánh. “Khi nhận định đặng Việt Nam tiêu biểu cho Tiên Rồng, Hoa Đàm nở tại Việt Nam, Phật ra đời nơi đất Việt gọi là: VIỆT NAM LONG HOA NHẤT TƯỚNG trên dãy đất có đầy đủ Tôn Giáo, đầy đủ các bậc tu hành thứ lớp không thiếu sót, hội tề trang nghiêm quốc độ, thì không còn lấy một nghi, duy chỉ chính mình tự trách lấy mình chưa trọn Tin nên chưa Tròn Giác. Còn nhận định về cây Long Thọ đồng với Đức Phật Tôn Di Lạc đều một tướng không khác mấy với Việt Nam Long Hoa vậy. Bằng nhận định Hai Tướng có cây Long Thọ có Tướng Tôn Phật Di Lạc, không lẽ cây Long Thọ đem đến cho Ngài Vô Thượng Chánh Đẳng Chánh Giác hay sao? Còn phần Ngài lại ấn chỉ cây Long thọ Chánh Giác hay sao? Phật Đạo thì duy nhất Chân Tôn trực giác không hai tướng mà Giác, đó chính là lời Chân Truyền Nhất Tôn vậy.” –T.V. Đức Di Lạc Tôn Phật ra đời khai đạo ở tỉnh Khánh Hòa nước Việt Nam. Bấy giờ các Tôn Giáo khác đều có đại diện vào tu theo Pháp Tạng Phật Giáo chính là Long Hoa. Những vị nầy không hề có xa lạ mà quá khứ đã từng theo tu Đức Bổn Sư cách đây 2539 năm Phật Lịch, nay lai sanh đã có sẵn căn cơ, đủ các trình độ tu chứng Tiên, Thần, Thinh Văn, Duyên Giác, A La Hán, Bích Chi, Bồ Tát. Chỉ khác nay không dụng Thiên Thừa Hạnh (hạnh Xuất Gia) mà dụng Nhân Thiên Hạnh (hạnh Cư Sĩ), chủ yếu Ngài diệu dụng cho tất cả vào thấy, nghe pháp động, bất tịnh cho khỏi chướng đối, qua được quái ngại không còn quái ngại đặng Tự Tại Đại Bi Tri Kiến Giải Thoát. Phần Ngài thực hiện Quốc Độ Trang Nghiêm Nhất Tướng. Đó là một lối tu duy nhất trực giác không hai tướng vọ vạy sanh diệt, tối sáng được về với Chân Tôn. “Nhận định về Kinh Sấm để nói: Kinh Sấm lối nhận định thường hấp thụ NHỊ NGUYÊN, sống nơi tương đối lý tưởng thường tưởng định tưởng nên có rất nhiều lý đoán hợp thành tương sanh chấp nhận. Sống như thế, không khác nào sống trên khói thuốc lá, khi khói thuốc bốc lên, kẻ chưa biết thì chạy theo khói mà lý đoán, bậc kiến thức biết tìm lẽ sống thực thể nguyên lý vững vàng thì bậc này nương theo khói thuốc, tìm đến tận gốc thực thể điếu thuốc đồng với lửa của thuốc. Đối với Nhị Nguyên tương đối định tưởng và lý đoán chấp nhận gọi là Sống Điên Đảo chưa thực thể.” –T.V. Đa phần tất cả bậc tu Tiên Thần Trí, Nhân Sanh Trí đều tin Kinh Sấm theo nhận định cá tánh. Nhị Nguyên là hai tướng Có-Không, Tăng-Giảm, Đúng–Sai, tức hai tướng sanh diệt, lối nhận định tương đối do ưa thích theo lý tưởng, do mơ ước thường tưởng, do ham muốn theo cá tánh gọi là Định Tưởng. Những lý đoán về Long Hoa Đức Di Lạc ra đời này chạy theo tin đồn hoài vọng không thực thể Tánh Chơn Giác. Bằng bậc biết nương vào Kinh Sấm tự nhận định cảnh trước mắt bà vợ và sáu người con nổi lôi phong ầm ỹ gây bối diễn hỗn loạn là núi Thất Sơn nổ, liền sống thực thể theo Chơn Tánh không còn sống hoài vọng điên đảo. Chừng đó biết nhận Đức Di Lạc Tôn Phật đang đi, đang hành nguyện tận độ chúng sanh tánh và cũng chính mình nghìn năm nay mới được ở trong Long Hoa tu tập cầu Giác Ngộ Rốt Ráo./- 45. Vì Sao Kinh Sấm Nhận Định In Tuồng Thực “Khi Kinh Sấm phát sinh, chính do lòng chân thành biểu lộ, đương nhiên chân tâm sinh vạn pháp chân như. Vạn Pháp ấy gốc Tâm Sanh, đã sanh pháp liền có Phật chứng, Phật chứng đó chính là Phật của Pháp, chớ chưa phải là Phật Trí Nhất Tôn Chánh Giác.” –T.V. Kinh Sấm ra thi thơ do tu định tưởng của Tiên Thần Trí. Dù có thành tâm tu cầu thì định tưởng vẫn là Tâm Sanh vạn pháp. Phật hiện đây là Phật của Pháp chứng tri chứ không phải Phật Trực Giác của Chánh Giác Chứng Minh. Định tưởng thuộc Nhị Nguyên. Trực Giác thuộc Nhất Tôn. Do đó chúng sanh mới bị lầm chấp. “Theo Kinh Sấm, lòng chân thành Nhân Chứng lúc có bậc tin vào kinh pháp, chân thành với kinh pháp liền đồng với chân như quần chúng mà phát hiện in tuồng thật với bậc chân thành chớ chưa thực với kẻ bất chân thành nên mới có câu: Linh Tự Ngã Bất Linh Tự Ngã, Cảnh và Tình hợp với bậc Tình và Cảnh chớ chưa hợp với người Vô Tình diễn cảnh đó chính là lời chân thật nhận định in tuồng thật của Kinh Sấm. Nếu gọi là đúng với tinh thần của Kinh Sấm chớ chẳng đúng với Phật Trí. Phật Trí theo lời bảo truyền của Đức Phật Không Hai, nên chi nhận định như sau: – LONG HOA TẬN ĐỘ: Nhận định Đồng Nước Hội Tề. – DI LẠC TÔN PHẬT: Nhận định Đồng Thể Tương Sanh. – THẤT SƠN KHAI DIỄN: Nhận định Nhất Cảnh Hỏa Khai.” Chúng sanh vốn có cảnh sanh tình cũng như có nhơn là có quả, không có nhơn là không có quả. Do đó có tin là linh ứng hiện, không tin không có linh là như vậy. Người không tin là người Vô Tình nên Pháp Tánh không hiện gọi là không linh. Còn bậc tu sửa theo chân lý thực tiễn con đường trực giác thuộc trí tuệ. Khi thấy cảnh nhà Ngài, các con và vợ gây hỗn loạn bậc này liền điều ngự kiềm chế tánh chướng, sau hóa giải Hoa Pháp Tánh nên người được nhạy cảm, hiểu biết được tỏ thông, lại thấy được nhận định sai lầm trông chờ Long Hoa của các bậc tu dùng Định Tưởng trở thành lầm truyền kiếp. LONG HOA TẬN ĐỘ: Tánh độc cùng tất cả tánh xấu đều đua nhau trổ hình qua vợ và sáu người con, Ngài gánh chịu không phiền trách. NHẬN ĐỊNH ĐỒNG NƯỚC HỘI TỀ: Các bậc tu từ Chư Tổ cho đến Hộ Pháp thời Đức Bổn Sư ngày nay đều hiện diện hội tề tại Long Hoa theo cư nhân hạnh. Di Lạc Tôn Phật: Ngài đang hiện từ trong Pháp Bất Tịnh đến Đại Thanh Tịnh. NHẬN ĐỊNH ĐỒNG THỂ TƯƠNG SANH: Chư Tổ đều tương đồng hòa hợp với Ngài nên đồng sanh Phật Trí. Những vị quanh Ngài đều hộ trì và thi hành lời Ngài khai đi hóa giải đủ phương tiện miễn sao phát sinh trực giác là tất cả đều mong đạt cho được. THẤT SƠN KHAI DIỄN: Chư Tổ quá khứ Chư Hộ Pháp đã nhận định được bà vợ và sáu con của Ngài chính là núi Thất Sơn. NHẬN ĐỊNH NHẤT CẢNH HỎA KHAI: Chỉ duy nhất có diễn cảnh ở nhà Ngài đang vang nổ là Thất Sơn chứ không có núi Thất Sơn Châu Đốc nổ đâu mà chờ đợi theo kinh sấm. Nhận định theo Nhân Sanh, Tiên Thần không bao giờ gặp Long Hoa được. “Đứng phương tiện nhận định Thất Sơn thì Đức Bổn Sư Ngài Hiện Thể tại Ấn Độ, còn Thất Sơn tại Cam Bốt cùng Việt Nam tỉnh Châu Đốc, do như thế Phật chẳng ấn truyền khó mang ra nhận định. Nhưng đứng về LONG HOA TẬN ĐỘ đến cây Long thọ Di Lạc, đồng thể thì đương nhiên liên hệ với Thể Hiện. Khi Hiện Thể một nơi nào hoặc một nước nào lấy nơi đó nhận định. Trái lại đặt trường hợp Thất Sơn, chính phải để bối cảnh diễn cảnh chung quanh Đức Di Lạc, gọi là Nhất Cảnh Hỏa Khai. Có nghĩa hoàn cảnh thuận nghịch trước sau trên dưới trong ngoài thảy đều Pháp Độ Thời Đông Độ. Đức Ngài chịu lấy cứu độ Chúng Sanh Tứ Loài gọi là Đại Lực Tôn Phật.” Pháp Độ Thời Đông Độ: Thời Hạ Lai Mạt Pháp là thời Đồng Độ. Bậc tu và chúng sanh đều được độ vì sao? Vì các pháp diễn hành tận cùng, bậc tu, bậc không tu đều bị diễn cảnh quá sức chịu đựng làm cho chúng sanh tánh được phơi bày chẳng thiếu sót độc nhiễm. Đến tận cùng nó thấy nó quá độc nên kiêng sợ tự hồi tâm quay về điều thiện vì có Vô Thượng Tôn Di Lạc ẩn mật điều động Như Lai Tạng đang chuyển mình. Bậc tu lẫn bậc không tu đều được kín nhiệm tận độ gọi là thời Đông Độ Hiện Giác. Còn tứ loài cũng được cứu độ như Hịch Chứng Minh Vũ Trụ ở phần trước. Do đó mà gọi là ĐẠI LỰC DI LẠC TÔN PHẬT. “Có hai trường hợp Nhất Cảnh Hỏa Khai như: Pháp Độ nơi Ngài Xuất Gia, hoặc Tận Độ nơi Ngài Cư Sĩ Tại Gia. Hai trường hợp trên tuy khác nhưng diễn cảnh đều như nhau: Ngài Xuất Gia liền có sáu Ông Đạo và Bà Chủ Chùa. Bằng Cư Sĩ Tại Gia vẫn có Sáu Con Một Vợ đồng có Tứ Chúng như nhau.” Nếu Đại Lực Di Lạc Tôn Phật thị hiện mà từ núi Thất Sơn nổ không có cha mẹ sanh ra thì hình thức khai Long Hoa như thế nào cũng không như nhiên. Bởi vậy có hai trường hợp Ngài thị hiện thực tế. Một là xuất gia ở chùa cũng phải có Phật Tử cùng bà chủ chùa, mỗi người một cá tánh vẫn phải chịu Lục Đạo diễn cảnh để Ngài tận độ. Hai là Ngài hiện Cư Sĩ vẫn phải có bà vợ và các con cùng Tứ Chúng, mỗi người một cá tánh cũng phải có Lục Đạo diễn bối cảnh để ngài tận độ. Nhận định thực tế biết được Ngài khai Long Hoa tại Việt Nam. “Sáu ông đạo hay sáu con tiêu biểu Lục Đạo. Mỗi Ông Đạo, cùng mỗi người con thảy đều mỗi ông mỗi tánh khác nhau, đến cử chỉ mỗi mỗi khác nhau hành động đều chẳng giống nhau, do lẽ ấy mới gọi là Sáu Đạo. Lúc nào hợp nhau đem câu chuyện Đi, Đứng, Nằm, Ngồi nơi Ngài bàn tán, có khi đến nhà bà chủ chùa hoặc Mẹ mà nói. Ngài thật biết như thế, Ngài thường nói Sáu Ông là Sáu Đạo diễn hành chớ nên chấp nê gì chúng.” –T.V. Ngài hiện Cư Sĩ, sáu người con của Ngài không hiểu được Diệu Dụng của cha nên mỗi người một tánh hành động chống lại mỗi kiểu khác nhau của Lục Đạo diễn hành. Số Chân Phật Tử tín thành còn rất ít vẫn bình thản đến với Ngài, mỗi lần hàng xóm nhìn thấy gia đình bất ổn mà vẫn có bậc tu còn theo Ngài, họ cười chế diễu, nhìn với cặp mắt khinh khi, người nhà các Phật Tử nầy lại cấm tu làm dữ, còn con trai của Ngài đánh đập không cho vào thăm Ngài. Có người con gái gọi công an bắt nếu ai còn lui tới gặp Ngài. Thật sự bậc tu lì lợm lắm, mắt thấy, tai nghe chuyện phi pháp mà vẫn tín tâm lẫn tránh, thừa dịp gặp Ngài như thường. Ngài bảo đó là pháp vô quái ngại, phải thực hiện không nên chấp sáu người con của Ngài diễn cảnh Lục Đạo. Một số rất ít bậc tu còn lại cũng tin Ngài nhưng thỉnh thoảng mới về. Số đông 3000 Chân Tử trốn biền biệt. Sau khi việc bất ổn đã xong số mới vào tu cũng rớt nhiều vì nghe kể Pháp Bất Tịnh họ thấy lạ quá không tin. Số còn lại vẫn tin. Cuối đời Ngài còn khoảng 100 Chân Tử chỉ nghe nhưng không có dịp chứng kiến cảnh nổi lôi phong. Lúc đó tôi đi cải tạo, vẫn được nghe tin việc Đạo đầy đủ nhưng vẫn chí dũng nhận được Chân Pháp, hóa giải chúng sanh tánh. Lúc ra cải tạo vẫn tu hành theo sát Ngài như thường. “Từ nơi Nhân Trí bất đồng với Phật Trí, từ cử chỉ tu tập của hàng Nhị Thừa cùng Nhất Tôn khắc biệt, nên chi càng khuyên giải bao nhiêu thì sáu Ông Đạo chung với Bà Chủ Chùa hiệp nhất. Bà vợ với sáu con một con đường phê chỉ trách móc đủ đường, đủ lối. Khi nghe Ngài là Phật, khó tin càng thêm tăng cường càng thêm diễn hành đủ thứ lớp. Ngài chưa biết nói hơn, vì nhận định bất đồng, nên mới phát sinh phê chỉ, mới có những chuyện rối rắm. Đối với hàng tín chúng có bậc nhận định đặng còn có bậc vẫn mơ màng khó hiểu Diệu Dụng Đức Ngài giữa thời Hạ Lai Tận Độ, nên Ngài mới làm bài thi nói lên đối với Ngài có hai trách nhiệm. Một là CHỈNH TRANG PHẬT ĐẠO. Hai là TẬN ĐỘ HẠ LAI.” –T.V. Sáu con của Ngài thuộc Nhân Sanh Trí cùng các bậc tu Nhị Thừa nhận định khắc biệt với Phật Trí nên: Con và vợ Ngài không tin Ngài là Phật lại còn tìm đủ mọi cách ngăn cản sự Diệu Dụng của Ngài mỗi lúc càng tăng cường làm vang nổ khắp thành phố Nha Trang ai ai cũng nghe cũng biết. Còn Chân Phật Tử Ngài hàng Nhị Thừa sợ quá trốn và bỏ tu gần hết. Trong số này phải kể trên 10 vị Tôn Giả quen tu xuất gia nhiều đời kiếp không chịu nổi Phi Tướng cũng lui về am cốc ở tư gia. Hàng Hộ Pháp rớt cũng nhiều. Đó là thời Hạ Lai Lạc Pháp Ngài thị hiện tận độ chúng sanh, làm cho chúng sanh nhận định được lối tu sai lầm ảo tưởng của Nhị Thừa đặng trở về lối tu Trực Giác kết quả vô biên xứ vào biển cả. “Phần thì diễn hóa bên trong, phần mặt ngoài lại vào thời Hạ Lai Lạc Kiếp quá ư khó khăn đối với sự việc, cứ mỗi một gia đình bất ổn, hay một ngôi chùa sự sự việc, xảy ra mất thanh bình liền bị nhà nước đưa vào những vùng cấm địa, do đó Ngài và Tứ Chúng lặng yên, chỉ trông cậy đến Đại Lực Hóa Giải, Ngài thật biết nhưng chưa bao giờ nói.” –T.V. Từ năm 1975 biến cố lịch sử miền Nam Việt Nam bắt đầu hỗn loạn, Ngài liền trực giác thấy cần phải khai mở Long Hoa sang giai đoạn cao đạo. Ngài mở Pháp Bất Tịnh ra đời cho phù hợp với Như Lai Tạng đang di chuyển cực mạnh đúng với Như Pháp. Bậc tu nhạy cảm có con mắt Như Lai Nhãn Tạng mới thấy biết. Quá hiếm hoi mới có Chân Phật Tử thấy biết, còn phần Ngài vẫn yên lặng khai pháp cho phát hỏa náo động. Số đông bậc tu của Ngài ngơ ngác, ngỡ ngàng trước diễn cảnh hỗn loạn cả ngoài thế gian lẫn trong đạo. Cùng thời gian này việc gia đình, việc trong Chùa có xảy ra ồn ào, lộn xộn liền bị tổ dân phố báo cáo, tức thì khóm phường cho đi kinh tế mới, sống trong cái tử trước mắt ai cũng lo sợ tự giữ gìn bản thân và gia đình. Ngài không dấu, lại mở cho tất cả thấy biết Pháp Bất Tịnh có vợ bé nên con, vợ Ngài trổ đủ diễn cảnh A Tu La, Súc Sanh, Ngạ Quỷ, Địa Ngục chống lại cha, chồng. Có lắm lúc cùng đường hết phương hóa giải, Ngài phải trông cậy vào công năng, công đức đã tích lũy trong vô lượng kiếp gọi là Đại Lực làm an lành. Chỉ Chân Phật Tử tình thâm, cao hơn là tình thức mới cảm thông cùng nhau che chở cho qua từng giờ, từng ngày để không bị chính quyền đưa đi kinh tế mới hoặc nông trường. Pháp diễn như thế, Tôn Giả, Hộ Pháp không có ghi tên ở phần trước sợ quá chạy trốn, sợ bị vạ lây nên bỏ mặc Ngài chống đỡ. Chính Ngài khai thị tôi nghe như vầy: “Sau này khi Chánh Pháp Long Hoa ra đời nhiều Chân Phật Tử của tôi đã bỏ trốn, họ sẽ huênh hoang lớn tiếng vỗ ngực xưng tên là học trò Phật Di Lạc. Họ sẽ ngồi nói dóc nhưng lại thuyết pháp rất hay, pháp bị giác. Ông nhớ loan truyền cho nhân sinh đừng lầm lẫn những kẻ nói Lý mà Sự bỏ không hạnh nguyện.” –T.V. Tứ Chúng thường về thân cận bên Ngài, khi Ngài ngồi im lặng, lúc Ngài hóa giải chấp mê, Ngài chỉ dạy không thiếu sót, ngặt vì trí tuệ và trình độ chưa nhận lãnh được hết. Ngài xem Tứ Chúng không khác mấy đàn con. Ngài thường nói: Tôi vui khi các ông thọ lãnh Bảo Pháp, Tôi thích khi các ông hóa giải mê lầm, vì thế nên Tôi có bài thi... ...Thiện chân tử là nguồn an ủi Pháp Tạng nầy chung buổi ấm êm Miễn sao dưới mái gương thiềm Chung vui toàn giác nỗi niềm tôi mong. Lúc gia đình Ngài đang diễn cảnh vang rền, Chân Phật Tử nào quyết tâm tu theo Ngài cầu Tri Kiến Giải Thoát đều được dạy tỷ mỉ không thiếu sót. Nhưng không phải bậc tu nào cũng nhận lãnh thông pháp như nhau nên chia nhiều trình độ trí tuệ không đồng. Số Chân Phật Tử tín thành, thù thắng vượt bao khổ ải, khổ hải được Ngài chỉ đạo hóa giải mê lầm mà tri đạo, có bậc giác ngộ, có bậc hoàn toàn Giác Ngộ. Sau cùng chỉ còn Thiện Chân Tử là niềm vui của Ngài vì có bậc đoạt Giác Ngộ đến Toàn Giác. Nghe lời Ngài nói, xem đến tình thi Tứ Chúng Ái Kính vô cùng không có bút mực nào kể nổi. Có một hôm Ngài ngồi thư thả, Chúng dâng trà, Ngài tả thi thơ, Anh em Đạo Chúng chực chờ, Ngài cười vui vẻ, lặng lờ trao thi. Chúng Tôi muốn nói những gì... Ngài liền giải đáp bài thi vang rền. Sáu ông Đạo, Sáu con tên, Có thêm bà vợ, vang rền Thất Sơn. Khi bấy giờ Tứ Chúng đứng lên, Đọc tuyên sáu Đạo sáu tên Thi rằng: KHÁNH tận Nhân Sinh chẳng nói năng TƯỜNG chưa Minh đạt, nổi lôi phong. ÂN thường Vân Lệ rơi tơi tả, OANH luyện trùng dương, khắp Tứ Phương. XOA dịu cảnh tình, chiều nắng dịu. THU MINH Vương Đế trổ an bang, HIẾN thân Tam Thế, Tiên Thần chứng. Dâng quả KIM LÊ, Pháp BẢO ĐÀN. Ấn Chỉ III Dưới Sự Nhận Định Bất Đồng –T.V. Khánh tận nhân sinh chẳng nói năng. Người con gái đầu của Ngài bị câm từ khi mới còn nhỏ, lớn lên cuộc sống lăng nhăng trốn cha mẹ, không khuyên bảo được. Cô Khánh là biện minh cho Địa Ngục môn. Tường chưa minh đạt, nổi lôi phong. Người con trai thứ hai của Ngài tên Tường không hiểu việc làm của cha, chưa thông đạt Diệu Dụng của Phật chính là cha mình, làm Ngài và Tứ Chúng phải khổ lụy. Thuộc Súc Sanh Pháp hay phát sinh gây bất ổn. Ân thường vân lệ, rơi tơi tả. Người con trai thứ ba tên Ân thấy cảnh gia đình bất ổn thường nóng giận khóc la gào thét, đập phá. Biện minh A Tu La. Oanh luyện trùng dương, khắp tứ phương. Thường đi đây đi đó hoặc đến nhà bà con thân nhân than phiền việc gia đình. Thuộc Ngạ Quỷ, là người con gái thứ tư trong nhà tên Oanh. Xoa diệu cảnh tình chiều nắng diệu. Người con gái thứ năm tên Xoa thường an ủi mẹ. Thuộc Nhân Pháp. Thu Minh Vương Đế trổ an bang. Thu Minh là con gái út thuộc giới Thiên trong nhà. Sau khi khai Long Hoa nổ vang rền, đường Đạo trong Tứ Chúng đã có bậc đoạt kết quả. Sáu người con nêu trên tiêu biểu cho Lục Đạo.. Đối với Thế gian Ngài Diệu Dụng làm cho thế giới tránh nạn thế chiến thứ ba không còn sự đe dọa tàn phá của hai phe Tự Do và Cộng Sản. Tuy Ngài không phải vì vua nhưng ẩn danh không khác vị Minh Vương của Thế Giới. Còn Đạo tận thành Chánh Quả Phật. Đạo Đời song toàn hợp nhất. Thật xứng đáng là vị Phật thừa kế đạt danh hiệu Thế Tôn. Hiến dâng Tam Thế, Tiên Thần chứng. Hiến là tên người vợ của Ngài. Việc Hộ Pháp của bà trong gia đình cho Ngài được khỏe là dâng Tam Thế, được Tiên Thần chứng minh, sau hết kiếp được thoát sinh về nơi cảnh giới ấy mà an hưởng. Dâng quả Kim Lê Pháp Bảo Đàn. Đạo được kết quả Long Hoa Hội Thượng đem đến Chánh Giác tức Pháp Bảo Đàn. Tứ chúng đọc tụng Thi xong đồng thanh đảnh lễ ra về. Tôi còn nhớ Đức Ngài thường diễn cảnh, từ nơi tánh này qua tánh khác mà mãi luôn luôn Ngài nói đó chính là Diệu Dụng Phật Tánh, tôi thắc mắc nghi ngờ càng nghi ngờ thêm lên mãi, chỉ vì tôi tu trì vẹt phá Vô Minh phơi bày Phật Tánh, tôi tin Phật Tánh là một tánh toàn thiện, toàn thuận, nếu hơi nghịch tôi quá ư khó chịu. Có một hôm tôi đến đảnh lễ Ngài bày tỏ những điều tôi chưa nhận định đặng, Ngài mỉm cười nói: "Ông hãy nghe Ta nói, rất có lợi từ đời nầy cho đến đời sau nhận định thế nào là PHẬT TÁNH. PHẬT TÁNH chung gồm tổng quát tất cả Tánh nơi Chúng Sanh Tánh đang thọ chấp, không phân biệt Tốt Xấu Thiện Ác, Tịnh cùng Bất Tịnh gọi là Phật Tánh Nhất Tôn. Nhận được Phật Tánh thật khó nghĩ bàn. Phải tu sửa, cổi giải thực tế áp dụng trong đời sống mới nhận Chân Lý được. Xem kinh, học, nghiên cứu không hạnh nguyện, trụ nơi Lý chẳng phải Phật Tánh thực thể. Phật Tánh không khác mấy với kho tạng hàm chứa tất cả Bảo Châu đủ màu sắc, đủ hình thức, đủ các yến sáng đen, trắng, vàng, đỏ... Từ khi Tạng tung lên trời trải khắp Như Lai, kẻ chưa tỏ lấy mỗi một hạt châu đến vài hạt châu theo ý mình muốn, cho đó là Bảo Châu. Còn ngoài ra chẳng phải là Bảo Châu, kẻ ấy nhận như thế, là Chúng Sanh Tánh, còn bậc thu nhiếp bá thiên vạn tánh, Vô Lượng Vô Biên Tánh chung gồm Vô Thượng Vô Đẳng Tánh Chánh Giác Phật Trí. Vì sao? –Vì tất cả thảy đều là Bảo Châu đâu có khác? Tánh nó vốn như tánh phát sanh ra từng lớp lang, từng giai đoạn trở lên vốn tánh Như Như có gì lạ đâu mà ông phải phân biệt đến dị biệt tánh nầy cùng tánh khác." Tôi nghe vô cùng mừng rỡ, tôi liền đảnh lễ xưng tán Đức Ngài đã ban cho Tôi Bảo Châu vô tận. Lắm bậc tu đạt được chân lý vội vàng xưng Phật bị Phật Giới. Hãy thực hiện thực tiễn theo vết chân Ngài vừa đi, cùng đồng hành đồng sự với Bồ Tát Ma Ha Tát đặng hy vọng vào đúng đường Nhất Tôn. Lúc bấy giờ nhìn tôi Ngài nói: "Ta đến thời Hạ Lai Tận Độ sự mê lầm Chúng Sanh đưa về Phật Tánh Chánh Giác. Nếu bậc nào nghe Ta tin Ta đứng nhìn Ta bằng phương thức nầy hoặc phương thức nọ liền đặng Tri Kiến Giải Thoát. Bằng cứ mãi nhìn, mãi nghi chấp thì đến Ba Trăm Năm Chục Năm Sau, Ta mới thị hiện để chứng minh Tận Độ." nói xong Ngài truyền đọc: Chừng nào trái đất rẽ đôi. Hai hàng thiên giới ta ngồi chứng minh./- 46. Đức Di Lạc Thọ Ký Tái Sinh Trong 350 Năm Sau ...Lúc bấy giờ nhìn tôi Ngài nói: Ta đến thời Hạ Lai Tận Độ sự mê lầm Chúng Sanh đưa về Phật Tánh Chánh Giác. Nếu bậc nào nghe Ta tin Ta đứng nhìn Ta bằng phương thức nầy hoặc phương thức nọ liền đặng Tri Kiến Giải Thoát. Bằng cứ mãi nhìn, mãi nghi chấp thì đến Ba Trăm Năm Chục Năm Sau, Ta mới thị hiện để chứng minh Tận Độ, nói xong Ngài truyền đọc: Chừng nào trái đất rẽ đôi. Hai hàng thiên giới ta ngồi chứng minh. Kỳ thi Long Hoa đợt một đã xong, nếu bậc tu hồi hướng lìa Ngã ắt được gặp Long Hoa tại Việt Nam đang trở mình tận độ chúng sanh vào Như Lai Tạng đặng nhận được con đường Tri Kiến Giải Thoát rốt ráo. Nếu chần chừ, lưỡng lự, nghe không nhận lãnh được thì 350 năm sau Ngài lại thị hiện để chứng minh việc làm của Bồ Tát cùng Tôn Giả tận độ chúng sanh. Ngài đã đoạt quả Vô Thượng Bồ Đề như Chư Phật mười phương thì không còn dạy tỷ mỉ qua lại từ đầu làm chi nữa. Năm 1993 Ngài nhập Bát Đại Niết Bàn, Ngài đã chứng minh 350 năm sau Bồ Tát và Chư Tổ hành đạo đem lại lợi ích to lớn, thực tiễn cứu độ chúng sanh. Số đông Nhân Sinh trên quả địa cầu này đều theo hạnh Cư Sĩ tu theo Chơn Tánh. Lúc bấy giờ hàng Xuất Gia thấy được mối Đạo của Chư Phật lưu truyền nay đã rẽ đôi đều đem lại lợi ích thực tiễn cho giới Tân Tăng: Xuất-Gia, Cư-Sĩ. Lúc đó 17 tuổi, Ngài từ hạnh Thái Tử, thị hiện ở quốc gia khác theo thể chế Quân Chủ Lập Hiến, có hai hàng Quan Đại Thần từ Thủ Tướng, Bộ Trưởng, Tướng Lãnh, Tổng Giám Đốc, Tỉnh Trưởng gọi là Thiên Giới dưới quyền Ngài ngồi trang nghiêm. Ngài chứng minh Chư Bồ Tát, Chư Tổ đã thực hiện việc dạy chân lý thực tiễn cho chúng sanh một cách bình đẳng. Ngài chứng minh để vào quả vị tu chứng trong vũ trụ nên Chư Tổ tùy bậc tinh tấn tu hành hạnh nguyện mà thọ lãnh quả vị. Sau đó chư vị xuất gia còn lạc pháp tự biết phải quay trở lại chân lý thực tiễn của Đức Vô Thượng Tôn Di Lạc. Quan cận thần lúc đó không đâu xa lạ mà chính là Bồ Tát, Chư Tổ, Chư Hộ Pháp lai sinh Cư Sĩ lớp Thiên Giới lúc bấy giờ học hành rất cao, từ bác học, tiến sĩ, bác sĩ, kỹ sư, giáo sư... gặp Ngài trở lại một lần nữa. Chứng minh xong Ngài liền tuyên bố nhập Bát Đại Niết Bàn mà không cần ở lại hưởng gì của thế gian. Tôi nhớ lại những diễn cảnh trước Ngài, những mê lầm Tứ Chúng trong đó có tôi nữa, làm cho Ngài phải chịu chẳng biết bao nhiêu lời giải, chịu biết bao chỉ vì Nghiệp Chủng Chúng Sanh Tánh mà ra. Tôi băn khoăn, về đến nhà với tấm lòng man mác. Gần lúc nhập Bát Đại Niết Bàn Ngài lại bảo: "Cũng có thể Tôi lại Hạ Lai thế gian, lúc 17 tuổi nhớ tiền kiếp Tôi ở lại thêm khoảng 8 đến 10 năm nữa, để ra đời Tận Độ một lần nữa nếu thấy Chúng Sanh trên Quả Địa Cầu bị đe dọa tận diệt." Ra đời tại Quốc Gia nào, nơi nào, Ngài đã khai thị cho Đại Bồ Tát. HỘI THƯỢNG, ngày 20 tháng 4 năm 06-06-1992 ẤN TRUYỀN –TỊNH VƯƠNG NHẤT TÔN Ngài căn dặn kỹ Chư Tổ, cấp Tôn Giả, A La Hán cùng chư Hộ Pháp tu hạnh Thánh Hiền. Nếu vị nào lầm lẫn tự đi Phi Tướng tức pháp Bất Tịnh cần phải có Bồ Tát thi hành Ma Ha Tát chỉ đạo cốt thoát khỏi vòng đai Pháp Giới. Bằng không bị sa ba đường ác rất nguy hại trong vô lượng kiếp. Chư Tổ, Tôn Giả, A La Hán, Hộ Pháp nếu sau này hạnh nguyện mà không gặp Bồ Tát thi hành Ma Ha Tát cũng phải thận trọng chớ tự ý phóng đại xưng Phật, xưng Bồ Tát nữa. Làm như vậy bị Tăng Thượng còn bị mang khai tướng Phật, lại làm mất pháp bảo trì từ lâu đã tu tập. Không nên xưng Phật, Bồ Tát loạn như thời Mạt Pháp mà Đức Ngài đã chứng kiến, phải đầy đủ công năng công đức và còn phải chờ khi gặp Bồ Tát thi hành Ma Ha Tát chứng minh mới được tương thông Phật Lực chính thức trở thành Bồ Tát. Phật Vương như Ngài không những chỉnh trang đường tu lưu lại hậu thế cùng trong Tam Thiên Đại Thiên thế giới mà còn sắp xếp trật tự, ổn định cho chúng sanh trên quả địa cầu nầy. Chư vị Tổ mới đắc Chân Lý, xem xét kỹ có vận chuyển Tam Muội làm an lành trong Tứ Loài được không? Nếu không chớ có xưng Phật, xưng Bồ Tát nữa. Hãy thận trọng bảo trì quả vị Thánh Hiền để Chư Thiên, Nhân Thần, Địa Thần, Thượng Đẳng Chánh Thần, Tứ Bộ Thần hộ trì xây dựng Chánh Pháp./- 7. Thời Kỳ Nhất Tôn Hoá Độ Nhất Thừa "HÀNH DỤNG NHƯ LAI TẠNG" Lộ trình Tu đi đến Vô Thượng Đẳng Chánh Giác của Đức Vô Thượng Di Lạc Tôn Phật. • Bồ Tát đi nơi Hữu Ngã mà thành Vô Ngã. Phàm Phu đi trong Vô Ngã mà thành Hữu Ngã. • Bồ Tát tu trì hạnh nguyện qua từng giai đoạn từ nơi Thanh Tịnh đến nơi Bất Tịnh từng lớp lớp chúng sanh, với chủ đích phụng sự cúng dường Như Lai thề nguyện Sự thành thử không ô nhiễm, không tập nhiễm chẳng mảy may chướng ngại sự việc mình đang hành, sự việc mình sắp làm ngày nay phải làm, chốn rỗng rang của Bồ Tát, duy nhất bậc tu chứng hạnh nguyện dung khắp mới tường tận mà thôi. –BIỆT TÔN VÔ THƯỢNG ĐẲNG KINH Thời kỳ Hoá Độ Nhứt Thừa, Ngài khai thị cho các bậc Tôn Giả tín thành, thiết tha đã từng qua pháp không chướng, không chấp. Cả đạo tràng Pháp Tạng có khoảng bốn hoặc năm vị Tôn Giả được dự vì từ hàng Thánh Hiền chuyển lên tu trì hạnh nguyện từ A La Hán đến Bồ Tát thực tế quá khó. Đúng tinh thần Ngài biết trong vị lai Tôn Giả nào sẽ Liễu Ngộ mới khai dạy Nhứt Thừa để tu đến Giác Ngộ Rốt Ráo. Tuy cùng chung trong hội trường nơi Đạo Tràng Ngài khai riêng cho lớp say đạo, cấp tu chưa say đạo đến không hề hay biết. Khi Ngài đang giảng mà có bậc nào không phải lớp say đạo vào ngồi nghe, Ngài liền chuyển pháp liền lạc cho hợp với trình độ của bậc này nên cấp tu thấp không hề hay biết Diệu Dụng của Ngài. Bậc Tôn Giả được Ngài khai hạnh nguyện, hành nguyện Bồ Tát, những bậc này thật tín tâm, nhẹ cảm những gì Ngài khai thị cho thi hành. “Tuy nhiên các Ông cùng một lứa tu hành, cùng một môn tu trì Tri Kiến, nhưng thật ra giữa các ông với các ông trình độ, tư tưởng xa cách nhau quá ư nhiều bậc, chỉ vì quan niệm không đồng, pháp giới như vậy. Đứng về phẩm Bồ Tát đối với A La Hán, Duyên Giác, Thinh Văn xa hàng triệu do tuần.” –T.V. Lời của Đức Vô Thượng Tôn rất chí tình một khi đã được ấn trao truyền thừa Bồ Tát Ma Ha Tát thì vị này thực tiễn là Thầy của họ trong vô số kiếp nữa, nhưng có quan niệm cùng chung một Thầy nên lắm lúc họ nói càn nói ẩu xem như trình độ ngang nhau. Bậc biết phải làm thinh vì cái Mê, cái Ta lầm lẫn của họ. Sau Ngài khai thị: “Cũng như Tôi vì Diệu Dụng tận độ chúng sanh mà phải bị Nhân Sinh bạc đãi, vậy Ông phải tự nguyện nếu họ quay lại tìm, hồi hướng tùy chí nguyện ông dạy cho họ được Giác Ngộ, được Chánh Giác. Thực hành đầy đủ Như Lai vô biên thề nguyện sự ông mới tròn duyên tròn nguyện phẩm công đức cúng dường Như Lai mà thành Chánh Quả.” Chư Bồ Tát là bậc tu hành đúng với Chân Tôn Chánh Tín. Bậc này đã nghe thấy biết tường tận pháp mê tín nên thường ngày tự có mạch sống thực tiễn liền lạc. Những bậc tu lâu năm tính theo tuổi kiết hạ, dù có tín tâm hay thiết tha tâm mà không thấy được chính mình bị mê tín, vẫn tu hành lạc hướng. Do đó không thể kể tu hành lâu năm hay mới tu. Cũng không tự thắp đuốc mà đi nổi. Bồ Tát thường giải được mê chấp, đó là món ăn của Bồ Tát. Bồ Tát thường tự vận chuyển thông suốt vạn pháp di chuyển nơi tánh mình để pháp Hồi Tâm. Khi gặp hoàn cảnh khó vẫn an nhiên chú tâm hóa giải an lành. Đó là y áo Bồ Tát. Bồ Tát đối diện trước nghịch cảnh dù gai góc gay cấn đến đâu vẫn tự quán biết rõ nhưng tâm không phiền trách đó là Bồ Tát Nhãn Tịnh, Nhĩ Tịnh liền có cái nhìn Chân Giác, quân minh vượt tầm tỏ thông cái thấy của A La Hán. “Nhờ Đạo Hạnh kiên trì nên Bồ Tát mới đặng đôi mắt Nhãn Tạng vệ tinh soi khắp thế gian cùng xuất thế gian không lầm lạc.” –T.V. Bồ Tát thường dùng ái ngữ cùng cử chỉ cao đẹp, làm cho chúng sanh ái kính, nhờ đó gần gũi chúng sanh mà biết tỏ tường nơi thếâ gian đến các cõi ngoài thế gian như Tiên, Thần không có lầm lạc. Bồ Tát biết từng Pháp Tánh từng Bổn Lai Diện Mục của mỗi mỗi chúng sanh bị thọ nhiễm ra sao, phải hành dụng như thế nào, Bồ Tát liền giúp đỡ tháo gỡ độc nhiễm rất kết quả khiến chúng sanh giải mê hết lầm. Bồ Tát không hề chỉ thuyết pháp suông mà nhờ mắt Nhãn Tịnh, tai Nhĩ Tịnh, nên quan sát tỷ mỉ theo dõi chỉ bày chúng sanh áp dụng lối tu hóa giải ngay trong gia đình, trong chỗ làm việc. Sau kiểm tra chỉ bày ưu điểm, khuyết điểm dần dần chúng sanh bớt cái sai được cái đúng đến lúc không còn cái sai chỉ còn cái đúng. Bậc tu tín tâm được an lành thoải mái biết việc mình làm, ý thức lời nói dẹp tan được Vô Minh. Hàng Bồ Tát không ngồi giảng Tham, Sân mà Hành Dụng, Diệu Dụng cho bậc tín tâm vào tham, vào sân sau va chạm bị hư hỏng thấy rõ mình bị tham, bị sân độc nhiễm liền tự tháo gỡ được an lành. Bồ Tát đã từng kề cận Chư Phật, đã từng trải qua tham, sân, si. Đã từng được Phật Diệu Dụng nay ắt phải biết cứu độ chúng sanh, cứu độ A La Hán được tỏ tường mà không dính mắc Tham, Sân, Si. Thật khó gặp bậc biết hành dụng, diệu dụng chỉ bày Thinh Văn Hạnh, Duyên Giác Hạnh, La Hán Hạnh, Bồ Tát Hạnh. “Bồ Tát biết công dụng Pháp Đảnh nơi đỉnh đầu Nhập Định Xuất Định diễn thông tam giới, có thể đo lường trọng lượng sắc thái nơi các cõi trong tam thiên vũ trụ, di chuyển từng sát na thoải mái, không khác nào các nước văn minh dùng phi thuyền khám phá vũ trụ, do nơi công năng kiến tạo tường tận không còn mảy may nghi chấp, bậc này thường nói: Ta chẳng còn lấy một nghi chấp nào cả.” –T.V. Bậc tu đoạt được từ Giác Ngộ, Đại Ngộ, Liễu Ngộ đến Vô Thượng Đẳng Chánh Giác biết dụng pháp đảnh cao thấp rộng hẹp tùy mức tu chứng những bậc này đều nương theo thể tánh tỏ Thiền tức tỏ Thiền Tánh. Thể Tánh Thiền không khác với Pháp Tánh. Thể Tánh thiền nương chìu theo từng vọng khởi từng tà niệm của bậc tu chạy theo sự mong muốn thành giới hạn. Bậc biết nương theo Thiền tức nương theo Thể Tánh hóa giải mê lầm được biết rõ Thể Tánh vốn Viên Tịch, vốn sáng sẵn nơi Nhân Sinh. Lại tùy bậc tu hành thâm pháp giới tỏ rõ cạn sâu mà đoạt Giác Ngộ, Đại Ngộ, Liễu Ngộ, Vô Thượng Đẳng Chánh Giác. Những Bậc Giác Ngộ còn phải hành thâm vào Giới ra Giới, phải tinh tấn thi hành Tịnh-Bất Tịnh dung thông 10 năm, 15 hay 20 năm sau mới vào được Định. Nếu bậc tu Đại Ngộ sẽ được Đại Định, bậc tu Liễu Ngộ từ Đại Định lìa định vào Liễu Định. Bậc tu dám tiến sâu vào vô minh đúng mức liền thị chứng Diệu Âm, vào vô minh thêm nữa sẽ thị chứng không còn pháp nào cao hơn nữa... Nếu bậc tu đắc Vô Thượng Đẳng Chánh Giác một thời gian sung mãn công năng công đức sẽ vào Chánh Định. Từ Chánh Định phải tu sống động nữa nơi Hữu Tướng Phi Tướng để từ Chánh Định vào sâu Thần Thông Tam Muội, tỏ tường trơn liền Tam Muội. Bậc tu dù thuộc bất cứ pháp môn nào, tôn giáo nào cũng phải duy nhất tuần tự sở đắc từng phẩm như vậy. Đây là lộ trình Chư Bồ Tát đúng nghĩa đến với Như Lai Phật, Thượng Đế, Đấng A La không có con đường thứ hai nào khác. Ngoài ra đều là Man Khai Tướng Phật. Phật thân và tâm là một. Còn chúng sanh thân và tâm là hai. Tu chừng nào thân tâm là một mới xuất định được. Có bậc thật giỏi, trí tuệ không chướng, không chấp, không mắc miếu khi Giác Ngộ một thời gian nhập định được nhưng lại không xuất định được. Chỉ dùng Định Tưởng để xuất Định theo Tiên Thần Trí, giới này nhiều vô số, thuộc ngoại giáo. Tu theo Đức Vô Thượng Tôn Di Lạc mới thấy được biển cả bao la vô tận, phải đào, phải bới chẳng thiếu sót pháp mới có nhập, xuất Chánh Định. Thật khó khăn vô kể mà cũng an lạc vô kể, nó Bất Khả Tư Nghì, chẳng thể dùng văn tự giảng giải được. “Quốc độ là hàm chứa trang nghiêm bảo pháp do Phật Lực hiện hành, Chư Bồ Tát an trú, do như thế nên bậc thiện căn, thiện chí đến mức nào chẳng làm thế nào nhìn nhận đặng.” –T.V. Quốc độ chư Phật quá khứ cũng như quốc độ Đức Di Lạc Tôn Phật hiện hành đầy đủ trang nghiêm. Bậc tín tâm tu tập theo Ngài khi có hoàn cảnh đều được bảo bọc nơi Phật Lực đầy huyền diệu. Chư Bồ Tát đều được nương nhờ Phật Lực này tu hành. Khi bậc tín tâm cùng Chư Bồ Tát gặp hoàn cảnh không hóa giải nổi đều được Phật Lực đầy quyền năng, đầy mầu nhiệm chở che cho qua khỏi nạn tai khổ ải. Có hạnh nguyện tu hành trong thời Hạ Lai Mạt Pháp gặp được Đức Di Lạc Tôn Phật mới nhìn nhận Phật Lực của Ngài đầy bao dung, tận độ chúng sanh khó nghĩ bàn. Những bậc càng Tin Vâng Kính, Ngài càng mở pháp nghịch. Có lắm lúc không chịu nổi bỏ đi nhưng dù có xa lánh ở đâu cũng được Phật Lực cứu độ hồi tỉnh, không khác nào Tôn Ngộ Không được cái vòng kim cô dính trên đầu do tâm Đại Bi của Quán Thế Âm Bồ Tát cứu độ. Số Chân Tử không phải thành phần xây dựng Đạo, họ ở vòng ngoài của tổ chức Trung Ương không hề hay biết. Thế mới biết cùng đạo tràng, cùng một hội trường mà lối tu thọ lãnh Chân Pháp của Ngài khác xa nhau triệu triệu do tuần. Thế cho nên dù bậc tu thiện căn, thiện chí đến mức nào chăng nữa mà không lập pháp xây dựng Chánh Pháp vẫn không hề nhận biết đường Đạo tận độ chúng sanh. “Sau khi thành Phật thân tâm là Như Lai trùm khắp. Đối với bậc Chánh Giác thân vốn Như Lai, đó chính như nhiên không hai tướng.” –T.V. Đức Bổn Sư Thích Ca Mâu Ni Phật thọ ký Bồ Tát Di Lạc thời Hạ Lai Mạt Pháp thành Phật. Lúc bấy giờ Đức Di Lạc đã sở đắc Vô Thượng Đẳng Chánh Giác. Ngài đã phải Hạnh Nguyện hành thâm Pháp Giới. Đến nay đã được 2539 năm Phật Lịch mới thành Chánh Quả Phật. Thật khó khăn vô kể! Thời này Ngài quán xét lại có lắm bậc sở đắc Vô Thượng Đẳng Chánh Giác học thuyết, giả thuyết mà hạnh nguyện vạn pháp còn cạn cợt vội xưng Phật trở thành Phật Giới bị lầm mê. Như đã trình bày phần trước, vị Phật trước phải dạy chu đáo rồi thọ ký cho Bồ Tát thừa kế sau sẽ thành Phật. Nếu không, dù Chư Bồ Tát nào có sở đắc cũng vòng quanh lục đạo không sao nhập thể được, Vũ Trụ tức Như Lai không công nhận. Phật phải có thể hiện hàng Thánh Chúng và Bồ Tát Thượng Thủ. Còn tự xưng Phật mà dạy chúng sanh, sau này chúng sanh niệm chúng sanh nghe, còn xa chân lý và vô minh dầy đặc nên không nhập thể vũ trụ được, phải học chư Tổ, chư Thánh cho xong đã. “Nơi kinh Duy Ma, ông A Nan xin sữa, ông Duy Ma quở trách: Ông A Nan, ông chớ nên nói thế, Như Lai bất diệt, Như Lai nào có bệnh, ông nói như thế bọn ngoại giáo nghe, họ tự sanh lòng sanh diệt, làm cho A Nan bở ngỡ chưa phân định được, liền bưng bình bát trở về. Sau đó trên hư không mới gọi: Ông nên lấy sữa để Đức Thế Tôn dùng. Vì tất cả chúng sanh đang bệnh nên Phật mới thị hiện bệnh, chớ nào phải Ngài bệnh.” –T.V. Thời Đức Bổn Sư Thích Ca Mâu Ni Phật, Vị Cổ Phật Duy Ma giải thích cho ông A Nan để cho đời sau khỏi lầm: Chúng sanh Tướng và Tâm là hai còn sanh diệt. Hàng Nhị Thừa cũng còn sanh diệt. Còn Phật Tướng Tâm là một. Thân Phật tức thân Như Lai. Đức Bổn Sư và Đức Di Lạc đều đoạt được Kim Thân nên thân tứ đại muốn ở hay vào Niết Bàn đều tùy ý. Chúng sanh tánh chư Phật không còn bệnh gọi là Phật Tánh. Chúng sanh tánh Tứ Chúng tu theo Ngài còn bệnh nên Đức Bổn Sư mới thị hiện thân Tứ Đại bệnh để chỉ cho Tứ Chúng biết. Thời Đức Di lạc tôi đã từng chứng kiến, Ngài bảo quyết ban Bảo Châu cho Tứ Chúng nhưng số đông đều bị lầm Đức Vô thượng Tôn Di Lạc bị bệnh tai biến mạch máu não. Vì tất cả chúng sanh đang bị bệnh thiếu trí nên Đức Di Lạc Tôn Phật mới thị hiện bệnh tai biến mạch máu não. Ngài nhớ lại Đức Bổn Sư bảo Ngài thời Mạt Pháp phải thị hiện thân điên loạn để tận độ chúng sanh nên Ngài bắt đầu đuổi, khai trừ, làm dữ các Chân Tử vòng trong, cho số Chân tử vòng ngoài quậy, canh giữ, đuổi để bậc tín tâm không vào thăm Ngài được. Vì lúc này Ngài đang mở khoa thi lần thứ hai. Những lần Chân Tử thuộc vòng trong thấy tình hình khó khăn không về thăm, Ngài liền nhắc, nhưng khi nghe tin đến thăm liền bị Ngài đuổi, bậc hỷ xả phải ở ngoài phòng chờ dịp nhìn qua cửa để thăm Ngài. Ngài dụng nhóm con cháu Đề Bà Đạt Đa, thừa dịp này họ lộ diện ác căn rất rõ đểõ đuổi số Hộ Pháp, Tôn Giả, Bồ Tát tín thành đang ở quanh Ngài. Vì có thị hiện bệnh tai biến mạch máu não nên Ngài mở cho đánh mới hợp với như nhiên, chính Như Pháp. Còn như Hòa Thượng Tế Điên không bị bệnh não mà thị hiện Phi Tướng nên không phải Như Pháp, thuộc La Hán Hạnh. Bà Tạng Trình hàng Tôn Giả ở sát bên Ngài cũng lầm, cứ nói Ngài bệnh, thật ra Kim Thân tức Như Lai nào có bệnh, Tứ Chúng bệnh Ngài mới thị hiện bệnh để đưa qua ngăn chấp, nghi chấp làm cho họ thọ lãnh bảo châu tức Như Pháp. Còn những kẻ thừa dịp trổ hình chướng đối được dịp tha hồ đem lòng xấu xa, ganh tỵ cố đánh, giết hàng tín tâm tu vòng trong đã thể hiện rõ con cháu Đề Bà Đạt Đa thuộc Ma tằng quỷ quái, hải tặc sơn lâm. Ngài thị hiện bệnh não cho đánh đập dữ dội một số trên 10 vị trong danh sách vòng Trung Ương vì nó là Như Pháp nên không ai chấp chướng trái lại tìm đủ cách phục vụ cho Ngài khỏe. Vào Nhứt Thừa tu khó khăn vô kể! “Thật cao quý thay! Có mỗi một điểm tựa nhỏ mà Chánh Báo vô tận, thân tâm bao dung, biết trọng cho tất cả mọi người, tha thứ cho tất cả mà tự đặt mình vào cương vị quá ư tuyệt mỹ. Do đó nên chi Bồ Tát phát Đại Nguyện rằng: Như Lai vô biên thề nguyện sự.” –T.V. Chỉ cần nhận chân được Như Pháp nơi Ngài thị hiện để tận độ chúng sanh tánh, chỉ một khởi điểm nhỏ liền vào con đường Tri Kiến Giải Thoát mà Chánh Báo vô tận vậy. Dù bị đánh đập, vẫn không giận Ngài, không oán hận con cháu Đề Bà Đạt Đa gây tác tệ, thân tâm được bao dung, được xem như phẩm trợ duyên nghịch hành, thật quá ư tuyệt mỹ. Hàng Bồ Tát mà chưa thấu đạt được Kim Thân Phật Lực thì chưa nhẹ cảm thấy hết Như Pháp. Như Pháp chính là Vô Sư lúc bấy giờ mới tự giác thi hành Ma Ha Tát được. Tề Thiên trong Tây Du Ký là tượng trưng cho Trí của Tam Tạng Pháp Sư, dù cho Tề Thiên Đại Thánh có làm được việc siêu phàm, nhảy xa cuối chân trời vẫn được Chư Phật bảo bọc, có nghĩa lúc nào Phật Lực cũng hiện hành tận độ. Cho dù Tề Thiên Đại Thánh có tài trí đến đâu cũng phải tôn Pháp Sư Tam Tạng làm Thầy chỉ giáo cho. Ý chỉ có Trí phải có Đức. Đức Trí tương song mới Sở Đắc Chân Nguyên. Trong Long Hoa Hội Thượng, Đức Vô Thượng Tôn Di Lạc thường chỉ bày rất chu đáo cho những bậc có Trí phải thi hành tạo Đạo Đức cho tương song. Có Trí sống trong đời lanh khôn hơn Nhân Sinh nhưng làm theo Trí, ăn trên thiên hạ rồi cũng đến lúc sụp đổ nát tan trông thê thảm, nên cần tạo đạo đức mà trí kém còn có lợi cho đời hơn. Những vị hộ Pháp cần tạo Đạo Đức là những vị đạo đức kém. Cần chú tâm quán xét kỹ, phải uốn lưỡi bảy lần trước khi nói, phải bình tĩnh chọn lựa ác và thiện trước khi hạnh nguyện để khỏi rơi vào ác căn. “Bậc tu hành lúc qua trở lực, khi tận thấu diễn hóa vạn pháp mới biết đặng không có Ma Tánh, qua từng trở ngại vi tế, do nội tâm phát hiện mới liễu thông sự ngăn cách cản trở nơi Ma Nghiệp, nơi nghiệp lực của Ma Lực nó rất đáng kể. Khi các bậc tu hành qua các trở lực, nhiếp độ trong sạch căn tánh liền Chân Giác ba cõi, sáu đường trở thành tự tánh Pháp Thân, rốt ráo Pháp Thân mà Chánh Giác Bát Đại.” –T.V. Trên thực tế Bồ Tát tu hành theo sự chỉ đạo của Đức Di Lạc Tôn Phật thật khó khăn vô kể, cứ mỗi lần hành nguyện là mỗi lần bị pháp cản ngăn, nó liên tục làm tê liệt bậc chí nguyện Bồ Tát. Đến nỗi nhiều Tôn Giả phải bỏ cuộc, hoặc dang dở thấy khó sinh ra chán cũng bỏ. Số này rất đông mặc dù họ thông chân lý, cuối cùng thích ngồi thuyết pháp dễ hơn nên bị thọ chủng Thinh Văn Hạnh không sao lập Duyên Giác Hạnh cho tròn được. Hiếm hoi lắm Ngài mới có được một Bồ Tát vượt qua được các trở lực, mới thấu đạt vạn pháp diễn hóa. Chừng đó mới tự giác không phải do Ma Tánh. Chỉ cần ý thức vượt qua từng trở ngại nơi thân tâm thành một, không còn Ma Nghiệp gọi là nghiệp lực cản ngăn. Vừa độ khổ vừa chí bền theo nguyện của Quán Thế Âm Bồ Tát, Đại Thế Chí Bồ Tát mới chí nguyện gần Phổ Hiền Bồ Tát vào Nhứt Thừa được. Tất cả bậc tu cho đến chúng sanh vì còn làm biếng mới phải làm siêng gọi là Tinh Tấn Hạnh Nguyện, chứ một khi đã không còn làm biếng thì đâu cần làm siêng tinh tấn. Nếu tinh tấn nữa vẫn là bệnh. Pháp của Nhứt Thừa, Bồ Tát việc đến biết làm nên không sanh pháp. Chúng sanh còn làm siêng làm biếng nên còn sanh diệt. Tương đối pháp là mê lầm. Tuyệt đối pháp là Giác. Đến lúc làm gì cũng đúng liền Thị Chứng Vô Thượng Đẳng Chánh Giác. Bậc tu hạnh nguyện không ngoài ba cõi sáu đường, sạch sẽ trơn liền tự đạt được rốt ráo Pháp Thân Bát Đại. Bát đại là tám (8) Đại đều được như nhiên Đại Thanh Tịnh: Địa Đại, Thủy Đại, Phong Đại, Hỏa Đại, Hư Không Đại, Tạng Thức Đại, Như Lai Đại, Giác Tướng Đại. “Bằng chưa Chánh Giác, nơi tự tánh, tự ngã pháp thân thời thảy đều Pháp Giới Phật Giới. Khi đã vương nơi Phật Giới an trụ Pháp Thân, thời gian liền thị hiện Tam Giới độ sanh Tận Giác Vô Thượng Đẳng Chánh Giác Bát Đại Niết Bàn.” –T.V. Bậc an trụ nơi Phật Giới bị bản ngã, Pháp Thân chưa hạnh nguyện đầy đủ, cần phải đi trong ba cõi, sáu đường độ sanh chẳng thiếu sót pháp giới nào nữa mới gọi là Tận Độ. Có Tận Độ mới mong được Tận Giác Vô Thượng Chánh Giác Bát Đại Niết Bàn. Tận độ thật quá khó khăn. Vì phải hành pháp lạ nên chẳng mấy ai qua nổi. • Muốn thấy vật lạ. Phải làm sự lạ. • Pháp lạ khó nghe. Cần hỷ xả. • Tất cả thiện ác. Không chấp không chướng, tâm ý dung thông. –VÔ SƯ KINH Làm sự lạ phải cầu Chư Phật Chánh Quả khai thị, vận chuyển vạn pháp lạ được mới thấy điều kỳ diệu. Pháp lạ khó nghe. Nghe gì cũng không chướng đối, cũng không nghi chấp cần tỏ tường pháp tánh rồi hỷ xả đến lúc khó nghe mà vẫn nghe một cách tự nhiên tâm trơn liền không nhàm chán lại còn tìm đủ phương thức cầu tiến không ngừng. Cái nghe, cái thấy phải hạnh nguyện tự giác như vậy. Đến cái biết dù nhỏ cũng chú tâm quán sát chẳng lơ là, còn cái biết dù lớn cũng không tự mãn, tự kiêu. Càng độ chúng sanh tánh càng hiểu biết rộng thêm cũng vui mừng, nhưng không trụ mừng. Đến tận biết sở đắc Vô Thượng Chánh Giác. Tu như vậy không bị thọ Phật Giới. Bởi vậy mở đầu khai kinh, Tôn Giả A nan ghi: Khai kinh kệ, Vô Thuợng thậm thâm vi diệu pháp. Nơi bá thiên vạn pháp khó gặp Phật Vô Thượng Chánh Giác có đầy đủ chủ quyền Phật Lực thành Phật. Nếu gặp được Phật là căn cơ sâu dày mầu nhiệm mới nhận lãnh lời văn đắc Chân Lý bảo trì, lại nguyện giải toàn Như Lai Pháp thành chân thật nghĩa. “Thời quá khứ tiền thân Đức Bổn Sư Thích ca Mâu Ni Phật còn hiện thân Bồ Tát gọi là Thường Bất Khinh Bồ Tát nơi kinh Pháp Hoa: Khi bấy giờ Thường Bất Khinh Bồ Tát sở đắc Hiện Nhứt Thiết Sắc Thân Tam Muội. Nhìn thấy tất cả chúng sanh đều là ứng thân Phật thị hiện. Ngài đặng biết đồng ứng Như Lai, làm hàng bá thiên Vạn Hạnh đi, đứng, nằm, ngồi đầy đủ tư cách tốt xấu, sạch dơ. Ngài liền đến từng người lễ bái thưa gởi: Chính các ông là Phật. Tất cả thảy đều cho Thường Bất Khinh điên. Chớ nào hay nào biết đặng bậc say sưa đánh cờ kia mà say sưa Đạo Phật tu vẫn thành Phật. Kẻ chơi Tiên chìm đắm nọ mà tu trì chìm đắm tỏ ngộ vẫn đặng thành Phật thì sao? Đó là không giới tròn giác vậy.” – T.V. Bồ Tát sở đắc Tam Muội mới hành dụng tận độ chúng sanh tánh theo một con đường duy nhất mà Chư Bồ Tát quá khứ, hiện tại, vị lai đều phải trải qua một lối, phải chung một đường. Ngài nhìn thấy tất cả chúng sanh vốn có Phật Tánh, vốn sẵn có bá thiên vạn hóa thân, thân nào cũng là Phật hiện cả nhưng vì mê lầm do tham sân si rồi tranh giành hơn thua đủ muôn ngàn lối nên Phật tánh bị che ẩn không hiện được. Chư Bồ Tát nào cũng phải biết thị hiện xác thân này vạn hạnh mới tận độ hết chúng sanh tánh nên Ngài lập hạnh làm cho chúng sanh khinh chê để phơi bày hết pháp tốt xấu, sạch dơ. Từ đó xem xét tâm đã trơn liền chưa, nếu thấy còn chớp động phải tự nguyện hành dụng cho sạch gọi là tận độ. Thực hiện xong Bồ Tát thành tựu hạnh Thường Bất Khinh có nghĩa chúng sanh khinh chê mà Bồ Tát không thấy có bị khinh chê, không thấy oán hờn mà lại càng hỷ xả để cúng dường Như Lai. Cho nên chư Bồ Tát không một pháp nào chẳng hạnh nguyện, cốt để tự độ và tha độ. Chúng sanh, bậc Nhị Thừa thường khinh chê Bồ Tát nên bị bê trễ không theo kịp con đường Chư Bồ Tát đã đi. Thật khó có cơ hội gặp lại để cầu Tri Kiến Giải Thoát rốt ráo. Hàng Nhị Thừa thấy hạnh Thường Bất Khinh của Bồ Tát, vội hùa theo nguyền rủa bị tổn thương không còn bảo trì công đức thật tai hại ắt bị sa Địa Ngục thọ báo. Thời Đức Bổn Sư Thích Ca Mâu Ni Phật khi còn hạnh nguyện Bồ Tát đã thực hành hạnh nguyện Thường Bất Khinh đến thời Hạ Lai Mạt Pháp Đức Di Lạc Bồ Tát cũng lập hạnh Thường Bất Khinh sau lập Trang Nghiêm Hạnh thành tựu Phật Quả. Đường đi trước và sau của Chư Bồ Tát cầu Diệu Quả Bồ Đề phải hiện Sắc Thân Tam Muội mãi cho đến khi hoàn toàn viên mãn. Không có con đường nào khác, chỉ duy nhất một con đường Nhứt Thừa này để thành tựu vào Tối Thượng Thừa. Chúng sanh thấy hạnh nguyện Bồ Tát chớ nên chướng đối mà bị tổn thương quá to lớn, cũng chớ nên dung dưỡng trông đợi ảo mộng tối tăm. Hãy nhìn, hãy nghe nơi thị hiện sắc thân Tam Muội của Bồ Tát mà sở đắc tự biết Không Tướng đến Giác Tướng. Giác Tướng là Tướng Phật. Bồ Tát cầu Diệu Quả Bồ Đề không lập giáo môn chỉ do chúng sanh đa bệnh mà Bồ Tát phải đa hạnh. Thời Hạ Lai vẫn không lập giáo môn chỉ tùy căn sâu cạn, tùy duyên lơi, duyên thiết tha mà hóa độ thôi. Bồ Tát ắt phải am tường đường đi của chư Phật hiện tại vừa Bát Đại Niết Bàn nên chỉ chuyên hóa giải quan niệm tạo thành nghiệp cứu độ chúng sanh. Trong hư không không thấy vết chân Chư Phật nhưng Bồ Tát tìm lại được dấu vết Chư Phật đã đi nay theo không hề có lạc đường. Trong hư không, không còn dấu vết mà tìm được dấu vết mới thật vi diệu nên Bồ Tát nhất tâm cổi giải an lành như nhiên cho chúng sanh cùng hàng Nhị Thừa, hàng A La Hán tu chứng mà thôi. Bởi vậy kẻ say mê đánh cờ, bậc thọ nhiễm Tiên Đạo nếu lìa chấp, lìa chướng gặp Bồ Tát vẫn được chỉ dạy thoát chìm đắm đặng Giác Ngộ. Phẩm Phật Quốc trong kinh Duy Ma như sau: “• Trực tâm là Tịnh Độ của Bồ Tát, khi Bồ Tát thành Phật, chúng sanh không đua vậy sanh sang nước đó. • Thân tâm là Tịnh Độ của Bồ Tát, khi Bồ Tát thành Phật chúng sanh đầy đủ công đức sanh sang nước đó. • Nhẫn nhục là Tịnh Độ của Bồ Tát, khi Bồ Tát thành Phật chúng sanh đầy đủ 32 tướng tốt sanh sang nước đó.” –T.V. Tu lâu lên chức Đại Đức, Hòa Thượng mà khi già bệnh hoạn rồi hôn mê chết do tại sao? Thân theo tư tưởng, nói sao làm vậy nên còn đang làm chúng sanh Hộ Pháp tức Chúng Sanh Tăng. Do đó thân với tâm là hai. Chừng nào chịu tu sửa đến lúc tâm nghĩ như thế nào thân làm y vậy là một thì sở đắc chân lý. Thích suy nghĩ, học, tụng kinh, xem kinh rồi thuyết giảng thì hay. Còn chịu khó, chịu khổ làm để sửa tánh, sửa tật xấu thì không làm, Thân Tâm thành hai là chúng sanh. Chân lý chỉ có một đường duy nhất là Giác. Nhiều bậc rất tin tướng Phật, cốt Phật mà không chịu tu Tâm. Có lúc Tâm chịu tu mà thân không chịu hành nên không có Trực Giác. Chư Bồ Tát Thân Tâm là một, Tâm và Pháp tái hợp làm một đó là Tịnh Độ của Bồ Tát. Bậc tu còn tâm thức động vọng nên cần Thiền Định đạt Tịnh Tâm. Đã tịnh tâm đương nhiên tịnh độ của Bồ Tát chừng đó mới có Trí Huệ. Trí Huệ không mắc miếu nơi đâu thì đâu đâu cũng đều là Tịnh Độ được tận thấu Trực Tâm. Thiền Định và Tịnh Tâm vốn là một, nếu là một liền có trí tuệ. Không Thiền Định không phát triển Trí Tuệ, không có Trực Tâm. Nương nhờ Thiền Định mới Giác. Thời Đức Long Hoa Tăng Chủ Di Lạc Tôn Phật, Ngài dặn dò rất tỷ mỉ, nhiều bậc tu làm biếng Thiền Định hay gặp hoàn cảnh khó khăn bỏ Thiền nên Ngài dỗ dành khuyên bảo không khác ông cha thương đàn con còn dại khờ. Bậc tu còn thân tâm là hai, dù tu lâu năm khi chết vẫn còn sanh tử chớ không đi đâu được. Khi thân tâm là hai thì tâm và pháp cũng là hai nên phản nhau cũng như bậc tu theo chư Phật, tâm muốn tu giác nhưng pháp đến mình chê. Rõ ràng tâm và pháp là hai nên không được về Tịnh Độ. Khi thành Phật chúng sanh tánh đã được thanh tịnh cũng được trả về Quốc Độ Chư Phật, được sanh sang Phật Quốc. Nhẫn nhục mà biết hóa giải vạn pháp trong Đạo Hạnh sẽ trực giác Tịnh Độ của Bồ Tát. Còn gọi là Nhẫn Nhục Tam Thừa. Chúng sanh nhẫn nhục cứ làm thinh không tu sửa, không hóa giải, thời gian hóa khờ không có trí tuệ. “Bồ Tát nương nơi Công Đức Như Lai. Tĩnh tọa an nhiên, đồng thuyết pháp cho vô số chúng sanh nơi mình đặng nghe pháp, lãnh hội lời thuyết ngôn, tất cả thảy đều đặng nhiều môn giải thoát, đó là những vị đã từng Cúng Dường Như Lai nên ngày nay mới nói như thế.” –T.V. Bồ Tát không soạn bài chuẩn bị giảng, cũng không nghiên cứu kinh để thuyết pháp bao giờ. Bồ Tát thân cận Tứ Chúng cùng chúng sanh, nương vào họ lập công đức tu hành thực tiễn, nhận chân được nghe thấy biết chính là Như Lai Pháp tùy căn bệnh của chúng sanh, cùng căn bệnh bậc tín tâm rồi từ đó thuyết pháp đúng thọ chủng, thọ nghiệp của họ, làm cho chúng sanh cùng bậc Tín Tâm tỏ thông Giác Ngộ. Chính hạnh nguyện như vậy mà Bồ Tát được nhiều tài liệu, nhiều môn giải thoát để Cúng Dường Như Lai đặng thành Phật. Bồ Tát dần dần trực giác chu đáo Thinh Văn Hạnh, Duyên Giác Hạnh, La Hán Hạnh tận thấu không còn ưa thích cá nhân cá tánh, chỉ nương pháp Như Nhiên nơi mình, nơi chúng sanh, nơi bậc tín tâm để tận độ. “Thời bấy giờ có vị Thiền Sư Bồ Tát, sở đắc thần thông, dạo khắp tam thiên thế giới rồng người. Khi dùng Lậu Tận Thông biết đặng nghiệp lậu chúng sanh. Dụng Tha Tâm Thông tỏ rõ tâm trí rồng người. Dùng Túc Mạng Thông quán sát tuổi thọ từng các cảnh giới. Dụng Thần Túc Thông tận rõ nơi thọ ngã chư Thiên Tiên.” –T.V. Có tu ở gần Đức long Hoa Tăng Chủ mới chứng kiến Ngài có đầy đủ Lục Thông thị hiện nhiều vô số vi diệu pháp, để tận độ Tứ Chúng trong đạo và nhân sinh cùng tứ loài thời Hạ Lai Mạt Pháp này. Ngài biết tất cả nghiệp căn, nghiệp lậu của từng Chân Tử, lúc nào cũng khai thị cho họ tháo gỡ đến tỏ thông nghiệp lậu. Bởi vậy, Ngài thường diệu dụng phi tướng cho bộ Trung Ương nhưng số này vẫn tin vâng kính Ngài. Những bậc cùng tu trong Long Hoa Hội mà thờ ơ, ở vòng ngoài không khi nào biết rõ diệu dụng của Ngài. Họ được Ngài hoá độ thuận hành, cuộc sống được sung túc vật chất như ý họ mong cầu. “Thiền Sư Bồ Tát tận dụng thường dùng Ngũ Nhãn, Lục Thông, đo lường tất cả Nhân Thiên, Tiên loài thảy đều chánh báo bị sanh gây tạo thân hình, thân mạng không thực thể. Vị Thiền Sư Bồ Tát ngạc nhiên tự thốt ra nơi cửa miệng: Lạ thay! Có thân mạng chưa có chủ quyền, sống theo sanh diệt đồng ứng chưa tận giác chỉ là con nộm mà thôi.” –T.V. Đức Di Lạc trong thời Hạ Lai Mạt Pháp này chứng thị tất cả bậc tu từ nhân sinh đến Tiên Thiên do nghiệp chủng mà bị sanh thân mạng như đã hành động. Ăn ở, sinh sống, tập nhiễm như thế nào thì khi chết lai sinh về nơi ấy mà thọ hưởng Chánh Báo, Thọ Báo phân minh. Có thân mạng chưa có chủ quyền: Thân mạng không tu Tri Kiến Phật, Phật Tri Kiến thì không có chủ quyền Phật Lực. Chỉ có Ma Lực nên thân mạng bị nó sai khiến không kiềm chế được, thân chỉ là con nộm múa may quay cuồng theo người tạo ra con nộm. Bậc tu không theo vết chân chư Bồ Tát ắt bị Ma Lực sai khiến. Thân làm theo ý Ma Lực điều động phải sống sanh diệt tức theo sanh tử luân hồi. Bậc tu dù tín thành, thiết tha mà chưa thấu đáo đúng đường dây sanh tử thì có tu bao lâu chăng vẫn bị sanh tử luân hồi như chúng sanh. Thời Hạ Lai Ngài dùng Ngũ Nhãn, Lục Thông khai thông đường đạo cho Tứ Chúng trong 37 năm tại thành phố Nha Trang, Sàigòn, Qui Nhơn, Đà Nẵng, Huế nhưng số nhận được sở đắc chân lý cũng quá hiếm. Tu hành khó như vậy mà nhiều bậc chưa tỏ đường dây sanh tử vội xưng Thánh, xưng Phật là do Ma Lực làm chủ điều động. Chính nhiều bậc bị nó xâm chiếm toàn thân mà không hề hay biết. Thật lạ thay cho sự tu hành Thọ Ngã. “Nay ta công dụng Thần Thông đồng ứng Nhãn Tạng Trí Hóa đặng biết vẫn lầm nơi pháp giới tận biết, từ ngoài đến trong từ trên đến dưới mà chưa Tận Giác thân mạng nơi ta, chưa thấu tường tận bản thân thị chứng đường dây sanh tử, thì làm sao tận giác? Vị Thiền Sư Bồ Tát tự hỏi xong, lặng lẽ đến một phiến đá an dưỡng, đồng soi khắp thân tâm qua hàng trăm tuần nghìn lớp lớp, thời gian tận giác Chứng Thị Chánh Giác.” –T.V. Khi Ngài còn đang hành nguyện, Đức Di Lạc nhắc nhở lớp Bồ Tát theo sau cần tự soi khắp thân tâm từng lớp lớp chúng sanh tánh, từng tư tưởng khởi sanh khởi diệt mới mong tận giác từng tư tưởng mà thấu đạt Tam Thân, Tứ Trí, Ngũ Nhãn, Lục Thông đến Chánh Giác. Chính Ngài còn phải soi khắp thân tâm tỷ mỷ rồi ghi chép lại để Bồ Tát đi sau cũng phải tận tâm tu, tự soi như vậy nếu không dễ bị Ma Lực điều động. Một hôm có một chân tử theo Ngài ở Bình Định trời nóng bức sau cơn Thiền Định ông này mong có gió đến cho khỏe, bỗng gió thổi mát lạ thường. Vị này liền mừng rỡ tin mình đã đồng ứng với Như Lai vũ trụ, sau tự cho là đã giác. Ngài ôn tồn khai: Chưa có chủ lực, chưa Chánh Giác mà ước gì có đó là Tưởng. Thuộc loạïn động do Ma Lực điều động chớ nên thọ chấp. Cứ hóa giải, cổi giải chừng nào Trực Hiện mới thật. Ma Lực rất tinh khôn nó biết hết, thấy hết, nghe hết ý nghĩ nơi ta nên hóa cho ta bị lầm. Nếu không có Ngài, thật bị lầm truyền kiếp. Ma ba tuần trong ta nó chỉ chờ một sơ hở nơi cái muốn, cái vọng là gạt ta, chớ nên vội tin nó. Nhiều bậc còn bị nó gạt là ông này, ông nọ, nó nói tới nói lui làm bậc tu tin lầm nơi nó. “Phật ra đời tùy căn cơ, căn tánh lần đưa cho chúng sanh tánh biết Hướng Thượng mở mang tâm thức trở thành Bồ Tát Tánh. Bồ Tát Tánh có đồng thể chất bao dung giúp đỡ từng lớp chúng sanh không quái ngại, lấy sự tiến hóa nơi chúng sanh giới về với chính bản thân Bồ Tát an vui. Phật Tánh cũng như thế.” –T.V. Mỗi chúng sanh tánh chính là mỗi tánh. Mỗi con người cho đến Chư Thiên, Chư Tiên có vô số tánh gọi là có vô số chúng sanh tánh. Chư Phật ngự trên tòa sen, tiêu biểu mỗi cánh sen là một chúng sanh tánh, Phật đã điều ngự. Ngự chế được tất cả chúng sanh tánh nên mới ngồi trên tòa sen. Hoa sen sống ở bùn dơ hôi tanh. Phật ngự trên tòa sen tiêu biểu cho trong thế gian có đầy đủ chúng sanh, tánh tình tham, sân, si, hỷ, nộ, ái, ố, thường, lạc, ngã, tịnh. Từ thế gian Ngài kiên trì tu hành, mỗi khi gặp diễn cảnh nan giải liền hướng thượng. Hướng thượng là chủng tánh Bồ Tát. Có hướng thượng tâm thức được khai thông rộng rãi, bao dung lại biết tận độ chúng sanh đi vào con đường vô sanh không còn quái ngại, Bồ Tát được an vui. Còn chúng sanh khi gặp lúc khó khăn, gay cấn tánh tình vặc mắc xấu xa gọi là Ma Tánh phải sống trong biển khổ sanh tử. Khi tu hành đến Chánh Giác, tất cả chúng sanh tánh sạch dơ, tốt xấu không còn bị nhiễm được sung mãn công đức gọi là Phật Tánh. Trong mỗi cánh sen có một vị Phật ngự, đó là Phật Tánh. Chư Phật diệu dụng lúc tận độ chúng sanh lấy ra dùng, nó thường còn, bất tăng bất giảm, lại vô lượng vô biên không thể nghĩ bàn. Điều ngự xong chúng sanh tánh Chư Phật tận thành Phật Tánh, danh hiệu Điều Ngự Trượng Phu là một trong mười danh hiệu của Chư Phật mười phương. “Khi Bồ Tát tự nguyện cúng dường Như Lai Phật. Chư Bồ Tát đồng hiện đồng hóa, trở thành Mật Thể và Như Tướng, vì như thế nên chi Bồ Tát mới hóa thân sơn hà đại địa chủ yếu mát mẻ Như Lai, Ứng Cúng Chánh Biến có từng lớp lớp, từ cây cỏ đến suối đào, từ ẩm thực đến hoa quả. Thế giới gọi là Thiên tạo.” –T.V. Đứng về cái nhìn nơi Phật, từ kẻ ăn mày khổ sở đến hàng vua chúa, quan quyền đều là Bồ Tát hóa thân vạn hạnh. Cho nên Bồ Tát cần phải tự nguyện hành thâm pháp giới đủ vạn hạnh chẳng thiếu sót, chủ yếu cúng dường Như Lai mà tận thấu Như Tướng, Như Tướng chính là Mật Thể. Cho đến sơn hà đại địa, cây cỏ cùng thiên nhiên đều là hóa thân Bồ Tát từng lớp lớp. Thế mới biết nương nhờ nơi chủng tánh hướng thượng thực hành tinh tấn được kiến diện Như Lai quá ư to lớn vậy. Chúng sanh không dám đánh đổi, hơn thua, nhỏ nhen, bủn xỉn, keo kiệt thuộc ma tánh bị ô nhiễm thì làm sao hiểu thấu được Bồ Tát hạnh nguyện vạn hạnh. Dưới mắt Phật chỉ thấy Bồ Tát không thấy có chúng sanh. Vì sao? Vì tất cả chúng sanh tánh đối với Chư Phật đã trở thành Bồ Tát tánh, Phật Tánh nên dưới mắt Phật chỉ thấy Bồ Tát. Còn bậc tu chưa Chánh Giác chưa gặp Phật chứng minh tâm ấn cũng không tự xưng là Bồ Tát được. “Đồng thời chư Bồ Tát hiện hàng hàng lớp lớp pháp giới để thọ giới đầy đủ trang nghiêm cung thỉnh Như Lai Phật cúng dường ngôi Tam Bảo tất cả các Bảo Châu, Ngọc Bích, Xa Cừ, Mã Nảo, San Hô, Hổ Phách cùng Long Phướng Xe Giá, kèn trống tiễn đưa đón rước Chư Phật mười phương tề tựu đàm luận cùng thảo luận. Bồ Tát chủ yếu chứng tri công đức, Bồ Tát tự nguyện, an trú pháp giới cúng dường, từ đời đời kiếp kiếp. Có như thế, hành như thế nên chi Chư Bồ Tát thảy đều là cái dụng của Như lai.” –T.V. Dưới mắt Phật không thấy chúng sanh, chỉ thấy đâu đâu cũng hiện Bồ Tát Tánh, Phật Tánh trùm khắp từng lớp lớp. Mỗi Phật Tánh là một pháp giới có phẩm chất riêng gọi là Bổn Lai Diện Mục pháp giới. Tất cả đều cung kính đầy đủ trang nghiêm trong thể Như Lai Phật cúng dường Như Lai Phật những vật quý nhất như Bảo Châu, Ngọc Bích, Xa Cừ, Mã Não... Mỗi Phật Tánh hay mỗi Hóa Phật thảy đều hiện Tịnh Bất Tịnh trong thể Như Lai càng làm tăng thêm sự trang nghiêm để cúng dường Như Lai. Bồ Tát Tánh, Phật Tánh là cái dụng của Như Lai, Chư Phật sử dụng rất tận tỏ tường. Mỗi Bồ Tát Tánh là hóa thân của Bồ Tát nên tự an trú pháp giới trong thể Như Lai, vì sẵn chủng tánh hướng thượng mới được gọi cúng dường Như Lai Phật đời đời kiếp kiếp từ vô thủy vô chung nên Bồ Tát được tăng trưởng Chánh Báo. “Khi bấy giờ Bồ Tát mong Tri Kiến Phật thì làm như thế nào để Tri Kiến? Bồ Tát phải giải giới, Bồ Tát phải tận độ chúng sanh giới, do đó nên chi Bồ Tát nhìn thấy tất cả đều là vạn pháp ràng buộc chúng sanh chịu giới cực khổ, Bồ Tát nguyện đem thân mạng, trí huệ, tay chân, đầu cổ bố thí chúng sanh thoát khỏi pháp giới, làm nơi an lành của Bồ Tát Nguyện.” –T.V. Hàng Nhị Thừa tu hành chưa có chủ lực để điều động vào giới ra giới. Bồ Tát phải là bậc đã trực giác được Bồ Tát Tánh nên vào giới ra giới được dung thông. Chúng sanh giới còn chìm trong chủng tánh riêng tư, không siêu độ được phải bị trị trong vòng đai pháp giới tức trong biển khổ. Bồ Tát đem hết tâm trí, tín thành làm đủ phương tiện Hữu Tướng Phi Tướng giải giới cho chúng sanh thoát khỏi pháp giới. Bồ Tát không có ô nhiễm hỷ, nộ, ái, ố nên cứu độ tất cả chẳng còn ô nhiễm vạn pháp. Bồ Tát vì lòng bi nguyện đem thân mạng, trí huệ, tay chân, đầu cổ bố thí cho chúng sanh chẳng thiếu thứ gì nơi Bồ Tát làm cho chúng sanh được an lành. Đó chính là Bồ Tát đem hết tâm lực, đem cả bộ óc, đem cả thân mạng chú tâm hóa giải cho chúng sanh đạt được vào giới ra giới, tròn giới... Chánh Giác. Còn ở hàng chúng sanh, tâm tánh eo hẹp, trí nông cạn không thể nào tự thắp đuốc mà đi được. Trong thời Hạ Lai nhiều bậc tu đến được với Long Hoa, được tu hành quanh Đức Vô Thượng Tôn Di Lạc có đầy đủ hàng Tôn Giả, Chư Tổ thời xưa mà cũng phải khó khăn lắm mới hiểu một phần nào thì làm sao cấp chúng sanh vào giới ra giới cho được. Còn đầy vô minh không thể nào có tự tánh được. “Bồ Tát nguyện ra vào địa ngục giới, lãnh lấy sự khổ đau ngục hình, hoặc giả hứng chịu kẻ kia mắng chửi hành hạ thân mạng, để cho chúng sanh hóa giải nghiệp lậu đặng thoát khỏi ngục hình. Nguyện như thế, làm như vậy Bồ Tát làm nơi an lành của Bồ Tát Nguyện.” –T.V. Trong Lục Đạo phải kể Địa Ngục Môn là nơi Bồ Tát phải vào để thực tiễn, chịu ngục hình, chịu sự khổ đau, chịu hành hạ thân mạng, chịu sự chửi mắng, chịu đủ điều tủi nhục để hóa giải cho sạch nghiệp thức, nghiệp lậu. Có như thế Bồ Tát mới thoát khỏi chốn ngục hình. Có đầy đủ công đức sung mãn mới tận độ chúng sanh thoát khỏi Địa Ngục Môn. Trong thời Hạ Lai này chính Đức Di Lạc trước khi thành Phật cũng phải vào thọ ngục hình ở Địa Ngục Môn của cộng sản nơi mật khu tỉnh Bình Định Qui Nhơn, tất cả là 26 tháng. Ngài cũng phải bị hành hạ thân xác đủ hình thức cốt tận độ chúng sanh tánh của Ngài, sau thoát khỏi ngục hình nơi Địa Ngục môn Ngài mới thực chứng mà tận độ nhân sinh, Tiên, Thần cùng tứ loài trong ba cõi sáu đường. Có hạnh nguyện như vậy Bồ Tát mới đi vạn hạnh thực chứng. Bồ Tát được Lý Sự tương song, Tánh Tướng tương song, Đức Trí tương song. “Lúc Bồ Tát hành nguyện đồng với hạnh nguyện, Bồ Tát không bao giờ nhàm chán, Bồ Tát say sưa nơi nguyện. Vì sao? Vì bản năng thực thể mong đợi Tri Kiến, do đó nên chi Bồ Tát lìa tất cả mà không nhiễm ái, cúng tất cả mà không nhiễm chấp, đưa tất cả mà không nhiễm trần cấu.” –T.V. Bồ Tát hành nguyện có nghĩa thi hành vạn pháp phải học hết cái Sự nơi Bồ Tát, nghe thấy biết, từng tiếng, tiếng kèn, tiếng trống, tiếng gì biết tiếng đó. Đặc điểm không giới nào bỏ, không giới nào lấy. Đó là tu bất sanh bất diệt, bất cấu bất tịnh, bất tăng bất giảm. Cho dù gặp hoàn cảnh tức vạn pháp sướng khổ, mưa gió, trời long đất lở cũng không bỏ tu đó là tu bất sanh bất diệt nên trái đất dù có bị hủy diệt Bồ Tát vẫn không bị tiêu diệt. Vì sao? Vì nhiều cái không tướng mà biết sâu hơn bậc La Hán. Bồ Tát sống trong Bồ Tát Tánh, chỉ một câu nói đủ biết người đó như thế nào. Nhờ hành vi đụng chạm tức tri kiến giai cấp gì. Bồ Tát hạnh nguyện xây dựng chánh pháp thật khó vì phải chỉnh trang lại đường dây khai ngộ Phật Pháp của Đức Bổn Sư Thích Ca Mâu Ni Phật nay nhân sinh tu sai lạc. Tri kiến một pháp là vạn pháp tri kiến được. Đắc một pháp là vạn pháp đắc được. Trong cùng một đạo tràng, Bồ Tát nhìn thấy nhiều nhóm đồng tu tạo thành Liên Hoa nhìn người đứng đầu dở là biết trong nhóm đó đều tu dở. Biết người đứng đầu kia giỏi thì biết nhóm đó đều giỏi hết gọi là Liên Hoa Tôn. Đức Di Lạc chọn Chân Phật Tử trong Trung Ương Bộ để hành nguyện, hạnh nguyện là như vậy. Sau Bồ Tát thâm nhập, không còn ái nhiễm, không còn nhiễm chấp mới làm chủ hết vi trần rồi còn phải hóa cho chúng sanh tu theo Bồ Tát được giác ngộ, Bồ Tát mới thành Phật. “Bồ Tát hành nguyện, hạnh nguyện như thế vươn mình đánh đổi như vậy Bồ Tát sở đắc pháp giới tận biết đặng pháp giới kết nạp trở thành vợ con, chồng vợ, trai gái, nam nữ phải chịu nơi pháp giới trăm phương ngàn cảnh, sướng khổ do nơi lầm lẫn chìm đắm nặng nhẹ mà thọ nghiệp, thọ chủng, thọ ái, thọ tử liền sở chứng vô sanh.” –T.V. Bồ Tát hành nguyện có nghĩa là thi hành pháp Phi Tướng chẳng sợ tiếng khen chê, chẳng phiền trách sự khinh ghét, chẳng cần khổ tâm lời nguyền rủa từ nơi chúng sanh. Bồ Tát hạnh nguyện có nghĩa thi hành pháp Hữu Tướng làm chúng sanh ưa thích ái kính thuộc Đạo Hạnh, Bồ Tát chẳng thấy vui mừng dù thật biết vạn pháp vốn tịch tịnh. Từ một khởi điểm nhỏ là mấu chốt gom hết vi trần có lúc phải đánh đổi, Bồ Tát mới sở đắc đầy đủ vòng đai pháp giới tạo vợ chồng, con cái, anh em, giòng họ, thân quyến. Mỗi một gia đình có nếp sống riêng. Đắc một pháp giới thì các pháp giới khác cũng diễn y như vậy, chỉ khác nhau tính chất như chua, ngọt, tốt, xấu. Tự nhiên Bồ Tát thông đạt có thể tìm được một pháp giới để chứng ngộ được Tam Thiên Đại Thiên Thế Giới. Từ một pháp nhỏ tỏ hết pháp giới. Tu từng môn làm sao thông? Đó là khai tâm ấn. “Khi bấy giờ Bồ Tát lấy Đạo Tràng làm thú vui tạm trú, lấy mức tiến làm món ăn nơi ở hàng ngày, lấy bao dung rộng rãi xây dựng Tịnh Độ của Bồ Tát. Bồ Tát hành thâm pháp giới, nhiếp độ hóa giải pháp giới! Từ nơi vinh Bồ Tát nhìn nhận thoảng qua không lấy đó làm nơi trụ xứ. Từ chỗ nhục Bồ Tát chẳng tái tê nhưng chẳng lấy đó oán hờn. Bồ Tát Nhất Tâm đảnh lễ tự nguyện tất cả thân mạng đều cúng dường Như Lai, chẳng còn chi nơi Bồ Tát, đặng pháp đảnh Như Lai thọ ký. Bồ Tát liền sở đắc tận giác tất cả pháp giới, Bồ Tát liền đặng giải giới, đặng Chư Phật thọ ký lãnh lấy ứng hiện thân Bồ Tát.” – T.V. Trong Long Hoa tận độ, Đức Vô Thượng Tôn Di Lạc phân định rành mạch cho bậc tu từ Hộ Pháp đến Tôn Giả, A La Hán, Tinh Văn Hạnh, Duyên Giác Hạnh, cho đến Hộ Pháp Bồ Tát đều phải tu theo một con đường: Đạo Đời song tu cho hợp nhất. Mỗi vị đều làm các ngành nghề ở trong đời từ lao động tay chân cho đến giáo viên, giáo sư, kỹ sư, bác sĩ, tiến sĩ...tất cả đều lấy đó làm phương tiện tu hành cầu Giác Ngộ. Khi có một vị trong đạo tràng nơi Long Hoa sở đắc Vô Thượng Đẳng Chánh Giác được kiểm tra chứng minh Bồ Tát thì Ngài ấn quyết bậc này chỉ lấy đạo tràng làm nơi tạm trú hành nguyện, hạnh nguyện. Đối với đời Ngài xem như đã đủ không sinh nhai qua nghề nghiệp nữa mà phải thực hành Đạo Tràng duy nhất để tu hành tiến đến thành Phật. Còn cấp Thánh Hiền tu đạo đời. Đến Bồ Tát Chánh Giác không hiền cũng chẳng dữ, không thiện cũng chẳng ác, không sanh cũng chẳng diệt. Có tu hành như vậy mới giải giới đến viên dung pháp giới. Bồ Tát lên trên cao cũng không bỏ ở dưới gọi là hành nguyện không cao cũng chẳng thấp. Nếu còn bỏ, còn lấy không bao giờ sở đắc Chánh Giác được. Một hạt đất, một hạt cát nào nằm dưới đáy chân núi thì nó rất rắn chắc rất mạnh. Bậc tu nào chịu vạn pháp xoay thì người đó công năng càng lớn, kết chung sở đắc chân lý. Còn ngồi thuyết pháp nghiên cứu không qua nổi hoàn cảnh thì chỉ thuyết cho hay, cho vui thôi. Đó là khai ấn. Thế gian làm việc ở đời dần dần phát triển. Còn bậc tu cầu Tri Kiến Giải Thoát thì trổ nghiệp. Đừng chán nản, cố tinh tấn. Vì một tánh thọ nghiệp phải hóa giải mất mười kiếp tu hành. Tỷ như tánh lừ đừ, nghe xong ra khỏi đạo tràng tánh đó nó trở lại lừ đừ. Bậc tu thọ lãnh pháp giới như vậy, cố thủ gọi là Kim Cang Tạng vì thọ lãnh một pháp củng cố muôn tỷ kiếp không giác ngộ được. Bậc tu không thể cầu vái van xin khi tu hành không chịu cổi giải. Nhưng biết lìa ngã, phát nguyện tìm gặp tu theo bậc đã biết là Bồ Tát đang thi hành Chánh Quả Phật thì chỉ một kiếp quyết Tin Vâng Kính trọn liền sở đắc. Khi đã tỏ tường thế nào là chân pháp là thiện pháp liền kiến diện Như Lai, đặng gặp Chư Phật thọ ký, chừng đó mới được công nhận đã có ứng thân Bồ Tát hiện khắp pháp giới, quán chúng khắp khắp gọi là Du Hí Thần Thông Tam Muội vậy. “Bồ Tát trải qua vạn hạnh, vạn nguyện, Bồ Tát mới nhìn nhận: Tất cả chúng sanh giới, từng hàng Nhị Thừa tu chứng cho đến Tiên Thần Thánh Hóa chỉ hơn nhau nơi Thanh và Thô, chớ nghiệp chủng nơi chúng sanh tánh còn nguyên vẹn.” –T.V. Những pháp lớn, pháp thô bậc Nhị Thừa tu chứng dễ thực hành được, qua được. Còn những pháp nhỏ gọi là pháp thanh qua không được, không thấy được nên chưa có Nhãn Tịnh. Bồ Tát tỏ Bổn Lai Diện Mục nơi thô, thanh, vi tế được Thanh Tịnh. Tánh và cốt cách trước sau đều y nhau như quá khứ, còn tướng mạo thay đổi dạng tùy giới. Bậc tu không tỏ nơi thanh, nơi vi tế chỉ thấy thô cần phải tinh tấn tu cho đến đam mê mới có đủ tinh thần. Chừng một thời gian nào nhớ tiền kiếp quá khứ. Những bậc ngồi kiết già thuyết pháp không được tự nhiên. Gặp trường hợp nào cũng thuyết pháp được vừa trình độ, vừa đúng nghiệp chủng cứu độ được chúng sanh đó là Bồ Tát. Đức Di Lạc Tôn Phật khéo thuyết từng căn bệnh của chúng sanh, ai gặp cũng thích thú, quý mến, ái kính. Ở ngoài nhìn vào thấy Ngài là cư sĩ có vợ con rườm rà lộn xộn. Thật sự bậc say đạo gặp Ngài theo tu kết quả thấp nhất cũng được Phước Báo Nhân Thiên. Đã là chúng sanh, thọ nghiệp chủng còn nguyên vẹn, chừng nào phát tâm sửa tánh tu một thời gian tỏ tường vạn pháp làm gì cũng đúng là ngộ. Còn làm gì cũng không biết đúng hay sai, hoặc làm gì cũng sai thuộc pháp thô là mê. Nếu biết vạn pháp huyễn hóa, thực tu với tâm chân thật một ngày nào sẽ trở về với cái thật./- 48. Mật – Hiển – Đốn – Tiệm Bậc thực hiện mười danh hiệu thật khó gặp vì bậc này đồng ứng với bổn nguyện Tam Thế mà thị hiện. Từ ngôn ngữ, hành động không khác với nhân sinh nên Thánh Tăng Bồ Tát cũng chưa biết, chỉ trừ Bồ Tát hạnh nguyện Bát Nhã Trí, dùng Giác Tướng mới nhìn đặng phần nào nên khó gặp. –Biệt Tôn Vô Thượng Đẳng Kinh Bậc thực hiện mười danh hiệu để thành Phật phải thành tựu bốn duyên căn: MẬT - HIỂN - ĐỐN - TIỆM Bốn tướng của hàng Bồ Tát tu đạt đến THÔNG - ĐẠT - TẬN - THÀNH, cầu diệu quả Bồ Đề. "Làm thế nào mà đạt được Thông? Thông nhờ Mật Giáo, có Mật mới có Thông, chưa Mật thì chưa Thông. Vì sao? Vì Mật là Mật Ấn Như Lai Tạng, nếu chẳng Mật không Ấn, chẳng bao giờ Mật Ấn làm sao sở đắc để mà THÔNG." –T.V. Thông nhờ Mật Giáo. Thế nào gọi là Mật. Bậc tu ý thức sửa tánh là chính, sau được tự tánh thấy tánh đến Minh Tâm. Bậc Minh Tâm từ lời nói đến việc làm đều hàm chứa Mật gọi là có Mật mới có Thông. Chúng sanh được nương nhờ sẵn có Như Lai Tạng nên tánh Nghe - Thấy - Biết chính là Bổn Lai cũng gọi là Phật Tánh nhưng Phật Tánh - Nhất Tâm - Chơn Như - Như Lai Tạng - Pháp Tánh - Pháp Thân - Pháp Giới là bảy báu của Chư Phật. Tuy là bảy báu nhưng thể tánh vốn chỉ là một. Chúng sanh và Phật vốn sẵn nhưng vì một khởi sai lầm nơi chúng sanh mà thọ chấp thành bờ ngăn điên loạn. Như mặt trời kia bị mây che. Do đó Mật là Mật Ấn Như Lai Tạng. Đức Đại Nhựt Như Lai Phật khi đồng Như Lai, lúc hòa cùng Chư Phật. Tất cả bí mật kín nhiệm di chuyển do Ngài nắm giữ từ Thần Thông đến Tam Muội qua các Hiện Thân đến Giải Thoát. Đức Đại Nhựt Như Lai Phật lại gìn giữ Tâm Ấn, Mật Ấn nên đối với Ngài chúng sanh không thể nghĩ bàn. Chư Phật có nhiệm vụ thọ ký và diệu độ Chư Bồ Tát. "Nếu có một vị Bồ Tát tu vạn hạnh bên ngoài trí huệ suốt thông khi nghe Đức Di Lạc Tôn Phật thời Hạ Lai thị hiện dù đã biết hoặc chưa biết dù cho bậc đó sở đắc hoặc thành Phật thật sự đi nữa mà chưa biết nơi chứng minh Nhất Tôn, chẳng tin sự chứng minh, có lòng tự mãn ngã mạn thì cũng chưa đến nơi rốt ráo để nhập Đại Niết Bàn. Vì sao? Vì chưa đặng thọ ký Nhất Tôn thì làm sao đến Như Lai Nhất Tôn chứng minh, đã chẳng đặng chứng minh thời làm gì có Đại Nhựt Như Lai ban hành thị hiện cảnh Đại Niết Bàn, do lẽ ấy mà bậc kia phải dùng Định Tưởng, đã Định Tưởng thời còn sanh diệt, đó chính là trọng yếu thứ nhất." –T.V. Thời hạ Lai Mạt Pháp này Ngài ấn chứng đoạn kinh trên cho thấy muốn thành Phật dù sở đắc Vô Thượng Đẳng, Vô Thượng Sư cũng phải có Đức Di Lạc Nhất Tôn chứng minh. Tự ý xưng Phật là không chứng từ, là bị tự mãn sai lạc. Nếu Đức Di Lạc Tôn Phật đã ra đi cũng còn Bồ Tát thi hành Ma Ha Tát thừa kế, nếu không được vị này Tâm Ấn làm sao Đức Đại Nhựt Như Lai Phật thị hiện chứng minh. Cho thấy tu hành phải có quả vị. Phải có tôn ty trật tự, tự xưng chưa được chứng minh đều lạc lối. Đức Di Lạc cũng được Đức Bổn Sư thọ ký. Đức Bổn Sư cũng được vị Phật trước thọ ký. Còn tự ý đi sai lạc xưng Phật không bao giờ được Đức Đại Nhựt Như Lai Mật Ấn cả. Thời Hạ Lai quý vị Vô Thượng Đẳng, Vô Thượng Sư hãy suy xét lại lời ấn chứng của Đức Di Lạc. Đã có thừa kế chứng minh là có Mật Ấn không nên tự ý xưng. Ngài nhắc đó là điểm đáng ghi nhớ cho các vị Vô Thượng Đẳng, Vô Thượng Sư cần hồi tâm nơi thời Hạ Lai này chớ có lầm lẫn nữa. Nếu sau này chỉ còn chư Tổ cấp Liễu Ngộ các vị Vô Thượng Đẳng, Vô Thượng Sư phải chờ Bồ Tát được thọ ký Vô Thượng Chánh Đẳng Chánh Giác thị hiện. Nếu bậc thật tu, kiếp này hãy sớm thức tỉnh theo lời thọ ký minh chánh của Đức Long Hoa Tăng Chủ Di Lạc Tôn Phật sẽ được lợi vô kể. Ngài đã làm xong nhiệm vụ chỉnh trang Phật Đạo nếu vị nào tự ý dù ở Phương Đông, Phương Tây, Phương Nam, Phương Bắc mà không hồi hướng sự tu hành còn kẹt ở Định Tưởng là tướng sanh-diệt, tướng sanh-tử cần quan tâm. "• Về Đạt: Đạt nương theo Hiển, nếu không Hiển Giáo không Đạt. • Đứng về Tận: Không Đốn Giáo không Tận Giác. Đốn cho Tận, không Đốn không Tận. • Còn về Thành: Không Tiệm Giáo không Thành. Vì sao? • Khi dùng Đốn là Phá Giải. Về Tiệm thời đạo hạnh sáng soi. Nếu Đốn không Tiệm bị Không Chấp, vướng vào pháp không. • Cũng như: Phá chấp không biết Duyên Căn tỏ chấp thì không bao giờ thành. Chẳng khác nào: Phá nhà phải biết xây nhà là tu Đốn Tiệm tương song, phá nhà không biết xây nhà, như kẻ phá chấp mà chấp, không chấp bị chấp Không, chẳng bao giờ Thành Đạt." –T.V. Bậc tu khi ý thức được tự tánh tỏ tánh thì từ lời nói đến sự sự đều có Mật. Đã có Mật liền đạt Hiển. Hiển Giáo đây là của Bồ Tát Tánh tu đạt còn không tự tánh mà tu Hiển là của phàm phu, lý thuyết, thuyết giảng, nghiên cứu gì cũng không thoát khỏi vòng đai của Ma Lực. Khi Chư Phật nhận thấy Bồ Tát còn chưa suốt, có lúc còn vướng mắc mà Tự chưa đầy đủ Phật liền Đốn để phá Vô Minh, Bồ Tát được nghe thấy biết từ tỏ thông đến thấu đạt. Đốn cũng như phá rừng nhưng phải biết trồng trọt cây theo hàng lối theo tổ chức để có quả sinh ra của cải là Tiệm Giáo. Nếu đốn bỏ đi, đất trống cây dại sẽ mọc lại thì sự đốn kia cũng không tròn, cũng kẹt không tai hại, lại bị nhiễm không. Nếu Bồ Tát cho đến chư Phật dùng Đốn Giáo là biết Chân Phật Tử đủ sức Tin Vâng, sau kết quả mới tự phát tâm kính ái. Cấp Nhị Thừa tu chứng Đốn không có cơ sở bị hỏng, hóa Tăng Thượng Mạn vì chưa chu đáo. Đương thời Đức Long Hoa Tăng Chủ Di Lạc, Ngài để yên, vỗ về cho các chân tử không chịu tu, thích tu sao cho giàu có nên lớp này không bao giờ Ngài Đốn, chỉ dùng Tiệm cho trụ đạo hạnh nên họ ưa thích. Họ chẳng bao giờ biết Diệu Dụng của Ngài cho những chân tử cầu Giải Thoát. Thông – Đạt – Tận – Thành chung gồm bốn tướng MẬT – HIỂN – ĐỐN – TIỆM. "Do đó mà Ta nói: √ Không Mật thì không Thông. √ Không Hiển thì không Đạt. √ Không Đốn thì không Tận. √ Không Tiệm thì không Thành. THÔNG - ĐẠT - TẬN - THÀNH là như thế. Phật dạy: Đức Trí tương song Chân nguyên Tận Giác." –T.V. Hàng Bồ Tát hành nguyện, hạnh nguyện ý thức bốn tướng Thông - Đạt - Tận - Thành, nên không tu riêng rẽ từng môn mà liên kết tùy lúc tùy thời điểm, ứng hiện cho đồng hợp Mật - Hiển - Đốn - Tiệm mới Tận Giác. "Chư Phật có nhiệm vụ thọ ký và Diệu Độ chư Bồ Tát. Chư Phật chỉ dạy cho Chư Bồ Tát thành tựu Phật Quả và đồng thọ ký cho Chư Bồ Tát trong đường hạnh nguyện đưa Chư Bồ Tát Ngũ Nhãn, Lục Thông, Tam Thân, Tứ Trí đồng thành Phật." –T.V. Cách đây 2538 năm Phật Lịch, Đức Bổn Sư đã thọ ký Bồ Tát Di Lạc sẽ thành Phật nối truyền và giữ gìn Chánh Pháp tiếp nối thêm 5000 năm. Trong khoảng thời vị lai Đức Di Lạc Tôn Phật cũng đã thọ ký và Diệu Dụng cốt tận độ cho được Mục Kiền Liên thành Bồ Tát cùng Thánh Chúng. Bồ Tát sẽ lai trần hành nguyện cùng hạnh nguyện cứu độ chư Tổ để gìn giữ Chánh Pháp. Vết chân đi trước bậc bước theo sau vẫn y nhau không khác mà khác. Không khác là chân truyền vẫn giữ còn khác là phương tiện đến Chân Tôn tùy mỗi thời mà Bồ Tát hành thâm nên không giống mà vẫn y tôn y chỉ ba đời Phật. Thế mới biết chỉ Bồ Tát mới Trực Giác: Khác mà không khác, không khác mà khác cốt Tận Giác đặng Ngũ Nhãn, Lục Thông, Tam Thân, Tứ Trí. Còn bậc Vô Thượng Đẳng, Vô Thượng Sư tự tin là Phật sao lại dạy cho chúng sanh! Phật dạy chúng sanh là Phật của chúng sanh - kết chung chúng sanh niệm chúng sanh nghe. Phật khai ngộ được Bồ Tát, Thánh Chúng sau Bồ Tát thành Phật là Phật đủ mười danh hiệu. Mỗi lần thị hiện là rung chuyển Tam Thiên, đem lại lợi ích vô lượng cho chúng sanh không tu, còn lợi ích cho Thánh Chúng nối tiếp khuyên dạy đời chuyển ác trược, phiền não trược thành Tịnh Độ. Nếu dùng vật chất, tiền bạc cho người đời tu, đạo sớm diệt vong không trường tồn. Chỉ khi nào bậc tu tự ý thức làm thiện được phước báo, còn tu hành được giải thoát là Chánh Báo thời đạo mới trường tồn bất diệt. "Còn chư Bồ Tát Tín Hạnh Nguyện để lãnh hội các pháp và Chân Lý huấn từ của Chư Phật mà sở đắc. Chư Bồ Tát độ sanh với con đường hạnh nguyện Lục Ba La Mật Đa, thâm nhập pháp giới thành tựu Bát Nhã Trí, được trí tuệ vô ngại. Đức hạnh ứng thân rốt ráo từ hữu lậu đến vô lậu không hai, hoàn toàn giải thoát." –T.V. Thời Hạ Lai Mạt Pháp này Ngài khai thị bậc tu cần theo đường Ngài đã vạch ra, trước tiên phải Tin Vâng Kính bậc Thiện Trí Thức sau mới tỏ thông chân lý lại cần tín tâm, đạo hạnh tự phát thệ nguyện tu cầu Tri Kiến Giải Thoát gọi là Tín Hạnh Nguyện. Đức Ngài rất nghiêm túc, Chân Phật Tử không Tín Hạnh Nguyện chẳng bao giờ truyền pháp. Bậc Tín Hạnh Nguyện cạn, sâu cũng tùy căn cơ bậc tu mà được thọ lãnh chân nguyên. Chư Bồ Tát Hạnh, nguyện không sống cao xa viễn vông, không trừu tượng như hàng Nhị Thừa tu chứng mà chỉ hạnh nguyện thực tế nơi Lục Ba La Mật Đa hơn nên trước mắt biết nhận định là việc gì hư sẽ là thầy của cái đúng. Nhờ đó Bồ Tát tu đến thấu đạt bình đẳng từng lớp lớp pháp giới chúng sanh. Bình đẳng mà bất bình đẳng. Chúng sanh, sanh ra ai cũng như ai, thân cũng có đầy đủ các bộ phận, các cơ quan, cũng có hoàn cảnh như nhau, tại chưa biết soi thấu. Do tánh mà đổi cảnh, chớ cảnh vẫn là cảnh. Cảnh bất bình đẳng là Thọ Ngã. Đã thọ ngã là có cảnh. Không có Ngã là không có cảnh. Đường tu bước qua bất bình đẳng lớp lớp chúng sanh được trở về bình đẳng của tâm thanh tịnh. Suy ra tánh trí bình đẳng mới Tín Hạnh Nguyện được viên dung thấu đạt Bát Nhã Trí thực thể không còn pháp trừu tượng. Trí tuệ được tự tại vô ngại lúc đó hữu lậu vô lậu chỉ là một mà hai, hai mà một ứng thân thị hiện đúng không còn sai được hoàn toàn giải thoát sanh tử luân hồi. Duy Vật đánh ngã Duy Tâm. Duy Tâm có làm thực thể thì Duy Tâm cũng là thực chất sẽ đi sát hơn Duy Vật. Thời Hạ Lai thực tế nhất còn cụ thể chứng minh nơi ban Hành Hịch Vũ Trụ, kết chung cho thấy Duy Tâm nương Duy Vật, điều động được Duy Vật sát thực tại. Có tu thành Tiên, Thánh, thành quân tử cũng phải theo con đường này. Khi thực hiện đúng là giác ngộ. Khi thực hiện sai bị khổ là mê. Thực ra mê, ngộ không chứng từ ghi chép được. Nó thuộc Tâm Ấn, phải Tin Vâng bậc Tâm Ấn thôi. Vì sao? Vì vạn pháp huyễn hóa cần có bậc thật biết theo đường đi vũ trụ tức Như Lai Pháp sẽ thực hiện được chân thật mà trở về thật. "Thời kỳ nào Phật hóa độ tất cả chúng sanh và Bồ Tát? Thời Đức Phật ra đời, chưa có thể hiện Bồ Tát, thì Phật phải Hành Dụng đến Diệu Dụng chung một hai thứ gọi là Bồ Tát Phật. Khi chúng sanh Giác Ngộ hoặc đắc pháp thì Phật trở qua Đốn Pháp để cho chúng sanh hiện thể, thời này gọi là Phật hóa độ Bồ Tát." –T.V. Thời nào có Phật ra đời, chúng sanh và Bồ Tát còn lẫn lộn trong Đạo Tràng. Phật phải hành dụng cùng diệu dụng để tuyển chọn bậc tu căn cơ sâu dày. Diệu dụng hữu tướng, phi tướng, bậc thật tu qua được, điều ngự tánh được đắc pháp hay Giác Ngộ. Sau Phật Đốn Pháp cho bậc tu sửa được hiện thân Bồ Tát. Bậc Bồ Tát đối với Ngài phải là bậc tu Tin Vâng Kính trọn, Tín Hạnh Nguyện tự giác cao độ mới Đốn cho sở đắc Vô Thượng Đẳng Chánh Giác. Khi đã chứng minh Bồ Tát. Phật mới nuôi dưỡng riêng, pháp mỗi lúc mỗi khó, chỉ một sai nhỏ cũng chỉ thẳng bằng Đốn: La rầy, làm dữ, đuổi, đánh cốt tận độ chúng sanh tánh cho trơn liền, tâm không còn chớp động trước vạn pháp. Thời này Phật hóa độ Bồ Tát thật khó. Những vị Tôn Giả được Ngài chọn phải chịu kỳ thi khó khăn trong phần hóa độ Nhứt Thừa này. "Qua thời Bồ Tát hiện thân đầy đủ hoặc chưa đầy đủ thì Phật mới thi hành Tịnh Bất Tịnh, Thuận Nghịch quyết đưa chư Bồ Tát qua các trở lực ngăn ngại mắc miếu, thân tâm tập khởi, tập nhiễm trong lý sự chưa đồng đến đồng, chưa đặng đến đặng, chưa sở đắc đến sở đắc hoàn toàn thành Phật." –T.V. Trên thực tại thế gian, kỳ Hạ Lai này Ngài hóa độ chỉ có một vị đắc Vô Thượng Chánh Giác, Ngài liền diệu dụng Tịnh Bất Tịnh quyết đưa Bồ Tát qua các trở lực cho thân tâm sạch hết tập khởi, tập nhiễm, không còn nghi. Trong thế gian tâm còn vướng động là còn theo nghiệp. Bậc giải nghiệp, tỏ nghiệp giác từng vi trần của pháp. Giải được một pháp là vượt qua khỏi pháp giới đó, là thoát một kiếp sanh tử luân hồi. Bậc tu từ một pháp giải được làm điểm tựa tiến bước, phải qua hàng tỷ pháp giới mới giác ngộ. Một chữ là một pháp giới, một lời là một pháp giới, một hành động là một pháp giới... Như thiện ác, tốt, xấu. Sáng tưởng được thượng sanh, tối tưởng chính Địa Ngục. Một hôm Đức Di Lạc Tôn Phật hỏi Tứ Chúng: Thử kiểm lại lâu nay tu những gì? Những gì thuộc thiện căn, thiện chí thì cứ theo con đường đó mà đi. Khi không còn vọng tâm, không ham muốn, thực hiện được lý sự đồng sẽ sở đắc chân lý. Tâm không còn vọng chẳng khác vạn pháp đều chảy ra biển cả hết. Bổn Lai Diện Mục của một pháp nếu biết được pháp sẽ Trực Giác, sau tâm liền lạc suông sẽ được nhạy cảm, chỉ cần một khẻ nhẹ cũng biết đủ gọi là Không Tướng thấy. Tu như vậy đem lại Chân Thiện. "Nên Phật hóa độ khó nghĩ bàn, khó phê phán. Vì sao? Vì Phật diễn ra các pháp chẳng thiếu sót. Từ Bồ Tát chưa bao giờ nhìn đặng, thời làm sao chúng sanh biết nổi việc hóa độ của Chư Phật? Làm cho sức lực công năng của Chư Bồ Tát chịu đựng tiến triển thọ lãnh đầy đủ của Như Lai Tạng mà rốt tận Bát Đại Niết Bàn." –T.V. Bậc tu trong thời Mạt Pháp này thấy lối tu của Ngài khai có mới lạ, nhưng thật không khác với mười phương Phật Ba Đời. Phải cố sức tu chớ đừng phê pháp, chớ đừng phá pháp. Một vị còn mê lầm nói bậy, bậc tu kia nghe được tự kiềm chế lại, khuyên vị tu mê lầm chớ tự mãn, nếu được điều kỳ diệu cũng chớ nên khoe khoang. Đời sống chỉ biết có ăn, ngủ chẳng khác gì loài động vật, lại uổng phí một kiếp khó được tái sanh làm người lắm. Bồ Tát làm việc gì cũng thật nhuyễn, nên một pháp đi qua dù nhỏ đến mấy chăng nữa cũng thấy biết tường tận, tỷ như trong một nghề nếu bậc tinh vi mà có ai vào làm lạng quạng là biết liền. Tu cũng vậy biết tỷ mỷ được thọ lãnh đầy đủ Như Lai Tạng. Phật diễn pháp rất khó biết trước, càng cao pháp càng gai góc khó nhận nổi, chỉ biết kềm chế tánh mới qua nổi. Bồ Tát tu hành cần phá chấp, dụng trí tuệ tìm một pháp mới thì sau triệu kiếp Như Lai Tạng cũng cung đốn cho mình sống như vậy. Cũng như có làm là có cái sống, có tu sửa sẽ chứng ngộ. Dù bậc tu có gặp Phật lai trần mà không tu sửa Phật cũng phải chịu, không hóa độ được. Bậc tu chưa biết đường tu giác ngộ ra sao thì chớ nên vội phê phán chỉ trích bậc Thiện Tri Thức, chỉ cần tự mình hóa giải không chướng không chấp sẽ nhận biết được Chân Pháp. "Sự hóa độ của Phật, chỉ có Phật với Phật biết, Phật đưa từng hàng Bồ Tát bởi tịnh hay thuận mà thọ chấp, Phật làm cho Bồ Tát ấy Tâm không phân biệt dị biệt, được suốt thông Tịnh, Bất Tịnh đến thuận nghịch thực thi rỗng rang trùm khắp đến thành Phật." –T.V. Bồ Tát bị nhiễm lý kinh trụ xứ, Phật rất biết Diệu Dụng đưa Bồ Tát thoát nhiễm văn tự. Sau Bồ Tát tự ý thức tháo gỡ tập nhiễm không còn phân biệt, không còn bị Tịnh Biệt. Chủ yếu của Phật làm cho hàng Bồ Tát hợp hóa chứ không có diệt, nếu diệt pháp làm sao hợp hóa được, nếu diệt bị đứng yên chữ KHÔNG lại lấy văn tự làm sở chứng. Vô số bậc tu thời Hạ Lai tự gọi Thiền Sư ở vị trí này. Có vị còn viết cả chìa khóa tu Phật mà khi đọc kinh Đức Long Hoa Tăng Chủ Di Lạc Tôn Phật đưa tận tay không hiểu được lại chê bỏ đi. Đường lối hợp hóa của Phật là làm cho Bồ Tát nghi chấp sao qua được pháp nghịch mà phá nghi chấp, trí tuệ được suốt thông không còn quái ngại. Việc đáng làm là thực hiện dù khó khăn đến đâu, việc không đáng làm dứt khoát thật dung thông ra vào vạn pháp. Sau được viên dung thấy Nhãn Tịnh, nghe Nhĩ Tịnh, đến thật biết tỷ mỷ tận giác, không còn trụ chấp văn tự, sở đắc Bát Nhã Trí vào hàng Đại Bồ Tát chờ Nhất Sanh Bổn Xứ thành Phật. "Phật hóa độ, tất cả nghi Phật thật ÁC, Phật hóa độ Chư Bồ Tát phải nghi thật là NGHỊCH, dù có ác hoặc nghịch chăng thời khó nghĩ bàn, vô lượng hóa độ, vô lượng diệu dụng Bồ Tát nhìn chưa thấu, thì phàm phu lấy đâu để hiểu? Phật chỉ vì Bồ Tát đứng yên thọ chấp mà phải hóa độ như thế, để được thọ ký và chứng minh của Như Lai." –T.V. Hầu hết chúng sanh tin Phật ra đời theo tu sẽ được vật chất đầy đủ, sung sướng lắm. Bậc được ở gần Chư Phật mới biết tu hành quá ư khó khăn, khó đến nỗi Chư Thánh Chúng phải bỏ chạy. Có bậc trốn luôn không dám quay lại nhìn nơi Ngài đang ở như đã xảy ra thực tế đời Hạ Lai này tôi đã chứng kiến. Vì sao? Vì Bồ Tát chưa rốt ráo còn nhiễm ÁI, nhiễm vật chất, nhiễm danh vọng. Ba thứ nhiễm này tạo vòng đai sanh tử ngăn trở Bồ Tát làm nhiều kiếp đứng yên thọ chấp. Nhất là Bồ Tát hiện thân tướng cư sĩ thì ba thứ độc nhiễm trên nếu không có Phật vô lượng Hóa Độ, vô lượng Diệu Dụng, thực tế không có Bồ Tát nào vào, ra Giới nổi, không đủ sức tự tại tháo gỡ. Chỉ Bồ Tát nào dày công đức cúng dường Như Lai, như nhiên vào hàng Đại Căn được tháo gỡ trước. Còn những vị bê trễ, an trụ, không hợp nên Phật không hóa độ được. Do đó mà khó. Vì vết chân Chư Phật, lộ trình thời gian không đủ, tuổi cao nên phải đợi vị Phật kế. Lối hóa độ của Phật một là đưa Bồ Tát ra khỏi ÁI vì đang nhiễm ái. Lối thứ hai là cho vào ái sau lôi ra khỏi ái, cuối cùng Phật cho dung thông ái. Thấy mất ái ai cũng sợ, cũng gào thét nên thấy Phật ác, nghịch là vậy. Qua được ái, sau không còn nhiễm ái nhưng ái không mất. Tiền hung hậu kiết, chưa nhận định được ái Bồ Tát bỏ chạy, phê phán chỉ trích Phật thật ác nên bị lầm phải đợi những đời Phật sau! Cho nên trụ La Hán còn tạm, nếu hạnh nguyện đúng Bồ Tát tận độ Hoa Pháp Tánh không ai làm nổi, phải huân tập nhiều kiếp mới xuất hiện Bồ Tát Đại Căn theo Phật cầu Diệu Quả Bồ Đề. Bởi vậy Phật làm Phật biết, chỉ Phật biết Phật, Bồ Tát Ma Ha Tát biết chưa tận thì bậc tu ở dưới sao thấu hiểu. "Bồ Tát Quán Tự Tại Vô Ngại phá nghi, phá tương đối, phá thân khẩu ý xuất ly đặng gìn giữ tư duy nên chưa tỏ rõ di chuyển Pháp Tánh, chưa biết được thường tánh thì làm sao chu đáo Diệu Tánh Niết Bàn. Bậc Bồ Tát như vậy mà bắt chước hóa độ nơi Phật làm hành dụng tác tạo Nghịch Hành, thật là nguy hại vô kể." –T.V. Bậc tu chưa trực giác đầy đủ, còn dùng trí suy nghĩ gọi là tư duy, cũng chưa được Chư Phật ban hành chứng minh hành nguyện, hạnh nguyện cầu Diệu Quả Bồ Đề mà tự ý tạo pháp bất tịnh rồi cho là vô ngại, tự tại bắt chước Chư Phật. Kết chung đi ba đường ác, không tự tháo gỡ được sẽ thành Phật Qủi còn gọi Phật Giới thật nguy hại vô kể. Đương thời còn Đức Vô Thượng Tôn Di Lạc tại thế có bậc tu tự xưng Hoan Lạc đã tự tung tự tác, Ngài báo cho chân Phật tử tín thành thấy biết mà tránh. Ngài cũng không chứng minh làm Hộ Pháp, bậc này không hay biết nên tưởng tượng mình thành Phật như Ngài. Tự ý suy nghĩ tu hành sao cũng được nhưng theo tôn ty trật tự vết chân Ngài, bậc Bồ Tát đến hàng Thánh Chúng Ngài kiểm tra Đạo-Đời hợp nhất thường xuyên. Không có bậc nào dám tự ý khi chưa được Ngài khai mở vô minh cho trực giác. Bậc Chánh Đẳng Chánh Giác như Ngài chú tâm đồng hóa nhân sinh nên lối sống ăn ở cũng giống như tất cả tầng lớp con người, chỉ hơn nhân sinh, tứ loài Bản Giác thôi. "Bồ Tát nên y kinh để liễu nghĩa, nên dạy chúng sanh nghe pháp cốt tỏ biết. Chớ chẳng nên y kinh bất liễu nghĩa dạy chúng sanh nghe pháp chớ nên thuộc lòng không hiểu nghĩa sau này sẽ bị biết, dạy chúng sanh thật biết hữu lậu thật rõ vô lậu. Hữu vô đều tỏ rõ, chớ vì hữu mà nặng, chớ vì vô để chấp. Lại cũng chớ vì hữu mà đoạn, chớ nên vô mà lìa, đó chính là Bồ Tát khéo cúng dường Tam Bảo, khéo đưa chúng sanh chẳng lấy cũng không bỏ." –T.V. Pháp của Bồ Tát là pháp không Hữu cũng chẳng Vô. Không lấy cũng chẳng bỏ. Không y kinh cũng chẳng ly kinh. Đó chính là pháp viên dung không hai tướng, pháp của Nhứt Thừa hoàn toàn giải thoát. Thực hiện được pháp này bậc tu đã được Trực Giác lúc nào cũng tự tánh, chúng sanh tánh không còn vọ vậy nữa. Hàng Bồ Tát biết sống cuộc đời thoải mái, lấy chân lý là người bạn trung thành nhất nên ý thức được trong cuộc sống người ta phản mình, người thân cũng phản mình, chính mình cũng phản mình. Chỉ có chân lý là trung thành với mình nhất, là nguồn an ủi cho mình quý nhất, nó đem đến cho mình thêm hiểu biết Bảo Pháp như lời của Chư Phật thật quý. "Các hàng Thánh, Tiên cùng Chư Bồ Tát thảy đều công dụng tương song tu cầu quả vị. Nơi quả vị chủ yếu tương song mới đặng hóa thân Phật Tướng hay Bồ Tát Tướng. Mặc dù Bồ Tát, Phật không có tướng, nhưng nó phải có cái gì tương song mới hình thành Chánh Giác." –T.V. Phật không tướng, Bồ Tát cũng không có tướng. Giác tướng là tướng Phật, tướng Bồ Tát. Chư Phật khai ngộ Chư Bồ Tát tu cho thấu đạt Giác Tướng. Muốn vậy Bồ Tát phải tu từng các cõi, mỗi cõi có một sắc thái cao thấp, rộng hẹp, thanh thô, dơ sạch... khác nhau. Phật nói chúng sanh vọng tưởng điên đảo tham cầu nhiều hơn là thực tiễn, đòi cái lớn bỏ nhỏ nên không tu sạch các cảnh giới. Cõi nhân gian lấy sức lực xây dựng nhà, đền đài... cõi Thiên thì thanh thoát. Lý và Sự cần tương song, bỏ lấy không chừng đổi sanh dị biệt. Nếu từ cái khởi điểm nhỏ cũng thực hiện thì Tánh Tướng được tương song sẽ tỏ rõ Giác Tướng. Chúng sanh tu có biên giới, Bồ Tát không biên giới nên ở trường học, ở cơ quan chỗ nào cũng tu được, chớ không phải vào chùa mới tu được. Tu có biên giới không bao giờ tỏ tường Giác Tướng Phật. Nó không biên giới lại vô lượng vô biên. Nhưng dù có việc khó khăn, lắt léo cũng phải hóa giải để nhận diện được Pháp Tánh là đạt được Giác Tướng sâu hơn hàng A La Hán. Bồ Tát đi cùng khắp hạnh nguyện nên biết hết Tam Thiên Đại Thiên thế giới. Từ đó biết có người đam mê, nghiên cứu đủ thứ, khi chết thành ông Thần... mỗi nơi thọ chủng sản xuất ra một vị cao thấp khác nhau do tư tưởng tạo thành nhờ đó tận tường Giác Tướng đến Chánh Giác. "Đa số các bậc tu hành, tu thời chỉ biết mình tu chớ nào rõ tương song chính là nơi bảo toàn đức tánh quả vị, do lẽ ấy nên Bồ Tát không bao giờ làm ác, Bồ Tát chẳng bao giờ làm mất phẩm hạnh nên chi Bồ Tát lai sanh kiếp kiếp thảy đều không có tội lỗi, chỉ vì chúng sanh đồng ứng tương song cứu độ thôi." –T.V. Nhiều bậc tu nặng Đạo Đức kém Trí Tuệ. Có bậc trí tuệ khá lại kém đạo đức. Do đó dù tạo quả vị cũng không bảo trì được. Bậc tu cần tạo đạo đức và trí tuệ tương song mới bảo trì được đường tu có phẩm hạnh đạt quả vị. Tu tri Kiến Giải Thoát do căn cơ tự biết ý thức đức trí, tánh tướng, lý sự tương song. Gặp hoàn cảnh tánh tướng thực hiện qua được không còn vướng động tâm, giải tâm được giải thoát. Bồ Tát biết giải thoát từng khâu nhỏ, từng vi trần đó là bảo toàn quả vị. Bồ Tát dù va chạm đụng đến thế gian, tâm giải tỏa các pháp giới không còn vướng động đó là giải thoát, nên lai sanh kiếp kiếp đều không có tội lỗi, chỉ vì chúng sanh cứu độ thôi nên chẳng bao giờ mất phẩm chất hạnh nguyện. Tu sao mà Thánh không biết, phàm không hay đó là Phật. Còn chư vị Thánh chỉ giữ điệu bộ Thánh nên ai cũng biết. Còn phàm vì không biết Phật và Bồ Tát nên nói ông này tu tầm thường quá. Tu mà Thánh biết, Phàm biết thì không ra ông gì, cũng không thành ông phàm hay Thánh gì hết. Đó là Nhất Tôn Phật đi như vậy, chỉ vì chúng sanh mà cứu độ thôi. Bồ Tát sanh trưởng trong gia đình nào đều chấp nhận rồi tùy thuận phải cải hóa, giải tỏa cho đẹp toàn vẹn. Có vậy mới cứu độ được Cửu Huyền Thất Tổ. Tỷ như Phật hay Bồ Tát sanh vào gia đình ngạ qủi lấy tiền làm gốc, ai có tiền thì tử tế, Bồ Tát phải cải tạo lại, có tiền không tiền cũng được miễn là thoát sinh khỏi lý trí, chỉ lấy tình là thứ nhất, cải tạo ngay bản thân mình, mình chỉ trách mình mê, không trách ai hết. Cuối cùng hóa độ cả gia đình thoát khỏi ngạ qủi căn. "Bồ Tát tu vạn hạnh, từ nơi Tịnh - Bất Tịnh không chướng đối với hàng tu cầu giải thoát. Trí tuệ nơi hàng tu Bồ Tát là trí tuệ bất thối chuyển, trí tuệ bất thối chuyển chính là Bát Nhã Trí, trí tuệ này không chấp trụ, không vì khởi niệm tương song, lý trí quan niệm tự cho mình là Bồ Tát lai trần cứu độ." T.V. Bồ Tát dù tu tánh tướng, đức trí tương song cũng không chấp trụ tương song, đó chính là pháp môn không hai, đã không hai là nhất niệm. Vào pháp môn không hai Bồ tát lấy dân chúng làm nhà cửa, làm cuộc sống. Bồ Tát lấy tất cả chúng sanh làm bà con dòng họ. Nhờ chúng sanh mới có Phật Tánh. Nhờ mưu sĩ mình xem xét mình mới có ngay thẳng, nếu chúng sanh không mưu sĩ Bồ Tát cũng ngay thẳng thì đồng nhau không hơn ai, thì làm sao xuất sanh thành Bồ Tát được. Tổ là tỏ thông, Bồ Tát là thấu đạt nhưng chưa tận thành cho nên phải biết trực giác chớ chưa tận giác không nên chấp trụ. "Bồ tát tự làm ra Tướng Phật vẫn chưa phải là Phật. Vì sao ? Vì Phật không có tướng. Phật chỉ thị hiện đầy đủ từng lớp lớp không thiếu sót bao trùm khắp khắp Phật Tướng." –T.V. Bồ Tát gặp kẻ gây điều xấu, không hờn giận lại tùy hoàn cảnh hiện thân cứu độ thật đẹp, thật tròn khắp lớp lớp. Bảo châu nằm nơi nghịch pháp, Bồ Tát hành nguyện gặp người nói xấu, nguyền rủa đủ điều, Bồ Tát có quyền soi sáng là hơn hết. Đó là Đại căn, Đại trí. Họ xấu vì nghiệp chúng sanh Bồ Tát không giận hờn. Đó là Bồ Tát soi thấu ngàn phương. Do đó Bồ Tát không tướng mà giác tướng biết trùm khắp khắp Như Lai hiện thân cứu độ lớp lớp. "Có khi một bậc từ trong A Tỳ Địa Ngục hoặc Vô Gián Địa Ngục, gặp đặng duyên lành của Bồ Tát tận độ, liền đặng thoát sanh lên Nhân Thiên. Bằng có bậc đang sống ở Nhân Thiên, giờ phút lâm chung mạng vong thoát khỏi Nhân Thiên, thụ sanh vào Ngạ Qủy, Súc Sanh hay Địa Ngục." –T.V. Tốt và Xấu là hai, Thiện và Ác là hai, Thượng Sanh Nhân Thiên, Hạ Kiếp lưu đày, Bồ tát tu hết cái tốt được cái tốt nhưng không ghét cái xấu là độ xấu. Tu hết cái Thiện được cái Thiện nhưng không ghét cái ác là độ ác. Thế nào là Thiện Căn để độ Ác Căn. Bậc tu không khinh kẻ ác căn đó là độ kẻ ác căn. Được một gọi là Nhất Tôn Hạnh còn gọi không Thiện cũng chẳng Ác vì độ hết ác căn rồi. Kẻ làm quấy sai trái mình không cho nó là quấy vì hoàn cảnh mê lầm của nó phải như vậy. Khi mình gặp hoàn cảnh tương tự cũng bị như vậy thôi. Kẻ khùng chưởi mình, mình giận chi. Bậc tròn giác thấy cái gì từ thân mình cũng có. Bậc tu đòi làm Thánh làm Bồ tát mà còn thấy hơn chúng sanh thì chưa phải là Bồ tát. Mình cứ hạnh nguyện như vậy không thấy mình là Bồ tát chỉ thấy độ chúng sanh. Đương nhiên đầy đủ công năng công đức là bậc tu đã độ xong Ngạ Qủy, Súc Sanh, Địa Ngục A Tỳ, Địa Ngục Vô Gián. Chừng đó chỉ cần một câu niệm vì đã có lòng Đại Bi, Đại Trí, Đại Dũng chúng sanh đại duyên cầu liền được cứu độ. Bậc tu đã siêu độ được tánh mình, vận chuyển được ba cõi sáu đường không còn bị giới mới tận độ được chúng sanh. Cũng có bậc căn tánh Nhân Thiên, khi gặp hoàn cảnh thuận lợi liền sanh tâm độc, mưu sĩ đoạt của, làm tổn hại kẻ khác. Khi thác sanh việc làm của chủng tánh độc, mưu sĩ nó trả về ngạ qủy, súc sanh, địa ngục là lẽ thường vì nó làm như thế nào thì nó về nơi ấy. Do đó mà Đức Di Lạc Tôn Phật mới khai thị có bậc ở trong địa ngục tối tăm đại duyên gặp đặng Bồ tát liền thoát sanh nhân thiên sung sướng phước báo. Còn có kẻ Nhân Thiên hay bậc tu xuất gia làm lỗi lầm tai hại bị sa Địa Ngục, Ngạ Qủy, Súc Sanh là như vậy. "Một khi con người chán chê kiếp sống, mong giải thoát, phải nương nơi thụ sanh cổi giải cho đặng thoát sanh từng giai đoạn, nên mới niệm niệm cốt dứt bỏ từng quan niệm theo tấm gương của Chư Bồ tát cùng Chư Phật, đã từng hóa giải thoát sanh bá thiên vạn triệu pháp giới, đến tự tại vô ngại thoát sanh về với giải thoát." –T.V. Bậc tu còn lầm lẫn đều bị thọ pháp giới dưới muôn ngàn hình thức. Nếu mong cầu giải thoát phải nương nơi giới, cổi giải mới qua từng pháp giới. Niệm niệm có nghĩa từng pháp cỗi giải, còn quan niệm là còn nghiệp thức, nghiệp căn, nghiệp lậu cần phải cỗi giải cho sạch. Bồ Tát thuyết pháp để chúng sanh giải gút. Chúng sanh tin cần cổi giải tánh nghi. Còn nghi còn giải. Hết nghi hết giải. Cũng như cái áo còn dơ là còn giặt mãi cho trắng. Chúng sinh tìm chân lý bằng quan niệm phải tu như vậy, phải làm như vậy, khác ý họ bảo tà đạo. Tu bằng quan niệm bị nghiệp thức ngăn che dù có a tăng kỳ kiếp cũng không bao giờ giải thoát. Thường bậc tu nhìn hoàn cảnh người khác thì thấy được, còn chính hoàn cảnh của mình, mình không biết. Ta biết họ, ta giải cảnh đó thì ta được đúng. Làm mãi sẽ đến cơ bản chính là vô ngại, tự tại, đại bi, tri kiến giải thoát. Đâu còn bị thọ chấp pháp giới. Bằng niệm niệm nơi mơ ước niệm, tưởng niệm hoặc diệt bối cảnh niệm, đó là diệt pháp không đúng đường Chư Bồ tát đã đi, bị sanh trong vòng sanh tử. "Nên chi chư Bồ Tát tu theo chí nguyện, lập hạnh nguyện, ban đầu nương nơi nguyện để tu, đến giai đoạn trực giác mới tường tận lướt qua các bối cảnh thuận nghịch, tâm không mắc miếu mới là độ sanh." –T.V. Đối với Ngài trao cho hàng Hộ Pháp, Tôn Giả độ sanh, Ngài xem xét kỷ, thử thách dạy cho nhận định được chân lý sau trực giác mới cho thuyết pháp độ sanh. Ngài cũng kiểm tra các vị này nếu ở các tỉnh ba hay bốn tháng phải vào vấn an Ngài. Có bậc Ngài bỏ, có bậc tín thành Ngài đào tạo tiếp. Những bậc này số đông Ngài cho lập ba tâm năm nguyện y như Chư Tổ đã lập ra. Hàng Bồ Tát nguyện Ngài cho lập ba lần nguyện: • Lần thứ nhất Ba Tâm Năm Nguyện. • Lần thứ hai Chi tiết Nguyện. • Lần thứ ba Mật Nguyện. Cả đời theo tu Ngài tôi được Ngài cho lập ba lần nguyện. Cũng có hai vị tôn giả nữa ở Trung Ương được lập ba lần nguyện như trên nhưng khi Ngài ban hành Hịch Bồ Tát Ma Ha Tát duy nhất chỉ có một được thọ lãnh trong toàn Long Hoa Hội Thượng. Ngài từng khai thị: Chân Phật Tử bản năng chưa sửa chỉnh, tâm chí không hướng thượng, tư tưởng còn mơ ước ảo tưởng dù miệng thuyết pháp cũng nói cho có nói chứ không mang lại lợi ích thực cho chúng sanh. Bậc nói ra hay còn việc làm rỗng không, lý sự không đồng, chỉ sống nơi trừu tượng, bản thân còn đầy ma tánh vội dạy chúng sanh chỉ thêm vô ích. "Tại sao không qua nổi chủ lực của Lục Đạo? Do mỗi một con người có một đích sống quan niệm lẽ sống của một tướng môn thì làm sao chủ lực được sáu đạo mà thoát sanh khỏi lục đạo." –T.V. Diện kiến với Đức Di Lạc Tôn Phật, được theo khi Ngài khai thị mới biết quá ư khó qua nổi chủ lực của Lục Đạo. Học, tu thì dể vì tu theo quan niệm còn thực tế phải có Ngài, bậc thành tâm thiết tha phải mất 20 năm mới ra khỏi chủ lực của Lục Đạo, mới qua nổi chủ lực của vòng đi pháp giới! Chẳng khác nào nhà khoa học chế tạo ra phi thuyền bay ra khỏi vòng đai bầu khí quyển, sống trong trạng thái không trọng lực, sau đó phải có lực quay trở về trái đất an toàn. Vì vậy bậc ra khỏi vòng đai pháp giới, ra khỏi chủ lực lục đạo cùng ba cõi không dùng văn tự diễn tả được, cũng không sống cầu kỳ làm Thánh nên chúng sanh, bạn bè, thân quyến ở sát bên không hề hay biết. Chỉ có Chư Phật mới thực hiện qua nổi chủ lực của ma lực lục đạo. Nói thì dễ thực hành thắng ma lực được mới có chủ lực. Tự ý đâu biết phải thi hành ra sao nên không có ai qua nổi chủ lực lục đạo. Càng học, càng nghiên cứu, không vận chuyển được vạn pháp nơi nghe thấy biết làm sao thoát sinh. Còn lầm chấp nó càng khủng bố để chúng sanh củng cố đứng yên trong chủ lực của nó. Hiểu biết là một chuyện còn thực hiện lấy lại chủ lực thật khó khăn vô kể. Quan niệm lẽ sống của một tướng môn có nghĩa nơi thân mạng của mỗi chúng sanh tuy có hằng hà sa số tánh nhưng chỉ có một căn tánh chính mà thôi. Mỗi căn tánh là một tướng môn ngạ qủy, súc sanh, địa ngục, a tu la, nhân thiên... mà chúng sanh tự tạo bị nhiễm. Có chúng sanh sống tướng môn Địa ngục, có chúng sanh sống tướng môn súc sanh, ngạ qủy... Chúng sanh rất khó thấy, khó biết làm sao ra khỏi chủ lực lục đạo được. Bậc tu dù nhiều năm cũng vậy phải có cách thức của mỗi môn mới lần thoát sinh thôi. "Ta phải vãng sanh bản thân, hồi sanh tu nơi bốn bài năm môn mà đoạt đến Cửu phẩm Liên Hoa tận thành chánh giác. Khi bấy giờ mới hay: Ngũ Uẩn Giai Không, Độ Nhứt Thiết Khổ Ách vậy." –T.V. Hóa giải sạch hoa pháp tánh nơi thân mạng gọi là vãng sanh. Hồi sanh là cái sống thực không còn ma lực làm chủ nữa, lúc bấy giờ tu nơi bốn bài toán cộng, trừ, nhân, chia và năm môn là Giáo lý môn, Triết môn, Toán lý môn, Khoa học môn, Siêu hình môn. Bốn bài toán và năm môn bao gồm Tam Tạng kinh của Chư Phật. Đến lúc sở đắc chân lý mới biết lời khai thị tuyệt mỹ của Chư Phật. Sở đắc Cửu Phẩm Liên Hoa là chín phẩm tu chứng lớp lang đầy đủ Đức Di Lạc Tôn Phật mới kiểm tra chứng minh vào hàng Bồ Tát, đại diện Chư Phật lai trần tận độ chúng sanh chờ đầy đủ thành Phật. Vậy hạ kiếp này những vị không gặp Đức Di lạc Tôn Phật mà bảo là Phật, Vô Thượng Đẳng, Vô Thượng Sư hãy kể chín phẩm sở đắc mới là đường đi của Chư Phật. Nếu là thực ắt phải biết, còn không, bị mang khai tướng Phật. Cửu Phẩm Liên Hoa chỉ có Đức Di Lạc Tôn Phật biết được, tận rõ được, chủ trì được mà thôi. Chư Phật chỉ có một đường Nhất Tôn không hề có đường thứ hai, thứ ba. Chỉ bậc lầm nhận mới có nhiều đường khác mà thôi. Ngài còn căn dặn đắc Vô Thượng Đẳng Chánh Giác phải hành thâm pháp giới chẳng thiếu sót mới chứng quả. Chớ không phải sở đắc Vô Thượng là thành Phật được đâu. Thật là mê lầm còn dày đặc, bị Phật Giới khó thoát khỏi chủ lực lục đạo, vẫn chưa xong độ Nhứt Thiết Khổ Ách. "Bộ óc nơi ta, thân mạng của ta nó là giống gì? Ta chưa bao giờ biết rõ nó, nó chẳng cần biết ta nên ta ngỡ nó là ta, cho nó ăn hương vị đầy đủ, cho nó mặc sung túc chẳng thiếu chi, cầu nó gìn giữ trẻ trung sợ nó già nua sút kém nhưng chính nó nào đâu phải vậy. Nó là bộ máy ráp vần ghi nhận như nhiên ta có bổn phận phát ngôn thấy biêt. Nó cùng ta thẩy đều như nhiên, phần nó đã giải thoát từ lâu, nơi ta lại sống theo quan niệm, Thiền sư nói xong cười xòa lải rải." –T.V. Như cái radio phải do từng bộ phận ráp lại đúng nó phát được tiếng nhờ Đài phát thanh. Nếu Đài phát thanh ngưng hoạt động cái radio không phát ra tiếng được. Nếu dòng điện tắc nó cũng không lên tiếng được. Con người cho đến tứ loài cũng đầy đủ bộ phận như nhiên tiếp nhận được cái nghe, thấy, biết của vũ trụ nhưng người nào ưa thích môn nào thì nghe thấy biết nơi Như Lai tạng cung đốn cho như ý nguyện của nó mà thọ lãnh. Do lầm mà ai cũng cho thân xác này là ta, rồi lo cho nó sung mãn, không chú tâm đến cái nghe thấy biết ngăn biệt tạo ra vô số tánh tốt xấu, thiện ác, tạo nơi loạn trí trong thân mạng con người. Có bậc khi thấy thích thú phát tâm tu thì lại không chú tâm tìm pháp môn giải thoát để tu. Ngày nay Long Hoa ra đời Đức Di Lạc Tôn Phật đã để lại cho nhân sinh con đường đi đến chân lý thật sống động tại thế gian này. "Dại thay, khó khăn thay con đường giải thoát. Ta là con người nơi một con người. Chưa bao giờ biết đặng nơi con người, thì làm sao hơn con người mà giải thoát? Khi Ta biết, đã thật biết đặng con người thì lạ thay! Ta đã giải thoát dù cho có cho ta giải thoát khỏi con người. Nhưng Ta đã hoàn toàn giải thoát toàn bộ." –T.V. Tính theo Phật lịch cho đến hiện nay Đức Bổn Sư đã nhập Bát Đại Niết bàn hơn 25 thế kỷ. Bậc tu Phật có hàng triệu triệu xuất gia lẫn tại gia. Lượng thì quá đông, Chân Phật Tử tu đạt đến đích giải thoát quá hiếm, do nơi chưa nhận định được thế nào là tu. Nơi chủ lực đòi hỏi bậc tu phải có căn tánh hướng thượng, căn tánh đại chí. Càng phát tâm bao nhiêu lại càng lầm lạc bấy nhiêu vì tu hư vọng, mất thể tánh tự tánh giải mê. Tôi nghe như vầy: Thời mạt pháp bậc tu hóa giải dù đúng Phật ngôn nhưng không đúng thể tánh, càng hóa giải vô minh che Phật Tánh bao nhiêu lại càng thọ tánh xấu bấy nhiêu. Sự thông thái, trình độ mỗi cõi mỗi khác nhau vì hiểu biết bất đồng khác nhau, khó hiểu nhau. Tất cả mức sống , trình độ, vật dụng chỉ có hóa sanh kết tạo mà thành. Tất cả hiện vật trong vũ trụ thảy đều nơi vũ trụ hóa sanh chớ con người làm sao sáng tạo chất hóa. Con người chỉ lấy hiện vật có sẵn kết nạp gọi là biến chất dù cho con người tiến bộ đến đâu, khám phá vũ trụ dạo khắp hành tinh đem về thực nghiệm cũng không biết được PHI VẬT là chất chưa hóa, sanh ra vạn vật. Mỗi thế giới Tiên, Thần, mức sống trình độ, vật dụng tinh xảo tốt đẹp gấp ngàn lần thế giới con người. Chỉ trừ con người dùng trí tuệ khám phá thân mạng, lúc khám phá xong chừng đó mới tỏ rõ con người, đã thật biết đặng con người thì lạ thay! Bậc đó đã hoàn toàn giải thoát. "Con người với con người khôn khéo đến đâu khó nói lên thế nào con đường giải thoát, chỉ có bậc giải thoát mới bày rõ Chân Tôn, biện bày giải thoát. Dù cho nhất tâm tu đạt, tin chỗ giải thoát chăng, vẫn tin nơi quan niệm giải thoát bằng thể thức tuyệt dục ly thân cắt ái xa lánh con người trần lao cấu nhiễm là giải thoát." –T.V. Một chúng sanh thông minh đến đâu mà Bậc Chánh Giác khai thị cho họ cũng phải nương chìu, dỗ dành cho họ một thời gian tin đạo, sau tìm phương tiện cho họ vâng lời thi hành lời dạy đặng hạnh nguyện. Đến lúc thuần thục mới lựa thế khai mở cho giải thoát. Thật khó vì chúng sanh sống theo quan niệm giúp cho họ tu phải làm sao, phải hành như thế nào, phải khai thị ra sao khi họ trực giác được là một kỳ công của Bậc Chánh Giác. Khi nhận định được, đến trực giác mới biết giác ngộ không phải tuyệt dục ly thân cắt ái, xa lánh con người trần lao mà phải nương những thứ đó hóa giải không còn nhiễm chấp, đến khi sạch nghiệp chờ gặp Bậc Chánh Giác khai giác ngộ. Bồ tát hạnh nguyện độ sanh cốt đánh thức chúng sanh khỏi lầm lạc nên Bồ Tát chẳng bao giờ diệt pháp. Khi Đức Bổn Sư nhập Niết Bàn Chư Tổ phụng hành Bảo Pháp làm cho chúng sanh tiến theo con đường thiện căn thiện chí đúng nghĩa Thánh Hiền. Đến thời Tổ cuối là Lục Tổ song hành có Thần Tú xây dựng Đạo bằng tín ngưỡng, ông cho tăng thêm tán phách chủ đích nương nơi đó tu hành cho đến ngày hôm nay, thời Hạ Lai Mạt Pháp đa số bậc tu nặng triển khai sắc tướng âm thanh mà lập pháp. Kém về y chỉ tự tánh. Nay thì Đức Vô Thượng Tôn Di Lạc đã mở một con đường trở về Chân Tôn cho Bồ tát và Chư Vị Tôn Giả, Hộ Pháp hàng cư sĩ xây dựng lại Chánh Pháp. Trên đường hành đạo, thể hiện Long Hoa đã ra đời, gặp nhiều bậc tu bảo thủ môn phái nhận chấp vẫn bị mê, có số lại vô tư bị sa Tịnh Biệt vẫn lầm lẫn. Thật ra Tôn Chỉ Tịnh Độ vốn giác Tịnh đặng Độ mà thôi. Bồ Tát và phàm chỉ hơn nhau Ngộ và mê. Bậc trình độ Thánh Hiền ngang tầm mức tỏ chân lý mới nhận được. Ngoài ra giảng giải cho bậc tu chưa đến mức Thánh Tăng không thể nhận được nếu có cũng hiểu lờ mờ sanh dễ nghi chấp. Vì vậy mà Ngài lập lại tôn chỉ mục đích cần Tín Hạnh Nguyện mới nhận chân được. "Bạch Thế Tôn chính con đã đưa tất cả chúng sanh Tri Kiến Giải Thoát. Sự lầm lạc nơi con giờ phút này không nói được. Con vướng bệnh mê lầm chính con phải chữa căn bệnh, khi bệnh hết mới đặng giải thoát. Con tu cầu đã từng thề nguyện, độ hết chúng sanh mới nhập Niết bàn. Bằng còn mỗi một chúng sanh chưa tận độ, con thề chưa nhập Niết bàn." –T.V. Đoạn kinh này cho thấy ngụ ý Đức Di Lạc trước khi chánh giác cũng bửu sám lên Đức Thế Tôn để Chư Tổ sau đừng xưng Bồ Tát, Phật loạn như thời Hạ Lai Mạt Kiếp này nữa. Còn một chúng sanh tánh chưa tận độ tức chưa tròn đầy Đại Viên Cảnh Trí thì làm sao nhập Niết Bàn cho được. Hàng Bồ Tát lâu lâu tùy thời cũng khuấy động vạn pháp, xem thân tâm có liền chưa mà tận độ chúng sanh tánh còn chưa xong. Vậy phải chờ thời kiếp nào diện kiến Chư Phật mới vào sâu tận độ nên bậc trí cạn tự hào xưng Phật hãy thận trọng hý ngôn. Một hôm Đức Long Hoa Tăng Chủ Di Lạc Tôn phật nhập chánh định khai thị rằng ông Krishnamurti là một vị A La Hán còn rất xa mới lên đến Bồ Tát. Quả A La Hán tu đạt cao nhất là Đại Tiên rất nhẹ cảm dễ nhận biết nhưng những vi tế chúng sanh tánh di chuyển trong thân mạng chưa nhận được như hàng Bồ Tát thấu đạt thật sâu. "Nầy hàng chư Tiên, các ông rộng hẹp chưa dung đồng bình đẳng, chỉ vì độc tôn bỉnh trị, do nơi ưa chuộng say đắm chốn uy quyền. Ta phải dạy sắc hương chớ vương trong pháp giới, buông thả tỏa muôn phương cúng dừơng tam thế chứng. Còn hàng thanh thoát của Chư Tiên do căn tánh hiếu kỳ, do lòng hữu hóa nên bị sống hóa sanh trưởng thành tài phép chìm đắm diệt sanh. Ta phải dạy tâm hành Kim Cang Đại Trí. Đến hàng Bồ Tát hiện tu đạt Phẩm Phổ Môn, cung kính phẩm cúng dường, rộng đường Bát Nhã vị. Thiền sư vừa tuyên đọc xong, tất cả Rồng Người Tiên Thần Thánh Hóa cùng Bồ Tát trùm khắp Tam Thiên Đại Thiên Thế Giới tán thán. Chư Phật mười phương chứng minh đương thời Hạ lai Pháp Thân thị hiện giảng giải." –T.V. Tâm hành Kim Cang Đại Trí là tâm đã tu tự tánh đoạt Bát Nhã Trí. Không còn ảo vọng biết tu thực tiễn. Bậc có bát nhã trí không bao giờ bày ra công việc làm nhưng vạn pháp đến thì biết phải hành sự như thế nào cho tròn. Thế nào là hàng Bồ Tát hiện tu đạt Phẩm Phổ Môn? Hàng Bồ Tát hiện tu đạt vạn pháp, độ nhất thíêt khổ ách, trực giác được trong tầng lớp lớp chúng sanh, có bậc tốt, tốt quá thành ngu. Càng tốt càng ngu nhưng dù thấy biết như vậy cứ tiếp tục đi tới tận cùng nghĩa vị tha. Đó là Chân Đế còn gọi là tu đạt Phẩm Phổ Môn. Một chúng sanh làm một nghề gì đến giỏi tận cùng là chân đế đến thành công. Bậc này đã đạt Phẩm Phổ Môn. Như một bác sĩ hành nghề đến tận cùng của chân đế là nổi danh gọi là tu đạt Phẩm Phổ Môn. Bậc tu toàn diện tận cùng của chân đế là Chánh Giác. Khi đạt đến chỉ cần một chân đế thôi thì bá thiên vạn chân đế khác nó đến cùng giống nhau hết. Bồ Tát rất cao, chúng sanh nói làm đủ điều cứ nhẫn nhục, đến khổ nữa nhẫn nại, đến khổ nữa nhẫn nhịn. Suy ra ai cũng phải nể hết. Đó là chân đế khổ, tu đạt Phẩm Phổ Môn. Mỗi pháp là một chân đế. Chân đế là gì? Là chạy dài từ đầu kéo dài đến cuối cùng ở đầu kia là hết. Tất cả vạn pháp đều có chân đế. Đây là mê lầm, tận cùng mê lầm là tận giác, là chân đế. Bậc ác căn hành động thật ác, lúc ý thức được ác dẫn đến nguy hiểm nó đạt được chân đế liền hồi tỉnh đạt Phẩm Phổ Môn. Tỷ như nước hôi thúi, đem lọc, lọc mãi hết cặn cáu, hết thúi hết hôi là nước sạch. Đó là chân đế. Hàng Bồ Tát phải hành, phải quan sát đến thành công Diệu Quan Sát là chân đế đạt Phẩm Phổ Môn độ nhất thiết khổ ách một cách thực tiễn, đâu có cầu vái van xin, đọc tụng tối sáng, chỉ hợp hóa bằng sự mới tu hành Quán Thế Âm Bồ tát, Tận cùng chân đế tận thành Quán Thế Âm Như Lai. Được chư Tiên Thần, Thánh cùng Bồ Tát khắp trong Tam Thiên Đại Thiên thế giới tán thán, Còn Chư Phật mười phương chứng minh hiện tại Hạ Lai Đức Di Lạc thị hiện tận độ./- 49. Mật Ấn Tuyệt tác thay Đấng Chí Tôn Vô Thượng, Ngài đã thành Phật. Nay Ta lại thọ ký chúng sanh tánh sẽ thành Phật. Tuy nhiên hai lối trong ngoài, chung lại chỉ có một điều duy nhất, phải chăng tiêu biểu hoàn tất Ba Thân? –Biệt Tôn Vô Thượng Đẳng Kinh “Lúc bấy giờ, toàn thân nơi Thiền Sư thảy đều mỗi lỗ chân lông có một vị thị hịên, chung quanh Thiền Sư có hàng hà sa số ứng trực thị hiện lễ bái, ứng trực thọ trì tán thán công đức vô lượng Thiền Sư, tận độ chúng sanh giai thành Phật Đạo. Thiền Sư minh thuyết giải bày, nói năng xong từng lớp lớp thọ trì, lớp lớp ái kính. Tất cả thảy đều thưa gởi. Mỗi chủng tộc của mỗi giới sanh mình. Thiền Sư cười vỗ tay, tất cả đều vỗ tay xưng tán. Thiền Sư nói: Lạ thay trên con đường giải thoát. Ngài liền thọ ký cho tất cả chúng sanh tánh sẽ thành Phật.” –T.V.\ Tôi nghe như vầy: Đối với Minh Đạo Thiền Sư như Ngài khi thành Phật mỗi lỗ chân lông đều có một hóa Phật. Từ một lời nói, một cử chỉ, một tư tưởng đều hiện mỗi mỗi hóa Phật. Từng sát na hiện hóa Phật. Toàn thân Ngài có hằng hà sa số hóa Phật thị hiện chung quanh Ngài cung kính. Ngài xuất chánh định đi đến bất cứ nơi nào, Ngài nhập chánh định ra vào Diệu quan sát trùm khắp. Ý Ngài muốn liền có hóa Phật cùng một lúc đi nhiều nơi hóa độ chúng sinh thật không thể nghĩ bàn. Trong lúc đó Chư Tiên, Chư Thiên chỉ đi được một vị trong toàn thân. Vì sao? Vì còn thọ một giới làm chính yếu, nên khi định tưởng thành, chỉ hiện một vị đi một chỗ, sau trở về lại thân mới hiện một vị đi nơi khác được. Chánh giác của Chư Phật nó vĩ đại đến nỗi không một Tiên, Thánh nào biết nổi. Bởi thế bậc có được Thiên Nhãn, có bậc được Thiên Nhĩ vội xưng Phật thật lầm lạc truyền kiếp. Chúng sanh thấy nói đúng nhờ nhãn hoặc nhĩ của bậc tu này thấy cao siêu chớ nào hay chư vị Bồ Tát, Chư Phật biết họ còn xa hàng triệu triệu do tuần, chẳng thấm vào đâu, chỉ bằng một lỗ chân lông trong toàn thân Đức Thế Tôn, Đức Di Lạc thôi. Chư Tổ vị lai đừng vội xưng Phật nữa nhé. “Khi bấy giờ Thiền Sư quá tường tận sự xuất nhập nơi Như lai Tạng, phân chia định hướng cùng bất định hướng, dung thông cùng bất dung thông Như lai, ứng hiện nơi pháp thân thị hiện, toàn thân Như Lai Chánh Giác. Từ mỗi một lỗ chân lông của Thiền Sư đến bá thiên vạn triệu hằng hà sa số không còn bờ ngăn nên đồng ứng hiện bá thiên cảnh giới, sa số các cõi thị hiện vẫn từ mỗi lỗ chân lông bước ra được gọi là Ứng Hiện Pháp Thân của Bậc Chánh Giác.” –T.V. Đối với Minh Đạo Thiền Sư như Đức Vô Thượng Tôn Di Lạc, xuất nhập chánh định tam muội là chuyện thường làm. Ngài định hướng xuất nhập hoặc không định hướng xuất nhập bất cứ vấn đề gì cũng sẵn tận tường, vì Ngài đã làm chủ Như Lai Tạng. Dù giải quyết pháp dung thông hay không dung thông cũng không làm suy giảm vô lượng công đức nơi Ngài. Tất cả Pháp Thân Phật cũng hàm chứa Như Lai Tạng mà Ngài đã tận thành nên có thị hiện dung thông, bất dung thông vẫn là tận độ hòa hợp cùng Như Lai. Ngài đã từng thực hiện những kỳ diệu này đối với Tứ Chúng Pháp Tạng, nhưng trong đạo tràng không mấy chân phật tử nhận được. Tôi nghe như vầy: Trong tam thiên đại thiên thế giới đều vốn có sẵn Vi Trần Phật, Sát Na Phật tức đều có sẵn thần thông. Tất cả không ngoài điện tử vũ trụ sai khiến tứ loài. Bậc tu khi chánh giác rồi thì ôm hết huyền cơ vũ trụ trong tay. Điện tử vốn nó biến hóa như thân của Chư Phật có hàng hàng lớp lớp Vi Trần Phật, Sát Na Phật thị hiện mãi mãi thường còn. Như y khoa nghiên cứu chừng nào ra chừng ấy... Thành công cái ảo của khoa học là cái thật của nhân sinh. Bậc tu không chấp, không nghi, không chướng, vận chuyển vạn pháp được THÔNG thì nói và làm gì ở đâu đâu cũng THÔNG. Bậc thông pháp, thuyết để thông suốt là của riêng bậc đó còn bậc nghe chưa thực hiện thì đâu phải của họ. Những gì chúng sanh nói và làm đó là trí hóa ra tư tưởng sinh giai cấp, trình độ khác nhau. Bậc thuyết pháp thông là trí hóa biết hết trở thành nhà biện tài. Lý này đè lý kia là biện tài. Thần thông vốn ở trong mê Thông mãi thông đi thông lại về –T.V. Tại sao? Vì bậc tu cùng chúng sinh ưa cầu kỳ sống ảo tưởng xa xôi tìm tòi thần thông ở chân trời hay ở chốn thanh vắng núi rừng. Vậy thần thông của tứ loài đang sống ở chỗ nào? Chỗ nào tứ loài sinh sống chỗ đó đều có thần thông cả. Con người đứng được do trong ngoài đều có sức đẩy của thần thông. Khoa học gọi là các lực không gian tác dụng lên bề mặt của vật ép nó đứng, vì bên trong con người có dòng điện vũ trụ ra vào theo các lỗ chân lông. Khi con người hay tứ loài hết thở nó ngã không đứng được nữa vì dòng điện không còn ra vào thân được nữa. Còn trẻ đi đứng vững, già đi đứng yếu, tóc bạc vì hào quang trong thân ra ngoài yếu, lỗ chân lông và chỗ trống trong thân là thần thông ra vô. Khi bậc tu đạt Chánh Giác thì điều động được Vi Trần Phật, Sát Na Phật từ mỗi mỗi lỗ chân lông trong thân ra vào vô ngại, tự tại đặng đại bi. Râu tóc là cặn bã của thần thông. Tu hành tư tưởng tự tại, đại bi cao độ chừng nào thì thần thông hóa tương song chừng ấy. CON NGƯỜI KHÔNG CÓ CÁI BIẾT TRONG THÂN. Thần thông nó hóa. Trong vũ trụ nó vốn hàm chứa sẵn các hộc gọi là Như Lai Tạng. Nếu cái biết nó nằm trong thân thì khi chết nó phải chôn theo và mất, đại đa số khoa học gia cũng cho cái biết ở trong thân, nhưng thật ra cái biết nằm trong vũ trụ, môn nào nó nằm trong hộc đó. Người vừa sanh ra cho đến khi lớn lên cái biết quá khứ tích trữ ở ngành nào, tập quán, thói quen, quan niệm sống ngành nào của bậc đó nay Như Lai Tạng phổ chiếu trở lại. Tỷ như một người chuyên học tiếng Anh thì trong cuộc sống đi đứng nằm ngồi đâu đâu cũng toàn cái thể của Như Lai Tạng chuyên Anh Văn. Như Lai Tạng nó ra vô trả lại cho mình cái biết từ bốn phía. Tánh càng cao thượng chừng nào sự thông minh hiểu biết càng cao. Càng thông minh cái biết càng xa gọi là Thánh Nhân, Thánh Thiên, Thánh Triết. Từ thượng cổ cho đến bây giờ con người lấy gì để tu. Lấy mắt để tu, lấy tai để tu, lấy đầu để tu đều kẹt ở tầm mức phàm phu. Lấy Như Lai Tạng chung cùng để tu cái gì cũng biết. Bậc biết tận dụng thân nơi kiếp này tu hành như vậy cho đúng đường Chư Phật, Chư Bồ Tát, lại biết thân cận để cầu đạo thì được chỉ dạy cho Như Lai Tạng trả lại, bậc tu nhận biết được tất cả đều thông. Sao gọi là Như Lai Tạng? –Cái nghe của cái nghe, cái thấy của cái thấy, cái biết của cái biết. Do đó bậc tu cần lấy cái nghe để nghe, lấy cái thấy để thấy, lấy cái biết để biết. Nếu nhận định được sẽ nghe thấy biết không còn chướng đối không còn Đoạn, Dị, Diệt. Đối với bậc giác xây đắp căn nào thì thông căn đó thôi. Giác ngộ chớ chưa phải toàn giác. Bậc giác ngộ rốt ráo mới toàn thông. Bậc toàn thông thâm nhập đầy đủ liền vào Chánh Định Tam Muội. Mỗi lúc mỗi nơi đều hiện Nhứt Thiết Sắc Thân Tam Muội. Tu vào con đường Nhất Thừa đúng nghĩa đương thời Đức Di Lạc Tôn Phật khai thị không phải dễ nhận. “Trực hiện là nơi Bồ Tát Sơ Trụ đến Đại Bồ Tát thường dùng Trực Hiện cùng Cảm Hóa Hiện, cảm hóa hiện chính bậc thường thông cảm Tam Thế tam thiên. Xuất định dạo khắp các cảnh giới, gọi là cảm hóa hiện cho đến bậc tận thành, lúc bấy giờ mới Thật Hiện. Bốn tướng hiện trên vẫn còn nơi Pháp Thân Phật chu toàn thị hiện đồng đẳng từng lớp tu chứng, từng lớp chưa tu chứng đảo điên vẫn đặng thừa hưởng hiện. Nơi hiện cảnh ứng hiện chia ra làm hai nơi, gọi là chánh báo cùng thọ báo hiện chớ chưa hẳn Tâm Hiện hay Tâm Pháp, Pháp Tâm hiện vốn như nhiên Pháp Thân tùy thuận hiện. Vì sao? Vì như nhiên hợp hóa bản năng thể tánh đồng hiện thôi.” –T.V. Từ thế gian cho đến Chư Thiên, Chư Tiên, Chư Thần, hàng Thinh Văn, Duyên Giác, A La hán dùng quy chế ứng hiện. Quán Thế Âm Bồ Tát mới tùy nơi mong muốn mà ứng hiện hóa độ. Có bậc tu hành chuyên tế lễ cầu ơn trên ban cho được linh thiêng thuộc ứng hiện. Còn Trực Hiện là trực giác Tam Muội Pháp Môn. Có trực hiện mới tự giác nhận được Tam Thế thường trú khắp xứ lúc đó liền biết cảm hóa hiện. Hàng Bồ Tát trực hiện chỉ Đức Thế Tôn, Đức Vô Thượng Di Lạc mới có Thật Hiện. Chư Bồ Tát quán sát trùm khắp mới thấy: Con người chỉ sống tạm nơi cái sống ở thế gian. Bởi vậy rất cần không những chỉ vật chất mà cả về mặt tinh thần nữa. Phần Thánh Đạo cứu giúp tinh thần. Từ Đạo Lão, Đạo Khổng, Bà La Môn, Thiên Chúa Giáo, Tin Lành Giáo, Hồi Giáo, Ấn Giáo, Thông Thiên Giáo... Trong các tôn giáo thảy đều với đích nuôi dưỡng tinh thần, lúc con người chết được về cõi Trời hay về với Thượng Đế là duy nhất, thuộc quy chế ứng hiện, có cầu có linh thiêng, không cầu không có. Chỉ có Phật Giáo chủ đích đưa con người đến Chánh Giác, thoát sinh ngoài vòng vũ trụ. Vì sao? Vì Phật Đạo đã tìm được Tam Thiên Đại Thiên Thế Giới ngoài cõi Trời. Còn khoa học thực nghiệm những gì Phật đã khai thị hàng nghìn năm sau, nay mới tìm ra được. Tâm Lý Học từng nghiên cứu từ tư tưởng sau phát hiện qua hành động, biết tất cả tâm lý con người để điều động giúp đỡ nhưng tâm lý học chưa biết được tinh thần với vật chất dung thông trong tạng thức của con người mà trưởng thành tất cả. Triết học tận dụng tư tưởng lần đến tận thấu tư tưởng, tận cùng để tỏ tường từng lớp con người, trở nên thông thái chớ chẳng đến được tuyệt đích Giác Nguyên, chẳng thể nào giải được những gì mà Phật Đạo sở đắc, những gì mà Phật Đạo đã giải xong trên bước đường sanh tử luân hồi. Con người thường dùng tư tưởng nung đúc tinh thần phát sinh ra cảnh giới, sau lúc chết được về trong cảnh đó. Chỉ có chư Phật, Chư Bồ Tát Ma Ha Tát biết tỏ rõ, thấy đúng đắn không cố định, chỉ quán xét để giúp con người, giúp bậc tu ý thức Trực hiện đến cảm hóa hiện mà ra khỏi sanh tử luân hồi nhờ vậy bậc tu thấy biết tự ngã của mình gọi là Chánh Định Tam Muội. Nếu bậc tu có tư tưởng cầu chánh giác sau được ứng hiện Chánh Báo. Chỉ cần tư tưởng ngoài bản giác liền bản năng phải bị ứng hiện thọ báo phân minh. Chủng tánh chúng sanh vốn có sẵn trong tứ loài, chúng sanh tánh đó không đâu xa lạ mà chính là các giống vi trùng trong thân mạng. Khi chúng diễn âm trong thân thì đương nhiên con người phát sinh tư tưởng. Hằng hà sa số tư tưởng thì chủng tánh vi trùng có bấy nhiêu. Bậc tu hay Thiền Sư thực hành thông thái bao nhiêu thì những giống vi trùng trong thân bậc tu hay Thiền Sư khôn ngoan bấy nhiêu. Đến lúc chết, thân tứ đại rã, cái biết thuộc Như Lai Tạng nó trả về các hộc trong vũ trụ. Khi sinh ra một thân mới nó liền phổ chiếu trở lại. Thiền Sư nhìn tánh tình, cử chỉ, lối sống hiện tại nhờ sở đắc Trực Hiện liền cảm hóa biết được tiền kiếp qúa khứ cùng vị lai chúng sinh, biết bậc tu lai sinh nơi đâu, từ đó mới hợp hóa siêu độ được. Trực hiện sâu biết được nhiều kiếp qúa khứ còn thì nhờ ứng hiện nhớ một kiếp. Nát địa mới trực hiện sâu thuộc hàng Bồ Tát Bất Khả Tư Nghì, Bồ Tát Bất Thối Chuyển. Đến đây Ngài ngưng giây lát hớp chung trà rồi khai thị tiếp: Đến lúc Thiền Sư thành Phật các vi trùng trong thân Thiền Sư trưởng thành Bồ Tát hàng hàng lớp lớp thật hiện làm trang nghiêm đầy quốc độ. Do đó mới có Như Nhiên Tâm Hiện, Pháp Thân tùy thuận hiện. Vì sao? Vì như nhiên hợp hóa do thể tánh vốn sẵn đồng hiện vi trần Phật, sát na Phật. Thiền Sư nghĩ đến đâu, hóa giải thế gian như thế nào, vi trùng trưởng thành Bồ Tát đến nơi hiện thân hình làm theo lệnh tuyệt mỹ để hoàn tất thế gian giải theo ấn quyết của Thiền Sư. Thiền Sư đắc đạo liền có bá thiên vạn triệu chủng tánh nơi Thiền Sư đắc đạo gọi là Chân Lý Hải. Khi Thiền Sư đắc Vô Thượng Đẳng liền có bá thiên vạn triệu chủng tánh của Thiền Sư đắc Vô Thượng Đẳng gọi là Vô Thượng Đẳng Thế Giới Hải. Do đó khi cần dùng Thiền Sư chỉ ra lệnh liền trong một sát na có một, hai hay nhiều vô số Vi Trần Phật nơi thân Thiền Sư thật hiện. Bậc vào chánh định biết tất cả những con vi trùng trong thân mạng mình. Thân chúng sinh là cái giả, vì thân người do đất, nước, gió, lửa kết nạp thành. Các con vi trùng nó cựa qua cựa lại, chạy qua chạy lại trong các mạch máu, trong các tủy xương... tạo thành cái biết của chúng sinh. Vì thân do tứ đại giả hợp nên cái biết của mình cũng giả, do đó bậc tu điều khiển được chủng tánh các con vi trùng trong thân mình được gọi Chư Phật hiện toàn thân. Lúc bấy giờ, mỗi lời nói, cử chỉ đều hiện Nhứt Thiết Sắc Thân Tam Muội. Tam Muội là Huệ bí mật của Như Lai, là Mật Ấn. Bồ Tát là bậc đã được Chư Phật thử thách trao cho Trí Ấn bằng đại phương tiện thuận nghịch, tịnh bất tịnh, hữu tướng phi tướng. Khó mà biết trước được Diệu Dụng của Ngài nên dễ hồ nghi, dễ bỏ dang dỡ, chỉ một sai nhỏ là hỏng cả đường tu dầy công bấy lâu, phải tự sám hối sau đến sám hối lỗi lầm Ngài mới ghi nhận. Có bậc cho tu lại từ đầu. Qua được, dung thông được mới trao Tâm Ấn. Tâm Ấn là Mật Ấn Như Lai, văn tự âm thanh không diễn tả hết được. Ngưng giây lát, Ngài khai thị tiếp: – Các giống vi trùng ở trong toàn thân mỗi bộ phận hay mỗi cơ quan đều có mỗi loại vi trùng, chúng nó tiết ra chất nhờn nhớt, chất nhờn nhớt này chạy thẳng đến thận hóa thành tinh trùng. Tinh trùng chờ khi giao hợp thụ thai sinh ra con người, liền có cái biết tùy căn cơ của mỗi loài chúng sinh. Do đó bậc có thiền trí, sáng soi thân tâm để phá mê thường chấp sau tỏ thông sở đắc Tam Muội. Nếu bậc tu dùng trí tuệ trí thức, nghiên cứu dù học giỏi đến như Bác học cũng chỉ là tu phước thiện thôi. Tu thiền thông đạt còn nghe được hơi thở cùng sự sống của các loài thảo mộc cùng qủa địa cầu nhịp nhàng di chuyển, cho đến các loài chim chung hòa với tiếng gió reo trở thành muôn vạn câu niệm Phật, niệm Pháp, niệm Tăng không dứt. Bậc tu có tinh thần thiết tha, chưa có trí tuệ cứu cánh vẫn lầm nơi cuồng tín. Thời Hạ Lai Mạt Pháp này Đức Vô Thượng Tôn Di Lạc ra đời chỉnh trang Phật Đạo, Bậc tu lìa ngã vẫn còn nắm đường dây trực hiện được. Hai câu thơ Đức Ngài đã ghi: Đương nhiên Mạt Pháp kia vừa dứt Thời Chánh liền ra tiếp vẻ vang –T.V. Bậc sở đắc Chân Thiền tỏ rõ bổn lai từng chủng tánh nhờ tận giác nên biết rõ ràng Chư Thiên, Tiên, Thần, Thánh mỗi nơi bị nhiễm thế nào phải lai sinh vào cảnh giới ra sao. Từ chốn thọ ngã thi hành huân tập tự ngã để tạo thần thông tài phép ra sao, đều tỏ rõ tỹ mỹ tường tận không sai chạy mà nhập Chánh Định Tam Muội nhiếp độ. Đối với Chư Phật thì lục thông, thần thông tam muội không quan trọng bằng Tam Muội. Thế nên Chư Phật khai thị Chư Bồ Tát: Chánh định Tam Muội là chỗ tạm trú của Bồ Tát thi hành Ma Ha Tát. Còn thực hiện Thực Tướng Vô Tướng Tam Muội chưa sâu là thần thông tam muội của hàng A La Hán./- 50. Tam Muội Tam Muội gồm có bốn Bậc cao thấp, sâu cạn khác nhau: • Bậc Thinh Văn. • Bậc Duyên Giác. • Bậc A La Hán. • Bậc Bồ Tát, Bồ Tát Ma Ha Tát. • Tam Muội của Bậc Thinh Văn: ◊ Linh cảm được việc sắp xảy tới. Tỷ như: muốn đến nhà bạn thăm chơi, tự nhiên có pháp trục trặc. Kết qủa đến là không có bạn ở nhà. Tỷ như: đang đi tự nhiên buồn ngủ. Tốt nhất là đừng đi. Đi là có chuyện không may. • Tam Muội của Bậc Duyên Giác: ◊ Cảm nhận được vạn pháp. Biết được vạn pháp. Hóa giải, vận chuyển được vạn pháp. Tỷ như: đi đến một nơi chốn đã được định sẵn, nhưng khi sắp đi hoặc đang đi có sự việc cản trở không đi đến nơi được. Đó là cảm nhận được sự việc đang trục trặc. Biết được liền dùng đủ phương tiện hóa giải vượt qua không còn chướng ngại ngăn chận. Bậc như vậy đã biết dụng vạn pháp gọi là vận chuyển vạn pháp được thông. ◊ Cảm nhận được là giải được cái mê thứ nhất. ◊ Biết được là tỏ cái mê thứ hai. ◊ Dụng pháp cho thông là tỏ cái mê thứ ba. *Giải được ba cái mê nơi pháp là Tam Muội của bậc Duyên Giác. • Tam muội của Bậc A La Hán: ◊ Thực tướng. ◊ Vô Tướng. ◊ Vận chuyển vạn pháp. √ Khi Đức Bổn Sư Thích Ca Mâu Ni Phật ở giữa hội trường đưa cành hoa lên. Tôn giả Ma Ha Ca Diếp mỉm cười. Ngài liền biết Tôn giả Ca Diếp sở đắc Thực Tướng Vô Tướng Tam Muội pháp môn. Vì sao Tôn giả cười? Vì Tôn giả trực giác được: ◊ Thực tướng: Loại hoa gì. ◊ Vô Tướng: Loại hoa gì có pháp tánh đó, dùng làm gì, mùi vị... ◊ Vận chuyển: Dùng đúng. Tỷ như: loài hoa gì dâng cúng Phật, loài hoa gì cúng ông Táo... *Tỏ ba cái mê của mỗi pháp giới là thông suốt pháp giới. Mỗi pháp cần quan sát biết tường tận đến Diệu quan sát thấu đạt mỗi pháp có ba cái mê. Tam Muội tác dụng giải mê cho bậc tu rất hữu hiệu từ đó thi hành hóa giải hàng vạn, triệu tam muội mới thực chứng đến sở đắc chân lý không còn mắc miếu nơi pháp giới. • Tam Muội của Bậc Bồ Tát, Bồ Tát Ma Ha Tát: ◊ Biết rõ thông vạn pháp. ◊ Điều động thông suốt vạn pháp. ◊ Thấu đạt vạn pháp. *Hàng Bồ Tát biết rõ Bổn Lai Diện Mục của Pháp giới là trọng điểm rất cần thiết. Có vậy mới biết căn bệnh của chúng sinh mà tùy phương tiện hóa giải, vận chuyển sao cho đồng hợp đồng hóa đặng gần gũi thân cận tận độ chúng sanh. Đến lúc tỏ thông vạn pháp, hành dụng được viên dung biết phân chia định hướng cùng bất định hướng vạn pháp được quân minh mới thấu đạt vạn pháp. Chỉ có Chư Phật mới tận thành. Bồ tát không tự mãn hành nguyện, hạnh nguyện cho đến một kiếp nào vào y đường Chư Phật mười phương mới vào Niết bàn. Nhiều bậc thích tu mà không chịu tu sửa, thân lười trễ không chịu hành theo Bồ Tát hạnh nên không giác ngộ. Thân và tâm của Bồ Tát tiến đến chỉ còn một, chúng sanh thân tâm là hai. Tâm pháp tái hợp là một mới giác ngộ. Đã là một mới xuất nhập Chánh Định Tam Muội được. Bậc tự tu theo quan niệm suốt kiếp này đến kiếp khác vẫn còn nằm trong Phật Pháp, Pháp Phật thêm lý chướng không sao đi đúng đường giải thoát được. Thời hạ lai Ngài đã chứng kiến nhiều bậc dùng định tưởng để xuất định thuộc ngoại giáo. Không thiền định không có trực giác chẳng bao giờ phát huy trí tuệ. Do những điểm trên mà bậc tu nhiều kiếp vẫn không kết qủa. “Ngài ngồi tĩnh tọa trên tảng đá, như nhiên tịch tịnh, thả theo gió thoảng lần lần trong khi xuất định. Phong cảnh ở khu rừng Trảng, có những mõm đá lô nhô, bắt đầu in tuồng theo cơn Chánh Định của Thiền Sư...” –T.V. Đoạn kinh ghi lại Đức Vô Thượng Tôn Di Lạc xuất chánh định đến cõi Trời gặp Chư vị Thập Bát La hán đang hội thảo chân lý. “Thiền sư đến ngôi chùa cổ, mái chùa cong cong hai cánh, vừa rộng vừa thấp, tựa như chim Phụng Hoàng trải cánh che chở khách thập phương. Ngài bước vào bên trong chùa có mười tám vị chia ra ba nhóm đang hội thảo về chân lý đường tu. Ngài dùng Nhĩ Viễn Thông, Nhãn Tạng Tam Muội Định, thấy rõ tai nghe không thiếu sót, Thập bát la hán không hề hay biết trong hội thảo có vị Đại Đại la hán dự... Khi bấy giờ mười phương Chư Phật đồng nói lên câu chúc tụng Phật Vương (Di Lạc), xong đâu đó nói với Chư vị Bồ tát. Này các ông hãy đi đến Khánh Trang Tỉnh, Long Phụng Sơn, Long Bửu Pháp, có vị phật pháp hiệu Phật Vương (Di Lạc), thị hiện thời Hạ Lai. Vị này có nhiệm vụ chỉnh trang Phật Pháp, chứng thị Hạ Lai, tuyên thời Tứ Hạnh làm cho tất cả đang sống vật vờ, đang tu lầm lạc trở thành Chánh Pháp Tịnh Vương, Nhất Tôn Tứ hạnh, cốt đem đến điềm lành đưa về Chánh Giác. Các ông đến kính bái chiêm ngưỡng, thọ trì Tứ Hạnh, Ngài đã bổ ban Chư Bồ tát đồng đảnh lễ, phóng quang, nương nơi huỳnh quang, đồng đến lễ bái. Tất cả các hàng Chư Thiên, Tiên rồng, Thánh hóa nhìn về Đông Nam, hương đàm trùm tỏa, nghe tiếng trên hư không phổ truyền, tất cả đều mang các phẩm cúng dường đồng đến bái lễ. Khi bấy giờ tòa Long Bửu, các cánh hoa to bằng qủa Hồng đào, tựa như quả mâm xôi. Phật Vương thị hiện, mặc y áo Bạch Nhung, đầu đội Mão Bảo Trì màu trắng hồng nhạt, trên mão có chín búp hoa, mỗi búp hoa tỏa ra mỗi hào quang tia sáng gồm có Huỳnh quang, Huỳnh Huỳnh quang, Thanh quang có sắc Thanh Thanh quang, Hồng quang có sắc Hồng hồng quang, Hắc quang có sắc Hắc Hắc quang. Còn riêng Nhất bạch quang không có sắc Bạch quang. Ngài thị hiện đủ 32 tướng tốt bước lên hoa, hào quang tia màu vàng. Chư Bồ Tát, Chư Thiên Tiên cùng Chư Long Thần cho đến A La hán cùng Thinh Văn, Duyên Giác, nhìn không nháy mắt, đồng thanh xưng tán, chưa bao giờ nhìn thấy nay nhìn thấy. Bỗng trên hư không xưng tán, do công đức vô lượng Phật mà thị hiện Vô Thượng Tôn, Vô Thượng Sắc, Vô Lượng Hương đầy đủ không thiếu sót. Ngài lên tòa Sư Tử an tọa. Tất cả các hàng chiêm ngưỡng lễ bái, xong đâu đấy theo thứ lớp, theo thứ vị đồng nhau tĩnh tọa. Khi bấy giờ Đức Phật Vương (Di Lạc) nhẫn 12 triệu phút. Mặt Ngài an nhiên bình dị hòa đồng với tất cả, làm cho các hàng thứ lớp thảy đều hoan hỷ, phấn khởi ái kính không còn mảy may hư vọng hoài vọng tập khởi. Ngài liền nói: Ta khá khen cho thời Hạ Lai Mạt Pháp nầy mà Thập Bát La Hán hội thảo. Chư vị Bồ Tát đang hiện hành, hàng hàng lớp lớp tu trì không nhàm chán, giữ gìn bảo pháp trường tồn. Đối với các vị căn cơ chưa đầy đủ, trí tuệ chẳng viên thông nên chi trí hóa sanh ra vạn pháp an lành, đặng phước báo nhân thiên, đặng tu chứng từng phẩm hạnh. Bằng trí tuệ tối tăm trí hóa tự sanh các nghiệp. Sống trong cơn thăng trầm đủ lối. Tu nơi vạn ý uyên thâm vòng quanh khó thoát sanh tu đạt Chánh Giác. Lý sự tín tâm, Nhất Tâm đảnh lễ Chư Phật thì có, nhưng đường lối chưa tận thâm làm sao đắc quả? Ta vì các ông thị hiện đầy đủ, Cư Nhân Tướng, đầy đủ hoàn cảnh thâm vào sắc, Thinh, Hương, Vị mà bảo các ông đừng xúc pháp. Từ hàng Thiện nam tử đến hàng Thiện nữ nhơn, tu cầu ứng hiện, tu lấy thọ lãnh Nhân Thiên rất hiếm Bậc đang tu nơi Trực Hiện. Ngài nói đến đây có vị Bồ Tát bước ra đi vòng bảy lễ chiêm ngưỡng lễ bái thưa gởi? –Bạch Đức Thế Tôn, con đã tu sạch hết chúng sanh, truy tầm lấy mỗi một chúng sanh đều không có, con kính nhờ Chí Tôn thương con khai thị cho con, làm như thế nào, tu bằng cách nào đặng tận giác quả Bồ Đề nguyện. Hay thay! Khéo thay! Này Bồ Tát Bửu Tịnh, Ông tu sạch lý chúng sanh, chớ chưa tu đạt Bổn Lai của mỗi chúng sanh giới. Mỗi chúng sanh giới, bá thiên vạn chúng sanh hợp hóa trở thành pháp giới. Mỗi một pháp giới có hằng hà số số chúng sanh. Ông tận giác chúng sanh Bổn Lai Diện Mục. Ông tận thấu pháp giới diễn hành khi bấy giờ ông thị chứng mới tận thành tận giác. Bồ tát Bửu Tịnh toàn thân thảy đều nở ra hoa Bửu Pháp, nhẹ nhàn tươi tỉnh, vui mừng xưng tán. Chưa bao giờ đặng nghe hôm nay mới đặng. Chí Tôn Vô Thượng Thị. Xong đâu đấy đảnh lễ ngồi lại một bên chiêm ngưỡng” –T.V. Việc hóa độ chúng sanh đối với Đức Phật Vương Di Lạc thật không thể nghĩ bàn. Khi Ngài Hạ Lai thành Phật, được Chư Phật mười phương tán thán, được Chư Bồ tát, Chư Thiên, Chư Tiên, Chư Long Thần cùng Tứ Bộ Thần chiêm ngưỡng cung nghinh. Mỗi lần Ngài xuất định tận độ là mỗi lần rung chuyển tam thiên. Trong khi rất nhiều vị xưng Phật lại nhờ định tưởng biết có Long hoa nhưng không gặp Ngài được. Nếu tu Trực Hiện mới đủ công năng công đức hàng Thánh, liền được vào Long Hoa chớ đâu phải chờ đợi nữa. Đạo Phật luôn lấy tình thương cao đẹp vì vậy bậc chân tu tự xét lỗi lầm để không lầm lỗi. Tư tưởng cao độ chừng nào thì thần thông hóa chừng ấy. Những ai chưa nghe được, chưa hiểu được thì Như Lai tạng vẫn chứa cái nghe này, cái biết này vào các hộc, một ngày nào gặp Bồ tát thấu đạt chỉ khai một câu đúng của quá khứ mình đã nghe liền cái thể huyền bí tự nhiên nó trả lại cho mình. Mỗi người tu hành đúng tự tánh là mỗi ngày có tiến bộ là đường đi trong vũ trụ gần Chư Phật. Con người có học thần thông hóa thông minh nhưng không tu vẫn còn mê mờ con đường sanh tử. Người không chấp không chướng thân người nhẹ nhàng dễ tiếp thu thần thông ra vô nhiều càng thông minh. Mỗi pháp đều có bổn lai của nó. Tỷ như Pháp của người thợ mộc chỉ biết gỗ và dụng cụ làm ra tất cả những gì thuộc về thợ mộc. Đưa thanh sắt không biết tỏ tường được. Còn pháp của người thợ sắt làm cửa, đưa thanh gỗ không biết làm sao cho đúng. Mỗi nghề là mỗi pháp có bổn lai của nó, quen nghề gì thì thần thông vào người đó, ăn, ở, ngủ cũng thấy nó chui vào thân đứng. Cho nên bậc không tin không nghĩ thì thần thức nó không vô. Tăng Ni sợ pháp nên phải ly dục cho thần thức khỏi vào đến khi thâm nhập Như Lai tạng mới biết càng tu cao độ, càng giỏi đường đi dung thông chừng nào càng nhanh biết thần thông chừng đó. Người thế gian thông minh lấy cái thần thức. Bậc Thiền Sư không lấy chẳng bỏ thần thức được nhập Như Lai Tạng nên sở đắc Thần Thông Tam Muội. Thế gian lấy tai để nghe, lấy mắt để thấy, lấy đầu để biết nên thông minh còn hạn chế. Chỉ chư vị Thiền Sư lấy cái nghe để nghe. Lấy cái thấy để thấy, lấy cái biết để biết nên thông minh càng siêu đẳng thấu đạt thần thông. Một người nào thành công một nghề là đã sẵn có Tam Muội rồi. Chỉ cần thực hiện một pháp biết được, pháp kia nó hồi lại hết và làm cho mình. Chỉ có Thiền Sư nhìn nơi cái thần thức của chúng sanh mà biết tất cả. Thiền Sư nhìn một người biết ý nghĩ của người, biết tánh người nên tùy thuận bệnh thọ nhiễm mà khai thị mới giải mê lầm cho họ được. Chứ không phải đăng đàn thuyết pháp một lối mãi mà họ nghe rồi thực hiện được. Phải gần gũi, trang nghiêm khai thị cho từng lớp, từng pháp mỗi ngày dần dần mới tỉnh được. Trên thực tế dạy đạo cho người tu hành giác ngộ không phải dễ, nó rất khó. Bậc chánh giác phải biết tận dụng Đại Phương Tiện mới mong cứu bậc tu theo mình giác ngộ được. Chúng sanh đa bệnh Bồ Tát phải lập đa hạnh tùy bệnh cứu độ. Cũng như Bác Sĩ giỏi: Khám bệnh cho thuốc bệnh nhân hết bệnh. Còn tụng kinh, nghiên cứu kinh, thuyết pháp bá thiên vạn pháp chúng sanh phải nghe hết nhưng một điều lầm lẫn là không biết phải dùng pháp nào, vào trường hợp nào, ở đâu. Cũng như cho con bệnh vào kho thuốc đụng thứ gì cũng cho là qúy đều lấy uống, tức nhiên bệnh không lành mà càng thêm bệnh. Thuyết pháp không biết đúng bệnh mê lầm của mỗi chúng sanh cũng y như bắt người ta vào kho thuốc gặp thuốc gì cũng uống, dù cho thiên thu vạn kiếp tín thành cũng không bao giờ giác ngộ được. Thiền Sư phải dụng Tam Muội mới thuyết pháp thông được, người nghe cũng sẽ thông. Còn mê lầm mà thuyết pháp hay, người mê càng mê lầm, lý nhiều sinh chướng. Bậc sở đắc Tam Muội phải thực hiện hàng bá thiên vạn pháp tam muội, hàng bá thiên vạn pháp thần thông tam muội mới trực giác biết tiền kiếp quá khứ. Tam Muội càng sâu đậm trực giác được nhiều kiếp qúa khứ. Trong Long Hoa có nhiều bậc tu nhớ được một kiếp qúa khứ mà không biết nhiều kiếp trước của mình được vì còn đang thâm nhập pháp giới, chưa tỏ pháp tánh sâu. Bổn lai pháp trước sau không thay đổi. Tỷ như một bậc ở cõi Tiên, cử chỉ tánh tình ra sao, khi hết kiếp lại sinh nơi thế gian bây giờ cũng y như lúc trước chỉ khác nhau khuôn mặt thôi. Gặp Đức Long Hoa tăng Chủ theo tu đam mê, đức trí mỗi ngày mỗi mở mang được kết quả thực tiễn lắm. Đức Ngài thật tỏ rõ tuổi thọ nơi con người chưa bao lâu thì đến lão, bệnh, tử. Còn thời hiện tại chân lý bất sanh bất diệt ra đời cứu vãn nhân loại không thể nghĩ bàn. Chỉ cần nhận định được, không uổng phí kiếp hiện tại liền được vô lượng, vô biên tận biết mà giác ngộ. Lời Chư Bồ Tát toàn lời trực giác chân thật, đều là lời thừa hành Chư Phật diễn nói. Còn lời tham vọng dục vọng tự ngã nói đều là lời Ma Ba Tuần giả thuyết. Ngài thị hiện ở thế gian nhưng mỗi lần xuất định đến các cõi đều được Chư Thiên, Tiên, Thần Thánh cung nghinh vui mừng không kể hết để được thọ lãnh Bảo Pháp. Trong lúc Phật tử không hề hay biết Long Hoa đã ra đời. Nay Chư Bồ Tát tiếp nối con đường đưa chúng sinh thoát khỏi sanh tử luân hồi, chúng sanh cũng vẫn còn mơ màng trông đợi kỳ ảo nơi núi Thất Sơn. Số đông thời Hạ Lai này, nhiều bậc tu chưa thấu đáo. Hiển giáo chuyên ròng hiển giáo. Tu Thiền quan niệm Mật Tôn siêu hình vạn tượng. Đốn giáo đụng đâu đốn đó không cần đến đạo hạnh. Tu Tiệm Giáo giữ gìn Tiệm. Nếu bậc tu không chung kết tổng hợp làm thế nào Chánh Giác được! Đông Phương tìm chân lý tự tu học riêng nên có vị sở đắc được tâm ấn chỉ cần chân phật tử có tâm cầu đạo phải tin về tinh thần tu chứng mới truyền trao chân lý, dần dần hết vô minh được Chánh Giác. Đức Di Lạc Tôn Phật phải diệu dụng đường lối này trong thời Mạt Kiếp. Ngài không thể tập hợp đông đảo tại gia đình khi người cộng sản không chịu cho tạo dựng đạo đức. Còn Tây Phương lấy hiện vật thực nghiệm công bố cho mọi người thấy biết nhưng bên cạnh cái hay lại có cái hại về sau thường bị hủy diệt. Đông Phương qua nhiều thế hệ đã biết từ lâu thân tâm con người trùm khắp vũ trụ, do tứ đại giả hợp tạo thành Ứng Thân cho vũ trụ nên trong thân, ngoài thân đồng nhất con người giao cảm tiếp nhận thần thông nơi vũ trụ. Tại Tây Phương không khai thác đúng mức nơi thân mạng nên chưa biết. Phật Đạo không chấp nhận linh hồn, chỉ ghi nhận tư tưởng đại diện linh hồn. Linh hồn trùm khắp hư không vũ trụ mới có giác linh cảm ứng nơi linh hồn. Con người chưa nhận định đặng nơi tư tưởng khởi sanh, phải lần theo khởi sanh, khởi diệt đủ công năng công đức được tỏ thấu tư tưởng bất diệt mới có cảm ứng linh hồn, chừng đó trực giác thần thông. Linh hồn không hai tướng. Linh Hồn Tối Thượng sáng suốt bất biến, quang minh bất tận là Như Lai Phật. Phật Đạo cho là ĐẠI NGÃ cái Ta duy nhất. Cái Ta trong thân mạng con người hay Tứ Loài đều là cái ta tạm bợ gọi là TIỂU NGÃ giả tưởng. Đại Ngã là viên bảo châu. Tiểu Ngã là yến sáng. Dưới mắt bậc Chánh Giác linh hồn là Như Lai vốn sẵn đủ thần thông. Nó không cấu cũng chẳng ly. Nếu cấu nắm bắt gìn giữ hay ly là xa lìa đều sai lạc. Con người khi thành hình thân mạng đầy đủ như nhiên có Nghe – Thấy – Biết. Chính là từ nơi Đại Ngã Linh hồn thể hiện để đồng ứng thân mạng xuất phát từ Như Lai nên Thần Thông vốn như nhiên từ Như Lai hiện. Trong chúng sanh cũng có đủ nhưng khi Đại Ngã thể hiện đến con người và tứ loài gọi là Ứng Thân còn gọi là Hóa Thân lại muốn nhận đặc điểm riêng liền bị phân chia, Chư Phật tường tận nên Ngài nói: “Tất cả chúng sanh giai hữu Phật Tánh" nghĩa là: Tất cả chúng sanh đều có Phật Tánh, đều có thể tiến đến thông đạt vũ trụ. Tu thực tiễn từng bước một sẽ đến chứ không thể dùng trí hiểu, không thể dùng thức để biết. Bậc tu muốn thanh tịnh một phút cũng không có được nên bị Ma Lực bao vây diễn hóa. Chư Phật khai ngộ, Chư Bồ Tát phải tin vâng kính đầy đủ mới tự phá vòng đai Ma Lực nhốt nhiều đời kiếp. Đây không phải là việc tầm thường, cũng chẳng phải là việc nhỏ... Nếu bậc Nhất Tâm, Thiết Tha Tâm mà không hạnh nguyện trong vạn pháp thuận nghịch chỉ tránh né diệt pháp thì sự thanh tịnh này muôn đời kiếp cũng không thật thông. Đã không thông sao được Mật Ấn từ Như Lai Phật ban cho. Nhiều bậc thấy được, biết được trong cái học, trong kinh điển chớ không thực hành tận độ chúng sanh tánh Tịnh Bất tịnh, Hữu Tướng Phi Tướng thì cái biết này cũng như chưa thấy chưa biết. Các pháp thần thông không hiện. Thần thông vốn ở trong mê Thông mãi thông đi thông lại về. –T.V. Vậy đâu phải tu cầu kỳ, cũng không phải học, cũng không phải cúng lạy cầu xin. Tạp nhập không dừng nghĩ là hình tướng không dừng nghĩ. Cứ hạnh nguyện ban ngày không tạo sanh diệt vạn pháp, ban đêm ít nhất là một giờ công phu Thiền, cần qua nhiều trở lực mỏi mệt, chán nản, buồn ngủ, đến lúc không còn tạp nhập trong lúc Thiền. Sau tứ thời đi, đứng, nằm, ngồi đều được thanh tịnh. Chân như hồn nhiên hiện liền biết thực hành vạn pháp không lấy cũng chẳng bỏ, không nặng cũng chẳng nhẹ, không hiệp không tan là Nhất Tướng là tánh thường trụ. Thiền cần hàng Bồ Tát hướng đạo mới có đủ Mật Tôn, Mật Tôn giúp giải nghiệp thức, không còn vọng khởi nhưng phải nhẫn vì nghiệp thức tinh vi hơn con người. Nói thì nghe dễ còn thực hành không đúng đường khó đạt kết quả. Dù bậc tu tinh thần thiết tha nhưng chưa có trí tuệ vẫn lầm nơi cuồng tín. Vì thế nên chi Đức Long Hoa Tăng Chủ Di lạc mới lưu lại cho thế gian những gì cần cho bậc thiết tha tâm, thành thật tâm tiếp tục thi hành mà trọn hưởng chân lý, dưới sự chỉ đạo của Chư Bồ Tát bậc tu sẽ an tâm không còn sợ thất chân truyền nữa. Còn nếu chưa gặp bậc Thiện Trí Thức nên tu Thiện Căn. Tinh thần thiện căn thiện chí cúng dường lập phẩm công đức, tín ngưỡng nơi Tam Bảo tinh thần như thế vẫn đáng qúy. Không nên ham muốn Thiền mà vọng cầu dễ bị Ngủ Ấm Ma gạt khổ muôn chiều. Tự xây dựng thân mạng trước nhất phải lo tu sửa. Không ai có quyền bắt ta chỉ nơi tâm tánh của ta tự nâng ta mà thôi. Bậc trí dung thông nhờ nghịch pháp Kẻ khờ chống đối tạo vô minh. –T.V. Bậc tu có nhẫn nhục, nhẫn nhịn, nhẫn nại được tỏ thông, biết thực hiện dung thông pháp sau sở đắc Vô Sanh Pháp Nhẫn. Có dung thông được vạn pháp mới thấu đạt viên dung, con đường này tu đến Bát Nhã Ba La Mật Đa vượt hàng Thinh Văn, Duyên Giác, A La Hán. Đó là hàng Bồ Tát được các thứ thần thông từ Như Nhiên, Hồn Nhiên hiện. Đạt được Bồ Tát thần thông cần phải hành thâm pháp giới thuận nghịch chẳng thiếu sót liền đến tận độ chúng sanh tánh. Đó là Tịnh Phật Quốc Độ Thành Tựu Chúng Sanh. Hàng Bồ Tát đã thấu đạt hư không, chỉ Chư Phật mới thông đạt tận thành Hư Không không tận. Chân không khác hư không. Đối với hàng Bồ tát Hư Không có nghĩa đã hạnh nguyện hành nguyện thấu đạt Như Pháp nhưng không chứa trong tâm. Bồ Tát biết để nó trong Như Lai Tạng từng các hộc, khi có pháp như nhiên biết, hồn nhiên thực hiện vẹn vừa không dư cũng chẳng thiếu. Vận dụng pháp xong nó trở về các hộc trong Như Lai Tạng. Nó là Mật Ấn Bồ tát biết lấy dùng. Từ thời Đức Thế Tôn cho đến Hạ Lai Đức Vô Thượng Tôn Di Lạc thị hiện, Ngài chỉ Chư Tổ, Chư Tôn giả trụ chân không trở thành vô tình, cần hóa giải vạn pháp mới mong sở đắc chân lý. Vào Hư không ta không thấy hư không mà tận thấu hư không là Giác Tướng. –T.V. Giác Tướng hành dụng đầy đủ sẽ đạt Giác Tướng Đại. Giác Tướng Đại là tứ thời trong cuộc sống đều biết hiện thân giác không còn lầm lẫn khi dụng pháp thuận nghịch. Đủ công năng công đức từ Giác Tướng Đại liền đến Như Lai Đại. Tình thâm hành dụng Chơn Như thủ Tình thức Như lai Mật Ấn trao –T.V. Trong thế gian hay trong Tam Thiên Đại Thiên thế giới, bậc nào đàm luận đến Mật Ấn không thể nào vượt ra khỏi hai câu thơ Ấn Chỉ của Đức Long Hoa Tăng Chủ Di Lạc. Có vị Thiền Sư liễu ngộ cũng phải chờ mất 18 kiếp được gặp Bồ Tát thừa kế ấn chứng mới nhập thể!./- 51. Về Với Chân Tôn Bậc thấu đạt Như Lai tạng là những vị Đại Bồ Tát, đã từng bao quản cúng dường Như Lai, phụng hành tạng pháp của Chư Phật Nhất sanh Bổ xứ thành Phật, tất cả vạn pháp trơn liền, ra vào Viên giác. –Biệt Tôn Vô Thượng Đẳng Kinh “Chân Tôn là một lối tu Phật thừa không trực thuộc pháp môn chỉ nương theo con đường Trung Đạo nhiếp thu tỏ tánh mới vào Phật thừa tu tập, chân tôn tường tận, pháp đảnh viên đạt Như Lai Tạng mà thôi.” –T.V. Đại Bồ Tát là Chư Vị đã từng biết cúng dường Như Lai, từng tu cận kề sát thể với Như Lai, đã từng thấu đạt Như Lai Tạng vào ra vạn pháp trơn liền rốt ráo được về với Chân Tôn. Khi đang tu tập cầu tri kiến giải thoát để được ban hành chứng minh, những Bậc này còn phải tu hành pháp môn Phật Tri Kiến cho giác ngộ rốt ráo, muốn vậy phải thực hành hoàn toàn đầy đủ Phật Thừa còn gọi Tam Thừa, chung lại một gọi là Nhất Tôn Hạnh. Thấu đạt Chân Tôn.\ Nhất Tôn Hạnh gồm có Tiểu Thừa, Đại Thừa, Nhất Thừa. Hàng Bồ Tát thi hành Ma Ha Tát còn gọi Đại Bồ Tát mỗi mỗi đều thị hiện Trung Đạo Tôn, con đường thị hiện sắc thân Tam Muội nên không còn bị gò bó giáo điều, không còn lệ thuộc pháp môn. Vì sao? Vì Bồ Tát đã trực giác biết thị hiện Như Pháp không còn y Kinh cũng chẳng ly Kinh, được thấu đạt Pháp đảnh Như Lai Tạng. “Kể cả hàng Bồ Tát hạnh, Bồ Tát nguyện, lần nơi hạnh nguyện vẫn mơ màng, do đó mà thoái chuyển, phải tu hành Bát Nhã đến Bất Thối Bồ Tát vào Phật Thừa Chân Tôn Pháp Đảnh Chứng Tri Pháp Đảnh Như Lai Tạng. Do lẽ ấy nhiều Bậc lầm nhận sự lý kín nhiệm Như Lai, thật ra Như Lai không kín nhiệm. Nơi lầm lạc mơ màng cho đó là đóng mở Như Lai, thật ra Như Lai không đóng mở.” –T.V. Những vị còn đang tu Bồ Tát hạnh, Bồ Tát nguyện chưa thành tựu Bồ Tát vẫn mơ màng chân lý vì thấy biết pháp giới chưa sâu đậm. Hàng Bồ Tát thi hành Ma Ha Tát đã thấu đạt nơi Chân Lý Thực Tiễn, từng phút giây tường tận tỏ rõ tỷ mỷ sự di chuyển vạn pháp nơi thân mạng, thành tựu hỷ xả và vận chuyển được vạn pháp hồi Chân Tôn. Hàng A La Hán cao nhất đến Liễu Ngộ, tỏ rõ hỷ xả nhưng đây là khúc eo vĩnh cửu phải qua vận chuyển thành công vạn pháp mới bước vào Nhất Thừa không hai tướng. Thời Hạ Lai này Chư Tổ quá khứ giỏi thuyết, giỏi hỷ xả, đến đó đứng yên. Đức Long Hoa Tăng Chủ phải vận dụng cho Khoa Thi nhưng rất nhiều vị còn kẹt ở Phật giới không qua nổi, có vị đã được khai con đường Nhất Thừa nhưng chung kết không thi đậu. Do vậy mà không được Ngài ban hành chứng minh. Vì sao? Vì không thấy, không biết sâu đậm nghiệp thức để thoát sinh cho sạch lại sinh chán nản làm tăng thêm nghiệp căn nghiệp kiết sử. Lắm bậc giảng Bát Nhã lại không thực hành đúng được Bát Nhã, vận chuyển pháp không tự tin, không khẳng định được đúng hay sai, còn mơ màng trở thành lý bí Bát Nhã. Bậc tu không chuyên hoá giải vạn pháp mới có tối sáng không chừng nên lầm nhận Như Lai kín nhiệm, Như Lai đóng mở. Thật ra nghe thấy biết vốn Như vậy, Bậc tu thọ giới bảo thủ thành Không Như. Do đó mới biết Như Lai không kín nhiệm, Như Lai không đóng mở. “Phật Pháp. Chính Phật thời không Pháp, mà chưa thọ Pháp thời không có Phật. Cũng như: Giác không còn mê, lúc đang mê phải tu cầu Giác.” –T.V. Chính Phật thời không Pháp. Vì sao? Vì Chư Phật đã thành tựu Phật tánh, đâu đâu cũng đều hiện Nhất Thiết Sắc Thân Tam Muội, mỗi sát na là Vi Trần Phật, Sát Na Phật, dưới mắt Phật chỉ có Nhất Tướng đâu còn hai tướng nên Phật thời không Pháp. Bậc đang còn tu phải nương vạn pháp, tỏ pháp, thấu đạt pháp đến tận thành pháp. Khi đã giác ngộ rốt ráo, nghe thấy biết không còn mê. Ngoài ra những Bậc tu còn đang mê lầm phải tìm chân tánh để tu, phải nhất tâm tự tánh tỏ tánh. Khi còn thấy nghi nghi chấp chấp, còn mơ màng chưa sạch sẽ Hoa Pháp Tánh là còn mê. Chúng sanh lầm mê nơi vạn pháp không thể kể hết được, Chư Phật rất khéo lưu lại Tam Tạng Kinh để giải mê, phá nghi chấp cốt nâng đỡ chúng sanh Tri Kiến Giải Thoát Rốt Ráo như Phật. Vì vậy Phật không bao giờ có Pháp nào của Phật cả, chỉ giải mê lầm cho chúng sanh mà Phật hoá pháp đem đến bất sanh bất diệt cho chúng sanh, Thánh Hiền, Bồ Tát thôi. “Bậc thấu đạt Như Lai Tạng thật biết, biết tỏ rõ, biết tỷ mỷ Như Lai Tạng thường còn, thường sẵn có cùng khắp không thiếu sót Như Lai Phật cho đến tất cả chúng sanh, rất bình đẳng dung thông. Do tại Đức Độ, do tại trọng lượng bản năng, rộng hẹp, dài ngắn, vuông tròn từng khía cạnh mà nhận lãnh. Khi đã nhận lãnh mỗi một hạt vi trần Phật nào thì thừa hưởng mỗi vi trần Phật ấy. Bằng nhận một khối hay một thặng hoặc giả một cân cho đến bá thiên vạn cân khối liền tự mình thừa hưởng chớ chẳng ai ban cho mình, phải tự chính mình mà đặng thành đạt tận thấu tận hưởng Như Lai Tạng chăng?” –T.V. Bậc thấu đạt Như Lai Tạng thật biết tỏ rỏ, biết tỷ mỷ vạn pháp hồi Chân Tâm, không còn khởi sanh diệt, cấu tịnh, tăng giảm. Đó chính Như Lai đồng hiệp Tạng gọi là Như Lai Tạng đặng quân minh trực giác liền biết Như Lai Tạng vốn thường còn khắp nơi chốn. Từ Như Lai Phật cho đến chúng sanh đều bình đẳng từng lớp lớp. Do tại chúng sanh tự phân biệt chạy theo biệt phân trở thành pháp giới. Pháp giới thì thiên hình vạn trạng như rộng hẹp, dài ngắn, vuông tròn. Mỗi giới đều vẹn vừa với nó mà nhận lãnh. Tự mình tạo mình phải lãnh chớ chẳng ai ban cho. Mỗi pháp giới khi đã tu tỏ thấu đến Chánh giác thì nó là mỗi vi trần Phật. Một vị thành Phật có hằng hà sa số vi trần Phật, mỗi vi trần Phật có tính chất, phẩm lượng nơi nó, nên Bồ Tát thành quả A La Hán không sao hiểu thấu. Còn thành Phật như đức Vô Thượng Tôn Di Lạc cũng không có ai hiểu đầy đủ thể hiện của Ngài. Trừ trường hợp đến mức thi hành Đại Bồ Tát, Ngài mới Mật Ấn để thọ lãnh Như Lai Tạng mà hành tiếp cho đến Nhất Sanh Bổ Xứ thành Phật. Thật không có chư Phật A Tăng Kỳ kiếp cũng chưa tìm đường đi tới suốt suốt được. Nói trên thực tế còn lý luận ai muốn nói gì cũng được. Phật duy nhất Phật thừa chớ chẳng có Tam Thừa. Do như vậy nên Chư Bồ Tát tin vâng kính đều là Duy nhất Phật Thừa còn chúng sanh căn cơ không đồng mới có Tam Thừa. Chư Phật nương theo để chỉ đạo khai thị. “Bậc thấu đạt tận thấu rất cảm mến chúng sanh, rất thương mến chúng sanh chẳng khác thương mến, cảm mến thân mạng mình, không có bờ ngăn cách Phật và chúng sanh chỉ nhìn nhận mình tỏ rõ tỷ mỷ mà chúng sanh chưa thấu đạt thôi, chỉ nhìn nhận nơi mình vô biên Bảo Châu, vô số Kim Châu, vô lượng Bích Châu, vô xứ Thanh Châu, vô kể Hoàng Châu, nên chi gần gũi tất cả chúng sanh làm thầy trò, giả làm anh em hoặc vợ chồng, cha mẹ để đem bảo vật ban cho rất nhiều tư cách, rất nhiều vai tuồng tùy theo hình thức, phương diện, miễn chúng sanh chớm nở hoặc khởi điểm liền có năm thứ châu trao tặng, thế mà vẫn bị rơi bị rớt vì chưa biết sử dụng chớ chưa hề mất hẳn các thứ ban cho." –T.V. Chư Bồ Tát Trực giác được vô minh sâu mới biết tường tận ý nghĩa bảo châu... trước tiên cũng từ chúng sanh tu tập đầy công năng công đức không còn bờ ngăn cách mà tận thấu các giống hạt châu, tận tường chúng sanh tánh. Từ đó rất thương mến chúng sanh, rất cảm mến chúng sanh như thương mến, cảm mến thân mạng mình. Bồ Tát biết nhìn nơi mình lúc chưa Trực Giác còn là chúng sanh có vô biên nghi chấp, vô số sợ sệt, vô lượng nôn nóng, vô xứ mong muốn, vô kể ngẩn ngơ. Sau Bồ Tát nhất tâm Bi Chí Dũng, Giới Định Huệ, Lục Ba La Mật Đa không nhàm chán lướt qua vạn pháp nghịch, chẳng còn tập khí viễn vông. Không còn nghi ngờ hai Pháp thân cảnh, có không, đâu đâu cũng viên dung. Bồ Tát liền thấy biết lạ thay! Qua năm chủng tánh chúng sanh trên liền thấu đạt vô biên Bảo Châu, vô số Kim Châu, vô lượng Bích Châu, vô xứ Thanh Châu, vô kể Hoàng Châu. Tâm không động vọng, ý chẳng thối chuyển, nhập lưu 42 ngày qua bờ bên kia thấu đạt các diễn cảnh chính tâm Chân Như. Chỉ kém Phật 49 ngày đêm tận thành qua bờ bên kia, chỉ Bậc sở đắc mức tu chứng Bồ Tát thi hành Ma Ha Tát mới cảm thông mà thôi. Ngoài ra nó vượt tầm nói năng, vượt tầm lý luận, vượt tầm hiểu biết. Bồ Tát thật biết sống trong thế gian phải có cha mẹ, vợ chồng con cái, anh em, dòng họ. Bồ Tát giả mê hoá thân vẹn vừa cốt ban cho rất nhiều phương tiện khiến cho có bậc Trực Giác được con đuờng Nhất Thừa: Không khen cũng chẳng chê, không phải cũng chẳng quấy, không thiện cũng chẳng ác, không đạo đức cũng chẳng bỏ đạo đức, không hòa cũng chẳng đạp đổ ai, không gần cũng chẳng xa. Tất cả cũng không ngoài năm thứ châu qúi báu trên. Còn số đông không nhận lãnh được nhưng cũng không mất, nó chứa trong các hộc nơi Như Lai Tạng chờ đủ căn cơ nó hiện, chỉ lâu hay mau do nhất tâm mà thôi. “Các ông nên nhớ kỹ, nhận định kỹ càng: Bậc Chánh Giác từ nơi Bảo Tạng Phật minh thuyết, Bảo Tạng này chung gồm năm châu báu nói trên, mang ra minh thuyết có đầy đủ Chư Bồ Tát phụng hành cho đến Chư Thiên kính bái chiêm ngưỡng Tạng Pháp, nên mới xưng tán Bảo Pháp Ngũ Châu lời vàng Phật thuyết.” –T.V. Bậc tu nên quan tâm đọc kỹ, nhớ kỹ, nhận định kỹ lời của Đức Vô Thượng Tôn Di Lạc đây chính từ nơi Bảo Tạng Phật minh thuyết Chư Bồ Tát thi hành Nhất Tôn Hạnh. Còn Chư Thiên nhẹ cảm nên kính bái chiêm ngưỡng một thời nào Trực Giác bước vào Bồ Tát Hạnh, Bồ Tát Nguyện chừng đó mới biết Ngũ Châu chính lời vàng qúi báu biết chừng nào. Vật chất được đầy đủ, giàu sang, nhà cao sang cũng không ngừng sự tham muốn, không giải khổ đau do sanh, lão, bệnh, tử vì nó còn sắc vọng. Chư Phật thật biết bổn lai nguồn gốc chúng sanh không đảo vọng, tất cả đều có sẵn Viên Tịch Chách Giác, do Cái Muốn rồi nghĩ mà hành theo ý muốn trở thành tư riêng thành có sanh ra vạn pháp gọi là nghiệp đã là nghiệp liền bị nhiễm độc mà mê lầm chấp nhận mới có sanh tử luân hồi. “Còn đối với chúng sanh nương nơi pháp tu học thọ pháp lần nơi pháp hóa giải hồi Tôn, về với Chân Tôn sở đắc Phật Pháp sở chứng Như Lai Tạng, tự tánh tỏ tánh, phi đạo suốt đạo, dung thông thấu đạt Như Lai Tạng, con đường này gọi là: PHÁP TẠNG. Một chiều nhưng hai lối. Chư Phật thời cứu giúp chúng sanh dụng Bảo Pháp Ngũ Châu vị trí Tạng Pháp. Còn về phương diện chúng sanh nhận lãnh Bảo Pháp, phải nương tỏ pháp trở về Chân Tôn Bảo Tạng Phật Thừa Tri Kiến Giải Thoát.” –T.V. Bậc tu nơi vạn pháp hoá giải đến thấu đạt mới nhận diện được Như Lai Tạng gọi là Pháp Tạng, gọi là về với Chân Tôn. Tu vạn pháp là một chiều khi tỏ rõ Như Lai Pháp nhập Tạng là hai lối, nhớ biết qúi Ngũ Châu nên trí tuệ tăng trưởng sáng soi nghiệp thức cùng vọng khởi, không còn chọn thanh bỏ thô, không còn chọn lành bỏ hung dữ, không còn chán chê sự thế vô thường sống chết đảo điên, không còn tu nặng nhẹ, được mất, có không mà dung thông Như Lai Pháp tỏ pháp, thấu đạt pháp hồi Chân Tôn Phật Thừa còn gọi là Nhất Thừa đó là con đường đi đến hoàn toàn Tri Kiến Giải Thoát. Còn đối với chúng sanh thì năm thứ độc hại: Nghi chấp, sợ sệt, nôn nóng, mong muốn, ngẩn ngơ làm cho không thấy, không nghe, không biết đặng châu báu của Ngũ Châu nên phải được khai thông cho nhập Như Lai Tạng hồi Chân Tôn. “Nơi thọ sanh ly diệt nầy, dù cho Bậc Thiền Trí cho đến siêu phàm, cho đến tỏ pháp chưa về với Chân Tôn vẫn nằm nơi pháp giới mơ màng không lối thoát. Sự đòi hỏi toại nguyện đáp số theo nhu cầu con đường tu hành giải thoát tử sanh nơi Bậc tín tâm tín đạo chưa hẳn là ít, cho đến nỗi phải hỏi Bậc Thiền Sư trong hàng Bồ Tát rằng: Làm thế nào, tu như thế nào giải quyết tử sanh? Thiền sư đáp: Làm theo sanh tử, tu theo sanh tử mà giải quyết tử sanh.” –T.V. Thiền trí là do chủng nghiệp của chúng sanh mà có. Chúng sanh chia từng giới bị lầm mới có chướng đối nhau và cảm mến nhau thành nghiệp. Bậc có Thiền trí biết do nghiệp dẫn đi sanh tử luân hồi, chớ thể tánh vốn sẵn từ vô thủy vô chung an nhiên viên tịch sẵn có nơi chúng sanh. Bậc có Thiền trí, cho đến bậc siêu phàm làm Thánh mà chưa đến mức hoàn toàn Tri kiến Giải Thoát vẫn còn mơ màng chân lý. Vì sao? Vì chưa ra khỏi vòng đai pháp giới của vũ trụ, vì còn về cõi Trời, cõi Tiên… còn giới thuộc qui chế chúng sanh giới. Bậc siêu phàm có thể chỉ đường cho chúng sanh tu hành về cõi Trời, cõi Tiên nhưng chủ yếu của Chư Phật đưa chúng sanh thoát khỏi vũ trụ, đứng ngoài vũ trụ, làm chủ vũ trụ, điều động vũ trụ mới Tri Kiến Giải Thoát con đường sanh tử. Vậy làm thế nào, tu như thế nào giải quyết tử sanh? Chung cùng với chúng sanh, nương theo vạn pháp nơi chúng sanh hoá giải nghiệp thức, nghiệp căn, nghiệp lậu, nghiệp kiết sử gọi là tu theo sanh tử để hết tử sanh. Nếu Bậc Thiền Trí không theo thể tánh Thiền như trên mà huân tập định tưởng đều là ngoại giáo còn sanh diệt. Chư Bồ Tát khi Chánh Giác cũng có lúc dụng định tưởng, không bỏ cũng chẳng lấy vì đã thoát sinh khỏi pháp giới. Đó là đặc điểm của Nhất Thừa. “Tu trên con đường giải thoát cực kỳ tế nhị từng phân lượng nơi Bậc chứng tri và thực chứng khác nhau, cứ mỗi nơi sở đắc có bá vạn đường tẻ khác nhau, chẳng khác nào : Bậc đắc pháp Thường Chân liền theo nơi đó tự nhận đồng đẳng thường chân là chân thật, chính ra nó vốn chân thật thường còn bất biến ở trong khía cạnh nào thôi, chớ chưa hẳn là rốt ráo Chân Tôn tận thấu.” –T.V. Bậc chứng tri là Bậc tỏ đạo do từ lý trí để biết, Bậc thực chứng được các pháp Bình Đẳng, Phật tánh bình đẳng do không đảo vọng mà Bình Đẳng Tánh Trí. Đặng Bình Đẳng Tánh Trí thời mới đặng tỏ thông các pháp không lầm lạc sanh tử. Nếu theo lý trí là còn cái muốn để chứng đạo thì ý muốn là Bất Bình Đẳng đã Bất Bình Đẳng thời vọng loạn vậy. Cứ mỗi nơi sở đắc có bá vạn đường tẻ khác nhau. Vì sao? – Vì Bậc xuôi dòng cứ cho sở đắc của mình là nhất, không tiếp tục chịu lìa Ngã, Ngã Sở để gặp Bậc Minh Đạo Thiền Sư từ hàng Bồ Tát, Bồ Tát Ma Ha Tát đến chư Phật. Nếu gặp qua một vài câu đơn sơ cũng lợi ích vô kể, mới biết mình đang đứng ở mức nào của sở đắc, đang đi ở đuờng nào. Vì vậy lắm Bậc chứng tri vô tình đi ngược lại con đường Tri Kiến. Mỗi Bậc tu có một trực giác rộng hẹp nên không bao giờ sở đắc đồng đẳng thường chân là thật được. Do tại pháp tánh nó bình đẳng viên dung vẹn vừa vô kể, nó có thể đưa Bậc sở đắc chưa rốt ráo lầm theo cái còn khởi muốn xưng Bồ Tát, xưng Phật không biết thấy hết tập khí sanh tử đến vô lượng, vô biên kiếp. Pháp tánh cung đốn Bậc muốn tuyệt mỹ khả thượng, khả hạ, nó là Bậc thầy của Bậc chứng tri còn ước vọng, mong cầu xa xôi mà chìm trong sanh tử chịu làm chúng sanh nơi các cõi mà không hề hay biết. Pháp tánh nương chiều tất cả Bậc tu còn cái muốn. Nó không phân biệt là ai, nó chỉ chiều cái muốn thật vẹn vừa nên không có Bậc chỉ đạo dễ lầm. “Bậc trụ xứ thường chân, đương nhiên chưa đào sâu vạn pháp, biếng sanh lười trễ Phật pháp hoang mang. Một là nhiếp thâu thường chân về Tịnh Độ. Hai là nhiếp tâm tu luyện, ba là mơ màng Vô Minh pháp nhẫn không thể nào thoát sanh. Những Bậc đắc pháp thường chân tu đến chân thường rất hiếm. Vì sao? Vì thường chân là một bước đầu thân tâm bình đẳng phải tu trì đạt đến tận cùng bản thể tâm. Bản thể chân tâm chính là về với chân tôn cao qúy." –T.V. Những Bậc đắc pháp thường chân tu đạt nơi Nghe Thấy Biết vào biển Như Lai pháp, từ đó đến chân thường tức tu thấu đạt Như Lai tạng. Tu nơi Như Lai pháp không còn nặng nhẹ, không còn cấu tịnh, không còn tăng giảm, vạn pháp được viên dung từng lớp lớp. Tỏ rõ bổn lai từng pháp không còn lầm. Pháp hồi tâm, sở đắc Bản Thể Chân Tâm. Càng kiểm soát tỷ mỷ, từng chi tiết vạn pháp càng thấu đạt rốt ráo không còn cạn cợt. Những Bậc đắc Như Lai pháp tu đến chân thường rốt ráo rất hiếm. Tỷ như tu giải Khổ đắc pháp độ Khổ, tỏ rõ Khổ, cần hoá giải pháp Khổ gọi là tận thấu tận diệt Khổ, phải tập thi hành độ Khổ, xem xét kỹ từng ly từng tý không còn kẽ hở, Khổ không chui vào tâm đứng mới sạch Khổ. Phải tu như vậy là rốt ráo về với Chân Tôn tận thấu. Đường đi chi ly kín là của Nhất Thừa mới bước vào biển cả Tam Muội được. Đắc bản thể chân tâm phải là Bậc thấu đạt đầy đủ pháp giới lớp lớp bình đẳng gọi là về với Chân Tôn. Không nên suy luận Nó cũng có. Nó cũng không. Muốn có liền có. Muốn không liền không. Nó không hai. Nó không có chỗ chỉ đều chưa đạt bình đẳng mơ màng phân hai không quyết định Duy Nhất. Vì không quyết định được Bản Thể Chân Tâm nên chán ngán đứng yên về với tịnh biệt, gọi là Tịnh Độ. Thật ra Tịnh Độ thật sống động, thật tỏ tuờng bản thể Chân Tâm. Có Bậc không đứng yên tịnh để độ thì bước vào đường tu luyện thần thông tài phép cũng không về với Bản Thể Chân Tâm. Có Bậc chưa đủ pháp nhẫn chưa sở đắc vô sanh rốt ráo cũng không tỏ tường Bản Thể Chân Tâm. “Các ông nên biết: Về với Chân Tôn là một cơ bản hoàn toàn giải thoát. Vì sao? Vì nhìn sâu thấy rộng tâm chí mở mang không vướng mắc. Thời Đức Thế Tôn còn tại thế, ông A Nan là em của Chí Tôn đang tu trì tỏ tánh, đang lướt qua pháp giới từng cơn, chưa về Chân Tôn, thành thử mới nghĩ: Đức Thế Tôn Ngài đang đi, đứng, nằm, ngồi. Cảnh giới ô trược, uế truợc trong cõi Ta Bà, rất cam lao, rất cực nhọc, có núi sông nơi cao chỗ thấp. Khi bấy giờ Chí Tôn Ngài rất tường tận, Ngài từ Bửu Tọa bước xuống nói với A Nan rằng: Nầy A Nan theo sự suy đoán của ông sai biệt với Chân Tôn Vô Thượng Đẳng, sai tất cả những điều ông nghĩ sai, sai tất cả mục tiêu nhìn nhận nơi ông đều sai, không mảy may đúng với Chân Tôn. Đức Thế Tôn Ngài dụng thần lực Ngũ Châu khai hoang, A Nan trực thị, liền trạch vai đi bảy lần thưa thỉnh: Bạch Thế Tôn con nào ngờ công đức vô lượng Bình Đẳng Chân Tôn mà quốc độ Chí Tôn trang nghiêm đất liền chưa có nơi nào chỗ nào cao thấp cả. Chưa có chốn nào nơi nào ô trược, uế trược phiền não trược là năm thứ con vừa suy nghĩ. Lạ thay Kính bái. Chí Tôn im lặng chứng minh.” –T.V. Thời Đức Thế Tôn, Chư Vị Tôn Giả, Thánh Hiền còn lầm tưởng rằng Thế Tôn đang sống nơi thế giới Ta Bà đầy ô trược, rất cực nhọc, rất cam go như núi sông nơi cao chỗ thấp Đức Thế Tôn Ngài rất tường tận sự lầm lẫn này của Tứ chúng, nên Ngài mới dùng Phật lực cho Thị Giả A Nan trực thị Quốc Độ của Thế Tôn là Chân Tôn Vô Thượng Đẳng đầy đủ trang nghiêm, tâm bằng phẳng mịn như nhung không hề có chút nào ô trược, phiền não trược, tứ thời luôn an lạc. Thời Hạ Lai Mạt Pháp cũng diễn tuồng lầm lẫn như trên của Tứ chúng. Đức Vô Thượng Chân Tôn Di Lạc, Ngài cố nhắc nhở quốc độ của Chư Phật đầy trang nghiêm không hề có chỗ cao chỗ thấp, lại mịn như nhung, lại đầy đủ bảy báu, không có nóng lạnh bất chừng, tâm Ngài lúc nào cũng điều hoà. Tại Tứ chúng chưa đúng mức trình độ nhận lãnh nên mới có lầm. “Đến một thời gian sau. A Nan thọ lãnh lời khai thị, về với Chân Tôn thị chứng, liền đảnh lễ thưa thỉnh như sau: Bạch Thế Tôn, sự lầm lạc nơi con vô cùng vô tận, do chốn diệt sanh lại qua nhiều kiếp. Mỗi một kiếp con ngỡ là cha mẹ nuôi con từng mâm cơm manh áo, từng chỗ tắm nơi nằm, cho đến vô số kiếp thảy đều như thế. Đến nay con mới rõ, chỗ thị danh lầm lạc ngỡ thật cha con. Nào ngờ chính con không thể ngỡ đặng. Ngài chính là cha mẹ của con. Ngài là Bậc đã nuôi con từ thân thể tứ đại hợp giả trở thành Kim Thân mã não. Thân mạng nơi con phàm phu tục tử, Ngài dưỡng cho con đặng chư Phật hiện toàn thân, lý trí nhỏ nhen vị kỷ, con nhìn không ngoài pháp giới bị sanh eo hẹp, nay đặng rộng rãi bao la chung khắp. Ngài cho con thực dụng Bảo Châu, đầy đủ Ngũ Châu làm món ăn hương vị, cùng với cơm Hương Tích Ngài nhận của Chư Phật mười phương, cốt nuôi con bất diệt. A Nan thưa thỉnh xong chiêm ngưỡng lễ bái.” –T.V. Ngài nhắc nhở Tứ Chúng chính Chư Phật mới làm cho thân phàm trở thành Kim Thân, lại nữa tâm vọ vậy chúng sanh, Ngài nuôi dưỡng Phật hiện toàn thân, không có gì sánh bằng thực dụng Bảo Châu của Ngài đã thị hiện Hạ Lai ban cho./- 52. Tâm Tình Diễn Tiến Phật Đạo “Hàng Bồ Tát tu hạnh giải nghiệp vì hàng Bồ Tát chứng tri thể tánh vận chuyển của Như Lai Tạng, nương nơi Như Lai mà giác ngộ thành thử giải nghiệp sạch nghiệp rốt ráo thành Phật, do đó nên chi Bồ Tát không bao giờ diệt nghiệp để tu cầu.” –T.V. Hàng Nhị Thừa tu Phật thấy nghiệp thức thường chướng bị biến đổi đủ chiều hướng nơi Nghe Thấy Biết. Nó là thể tánh vận chuyển của Như Lai Tạng thấy phức tạp, khó khăn, liền tránh né để diệt nghiệp. Kết quả tu thành Tiên Đạo. Còn hàng Bồ Tát nương nơi Nghe Thấy Biết tức nương nơi Như Lai, vận chuyển vạn pháp qua tất cả chướng ngại cầu Chánh Giác nên quyết tâm giải sạch nghiệp, không bao giờ diệt nghiệp để tu rốt ráo thành Phật. “Trên con đường tu Phật, Chư Bồ Tát thực hành pháp môn Phật Thừa, Chủ Quán Như Lai, Quán Như Lai là một pháp môn Phật Pháp Bất Ly Thế Gian Giác. Tâm qua tất cả bối cảnh nghịch cảnh giải nghiệp vướng mắc thọ chấp ngăn ngại của Bồ Tát, nhờ thường chủ quán mà thấy nghiệp di chuyển ra vào, năng chấp dị phân nơi thân mạng mình, cùng tất cả con người quần chúng nhân sanh, cho nên miệng nơi mình thường nói ra, thời kẻ kia bắt lấy, nghe qua tức giận hay vui mừng, thỏa mãn hoặc nghi chấp, từ thế nhân con người học chỉ sống nơi chỗ sống chạy theo nghiệp hơn là tự sống quân minh, do đó nên Chư Bồ Tát dẹp tất cả nhỏ nhen liên hệ khởi sanh nghiệp mà sống nơi sống sáng soi nghiệp thức tỏ ngộ mà thôi.” –T.V. Chủ quán Như Lai có nhiều lớp là pháp môn Nhất Thừa tu thẳng đến Thanh Tịnh Tâm thông đạt Nhất Tâm mà hoàn toàn Tri Kiến Giải Thoát. Trước tiên hàng Nhất Thừa đã được hỷ xả sâu, nương nhờ pháp quán xét nơi Nghe Thấy Biết trong thế gian gọi là bất ly thế gian, lướt qua các pháp được hồi tâm, được rỗng rang, chẳng còn mắc miếu, sâu hơn Đại Thừa sạch nghi đến Đại Thanh Tịnh. Nhờ thường chủ quán mà thấy nghiệp thức di chuyển ra vào làm lầm chấp nơi thân mạng, thấy tất cả đều chạy theo nghiệp không thoát sinh được. Nghiệp ăn sâu thành nghiệp căn, tỏ rõ tỷ mỷ khỏi lầm nghiệp Kiết Sử vi tế mới dẹp nhỏ nhen không sanh nghiệp, thân tâm thanh tịnh, được Thiện Tri Thức diệu dụng Biệt Tôn Đốn Ngộ để khai thị làm cho Bậc này sở đắc Vô Thượng Đẳng Chánh Giác. Hàng nhất thừa là hàng không còn phân đối pháp, quân minh thực hiện tuyệt đối pháp, lấy Như Lai nương Như Lai không còn lăn tăn gợn sóng ngăn chấp. Nhận được pháp Đốn Ngộ thì Nghe Thấy Biết tỏ rõ, rỗng rang sở đắc được Bổn Lai Diện Mục của mình, của Như Lai Pháp được Đại Thanh Tịnh vào Nhất Tâm. Bậc tu hành chưa sạch lý, chưa được Bậc Thiện Tri Thức chỉ bày, còn chướng chấp nếu tu Đốn Giáo rất có hại vì không thi hành không biết làm sao cho sạch nghiệp lại dùng tâm tham, sân, si thuộc Đốn Môn liều lĩnh mang nuôi bệnh rất có hại là như thế. “Có Bồ Tát thưa hỏi Phật: Bạch Thế Tôn, con lầm mê, càng tu càng thấy mê lầm, con có giải nghiệp đặng thấy nghiệp mà giải. Bằng con cứ an nhiên, con không bao giờ thấy nghiệp. Đức Thế Tôn Ngài hỏi: Ông thấy nó, ông lấy chi để mà thấy? Bồ Tát đáp: Con thấy lấy cái thấy mà thấy. Ngài tươi cười nói: Cái thấy đồng với thấy không bao giờ đặng thấy, chỉ ngoài cái thấy mới thấy mà thôi.” –T.V. Rất nhiều Bậc tu thời Hạ lai không chú tâm thực hành hạnh nguyện giải nghiệp. Nghiệp rất khó thấy, nếu bậc tu tinh tấn nhận được nó cũng thấy cạn cợt không thiệt thấy hết. Có thực hành mới thấy nghiệp trổ mà giải. Phải dung thông, tâm đứng ngoài hoàn cảnh không vướng mắc, không bảo thủ cá tánh mới lấy cái thấy để thấy. Cũng như chuyện người ngoài mình thấy rất rõ nghiệp của họ, còn chính nghiệp của mình lại không bao giờ thấy, dù Bậc chú tâm cũng không thấy hết được. Lấy cái thấy để thấy tức lấy Như Lai Nhãn Tạng để thấy. “Bồ Tát tán thán, hay thay tán thán cứu tinh Phật Đạo. Con đang ở nơi nghiệp không bao giờ thấy nghiệp, con đang lầm lạc chưa bao giờ tránh đặng lý sự lạc lầm. Con nằm yên chưa bao giờ nhận chân Phật Đạo chứng tri. Con phải nương theo vết chân Bồ Tát Phật mới trưởng thành Đạo Phật. Con đã thật biết hay đã từng biết, sự diễn tiến đạo Phật, con nên tiến từng giai đoạn diễn hành cốt tỏ ngộ, nhận đặng tâm tình Chư Phật đã cứu giúp con, tình nơi Chư Phật chính là một mối tình không phương mà chúng con được cứu trợ nâng đỡ con từng bước tiến. Con đã từng tỏ rõ nghiệp là tự con ngăn chận hoài mong cái sống chỗ sống tự ngã do con. Thế mà lúc con xả ra cho thật hết nghiệp lại tự mang lấy cấu nghiệp nằm yên chờ chân lý giác ngộ. Con đã từng nghe, sạch nghiệp mới dung thông tận thấy biết mà tri kiến. Bằng chưa dung thông thì chưa bao giờ sạch nghiệp. Bồ Tát tán thán xong bái lễ. Đức Thế Tôn gật đầu yên lặng chứng minh.” –T.V. Hàng Đại Thừa hỷ xả tỏ rõ giải nghiệp. Bồ Tát biết chân lý có sẵn khắp nơi như lớp lớp bụi vi trần chung khắp Tam Thiên Đại Thiên Thế Giới. Nó là Pháp Thân Phật, hàng Bồ Tát biết sự vận chuyển mà thành Như Lai Tạng nên thường tâm niệm tin Phật – tin Pháp – tin Tăng để rốt ráo giác ngộ. Tâm tình Chư Phật luôn cứu giúp khắp muôn phương, Bồ Tát thức tỉnh liền đâu đâu cũng có Phật Lực cứu độ lúc diễn cảnh cho đến hồi cam go, khó khăn làm cho Bồ Tát sạch nghiệp, biết nghiệp do tự mình hoài mong, tự ngã phải mang cấu nghiệp. Bồ Tát theo vết chân Chư Phật Bi Chí Dũng thực hành dung thông đến sở đắc viên dung tận thấy biết sạch nghiệp là cốt yếu. Khi đã sạch nghiệp Bồ Tát được nhẹ cảm, như nhiên thân cận Như Lai Phật thật không gì qúy bằng. Dù của cải đầy nhà Bồ Tát biết qúy Chánh Giác nên cái gì cũng dám đánh đổi để chung cùng với Như Lai. “Con đường duy nhất các Bậc thảy đều bước qua không thể nào tránh được. Từ Đức Bổn Sư thành Phật đến hàng Bồ Tát nương theo qua từng cơn giải nghiệp, qua từng lý trí sáng soi, qua từng giai đoạn giải tỏa, nó càng nhịp nhàng bao nhiêu thì tâm tình Đạo Phật, giữa Đức Chí Tôn cùng Chư Tổ lại càng giao cảm bấy nhiêu. Có như thế nên chi các Bậc Bồ Tát không bao giờ củng cố quả vị. Vì sao? Vì địa vị hay quả vị củng cố cũng đứng vào hàng hư vị danh giả, nên chi mới công dụng Lý Trí dung thông đương nhiên quả vị. Nhờ nơi Lý Trí dung thông là do xa lià Ngã cùng Ngã Sở, nhờ xa lià Ngã mà chẳng bao giờ có tự Ngã, tự tôn kết quả không man khai tướng Phật chỉ thể tánh đồng đẳng chung cùng với Phật mà thôi.” –T.V. Bậc tu nào cũng vậy, từ hàng Bồ Tát đến thành Phật đều phải trải qua từng lúc khó khăn giải nghiệp, Chư Bồ Tát lúc đầu cũng phải dùng ý trí sáng soi, giải tỏa nghiệp thức, nghiệp căn, nghiệp lậu, nghiệp kiết sử từng lớp lớp sau sạch nghiệp được kiến diện Như Lai. Chính vì khó khăn như thế nên Chư Phật rất giao cảm với Chư Bồ Tát. Phần Bồ Tát tri ân Chư Phật phải cầu tiến mãi không ngừng nên chẳng bao giờ củng cố vị trí tu chứng. Nếu củng cố là dừng trụ bị sa vào pháp giới đồng với Nhị Thừa tu chứng. Bồ Tát ý thức được như vậy nên không cầu hư vị danh giả, sống bình dị thân cận chúng sanh, nên chúng sanh, A La Hán không nhận ra được. “Bậc Chánh Giác trong sáng lành lẽ, lời vàng Chân Lý từ Kim Thân phát hiện, tất cả Chư Bồ Tát mỗi bậc lãnh lấy Chân Lý mà tu hành thời gian sở đắc Chân Lý ra làm một vị Tổ thừa kế chỉ giáo. Các hàng Chư Tiên, Chư Thiên, Chư Thần, Chư Long Thần đồng với Chư Hộ Pháp đến Hộ Pháp Bồ Tát, nghe đặng mỗi một lời nói. Lời nói ấy lãnh hội đặng hay không do lòng cung kính Phật mà thọ trì lãnh lấy liền sở đắc pháp Chân Lý, hoặc giả tiếp nhận một hơi thở hay nhìn một ngón tay hay một ngón chân Phật đang bước nhẹ nhàng thoải mái để lãnh lấy Chân Lý, với hàng Chư Thiên, Chư Tiên, Chư Hộ Pháp, Hộ Pháp Bồ Tát Ma Ha Tát, tận tường chu đáo rốt ráo Chánh Giác thành Phật.” –T.V. Tu đến rốt ráo chân lý thành tựu Bồ Tát thật quá khó khăn. Nếu có thành tựu phải đợi nhiều kiếp gặp Phật chứng minh nhập thể mới thật sự đại diện Chư Phật tận độ chúng sanh. Còn từ Bồ Tát tu đến rốt ráo thành tựu Diệu Quả Bồ Đề như Đức Bổn Sư nay đến Đức Di Lạc thật hiếm hoi vô kể. Chư Bồ Tát được tương thông Phật Lực thừa kế chỉ giáo tất cả các hàng từ Hộ Pháp, Hộ Pháp Bồ Tát đến Chư Thiên, Chư Tiên, Chư Thần, Chư Long Thần nghe được một Pháp liền lãnh lấy sở đắc Chân Lý. Hàng Bồ Tát vì nhạy cảm, nhanh hiểu biết nên nhìn qua một cử chỉ, một ngón tay hay một ngón chân Phật diệu dụng cũng dễ thoải mái lãnh lấy chân lý chu đáo. Vì Chân Lý vốn sẵn có, chỉ bậc nặng nề do nghiệp khó nhận, bậc nhẹ cảm dễ tiếp thu, chỉ cần một cử chỉ nhỏ nhặt của Phật cũng cảm thấu nên Chư Phật và Chư Bồ Tát rất dễ cảm thông nhau qua Giác Tướng Đại./- 53. Đạo Phật Triệt Thấu Siêu Đẳng Khoa Học Đạo Phật rất tân tiến, không phải Đạo Phật cổ truyền, Đạo Phật chính là một nền tảng văn minh vô tận, chẳng phải Đạo Phật đem nhân loại tứ loài thụt lùi nghìn xưa cổ hũ, vì như thế cho nên Đạo Phật thời nào cũng đặng tôn sùng sống động, thời nào cũng vẫn có đủ tài liệu chỉ dẫn cho tứ loài đến nơi Bất Diệt, đến chốn người với người sống chung với nhau an nhiên thoải mái, quí mến nhau như thịt với xương. Chỉ có khái niệm giữa con người và con người tự lợi, nên Đạo Phật chậm tiến mà thôi. Bao nhiêu những lời xác minh mong sao cho Bậc Tín Tâm thức tỉnh, nhận lãnh lời Kinh Pháp thực hành hóa giải, đó chính là tu, chớ đừng nên tu theo tổ chức mà bê trễ chốn thực hành hóa giải thân tâm làm thế nào Tri Kiến Giải Thoát đặng? –Chân Nguyên Thực Tế Luận Kinh “Trong thế kỷ hai mươi nầy, nói lên chỉ có Phật Đạo mới triệt thấu siêu đẳng khoa học mà thôi. Thật khó hiểu khó nhận chân đặng. Vì sao? Vì Khoa học thực hiện bằng hiện vật kết nạp hóa chất, biến thể cấu tạo ra mọi hình thức các môn, các ngành thảy đều chứng từ cho tất cả thế giới con người có biện minh chứng thật. Còn Phật Đạo chứng tri tu chứng của mỗi vị dù vị ấy, thật tỏ rõ lời nói trên xác thật: Chỉ có Phật Đạo mới triệt thấu Siêu Đẳng Khoa Học chăng, vẫn chưa có bằng thể biện minh đặng, cho nên nơi hiểu biết chính mình là một chuyện, thông đạt tận thành minh thuyết là một điều, minh thuyết rõ ràng, biện minh có lối giải là một đường lối. Còn những vị nhận chân được là một câu chuyện đáng nói, cùng với được nghe để thực tiễn một điểm khó khăn nhất, trong bài Siêu Đẳng này vậy.” –T.V. Nếu những nhà bác học, khoa học gia, triết gia cùng nhà tâm lý học chịu khó đọc, nhận định mới thấy Phật Đạo mà Đức Long Hoa Tăng Chủ Di Lạc Tôn Phật trình bầy những điểm cốt yếu dưới đây, qúy vị sẽ xác nhận thời đại nào cũng chỉ có Phật Đạo mới có đủ Đức Trí triệt thấu Siêu Đẳng Khoa Học, Xã Hội Học, Tâm Lý Học. “Phật đã tường tận thể tánh, cũng như nhà Bác Học đã tỏ rõ phẩm chất trọng lượng. Ngài vốn thấu con người có sẵn thể tánh: Như nhiên tự biết. Bỗng nhiên tánh nó phát sinh an nhiên thông cảm. Hồn nhiên tiến bộ thông đạt đến chốn rốt ráo triệt thấu, nó liền giải thoát lầm mê trên sanh tử. Chính ra con người với vũ trụ, con người sống chung con người ngay bản thân mình chưa hiểu được mình, có nhiều lúc thân mạng chính mình còn phản bội lại mình thì làm sao kết quả mục tiêu con người mong đạt đến.” –T.V. Nhà Bác Học, Khoa Học Gia... dù tài giỏi đến đâu cũng không khám phá được thể tánh nơi thân mạng mình. Khi vui lúc buồn, khi thoải mái lúc bực dọc, khi sáng suốt lúc rối loạn. Vì không khám phá được thân mạng mình nên nền Khoa Học, Y Khoa không triệt thấu hết vũ trụ di chuyển, điều động. Phật Đạo là một nền tản văn minh vô tận luôn giúp con người giải đáp số thực tế nhất. Nếu lấy cái học, cái nguyên cứu nhưng tánh trong thân mạng còn thay đổi, còn bị nó làm chủ nên sự hiểu biết của lý trí dù thông minh đến đâu cũng còn giới hạn. Bậc Chánh Giác Thiền Sư khám phá được sự di chuyển, sự điều động thể tánh nơi thân mạng mình đến lúc tỏ thông đã hòa vào vũ trụ, như nhiên không còn dùng trí suy nghĩ, bỗng nhiên tánh nó phát sanh khám phá điều kỳ diệu trong vũ trụ và lúc già điều khiển cái chết ra đi một nơi đã định tùy ý đểù lai sanh nơi khác. Còn Chư Phật an nhiên thông cảm vũ trụ với thân tâm là một nên thời nào Phật Đạo cũng sống động có đủ tài liệu và phương tiện giúp nhân sinh. Hơn nữa ở hay vào Niết Bàn đều tùy ý quyết định. “Bậc Siêu Đẳng là Bậc đã từng tận thấu nguồn gốc phát sanh, con người lầm lạc chạy theo nó để cầu lấy hy vọng kết quả. Nền văn minh thế hệ lâu dài bền vững hay tan rã cấp thời duy nhất chính con người cần phải tận thấu nó mà tận dụng nó mới là một sự việc tối cần xây dựng. Con người phải thấm nhuần triệt thấu tánh tình mình, hoàn cảnh mình đúng sai tự tạo hay tự nhiên mà có hoặc như nhiên nó đến, tự chính mình có lý trí thông minh giải quyết ổn thỏa cao đẹp, cũng thật tỏ rõ tánh tình của mọi người, hoàn cảnh của mỗi từng lớp người. Những Bậc triệt thấu như thế Phật gọi là: Tri Kiến Phật, nơi Tri Kiến Phật là chỗ kiến nhận lời vàng Phật dạy, chớ chẳng phải gặp Đức Phật giao cảm cùng Chư Phật, đây là lời Ấn Chỉ không hai. Bằng con người mới hiểu mới biết hoặc giả học đòi trên văn tự để mà biết, chưa thực hiện đặng nơi lời trên đều sống nơi bị biết, chớ chưa triệt thấu thâm nhập.” –T.V. Nguồn gốc phát sanh ra tất cả các vật trong thế gian này đều do thể tánh thông minh cao thấp khác nhau, đủ nhiều tầng lớp trình độ của các nhà khoa học. Con người phát minh ra rồi chạy theo để cầu lấy mà hưởng. Từ các nước phát triển đến các nước chậm tiến cũng không thoát khỏi đường lối độc nhất này, Chư Phật gọi là tạm biết còn lầm lạc vì con người học, nghiên cứu, suy nghĩ rồi chế tạo, biến chất mà có. Trong khi Bậc Chánh Giác Thiền Sư tận thấu giải tỏa sạch sẽ tập khởi, tập nhiễm tánh chất nơi thân mạng, biết được tánh tình từng lớp lớp người, lớp lớp chúng sanh. Nếu Khoa Học Gia biết khám phá phát minh thân mạng mình được đời đời ích lợi hay chóng tàn phế thải đó là việc tối cần. Chỉ có Phật Đạo mới thực hiện được Như Trí Siêu Đẳng trong khi khoa học dụng lý trí suy nghiệm nên bị đào thải từng đợt, từ thế hệ này đến thế hệ khác không siêu thoát, không vượt được Phật Đạo. “Bậc đạt đến Vô Thượng Siêu Đẳng Chánh Giác nói: Con người làm chủ vũ trụ, ta đã thành Phật các ông sẽ thành Phật, lời nói này chứng tỏ đưa con người toàn diện theo tài liệu Phật Đạo làm định hướng thực hành sẽ thấu tận Siêu Đẳng Khoa Học. Vì sao? Vì lý sự nghe thấy biết kia là một nền điện tử bày hiện cho con người, con người chưa biết sử dụng nó liền bị điện tử điều hành. Khi triệt thấu nó thời chính nó trở lại cung phụng cho con người bất diệt.” –T.V. Lời Chư Phật là lời Vô Thượng Siêu Đẳng Chánh Giác: con người làm chủ vũ trụ. Bậc Thánh Tăng, Bồ Tát lo tu hành làm chủ thân mạng đặng khám phá làm chủ vũ trụ, được cái biết đem lại lợi ích thường còn cho con người, cho tứ loài. Tu hành như Chư Phật đã làm chủ được vũ trụ, đã triệt thấu Siêu Đẳng Khoa Học. Con người đi đứng, làm việc gì cho đến suy nghĩ... đều do điện tử có sẵn trong vũ trụ hướng dẫn hết trong cuộc sống. Bậc tu được gặp Chư Phật, Chư Bồ Tát chỉ bày lần lần triệt thấu tất cả con người, sơn hà đại địa, cỏ cây đều do điện năng vũ trụ điều hành. Tu là điều hành lại điện tử vũ trụ cho đến khi Thành Quả điều động lại nó. Nhà khoa học biết tận dụng điều này sẽ siêu đẳng sử dụng điện tử vũ trụ. “Sự việc và cơ cấu này các ông nào tận thấu thể tánh tướng tâm, vướng phải tiềm thức thao diễn trong cái thấy mà phân biệt dị biệt, liền tự mang lấy hóa chất nơi ý thức nên chi nhìn nhận thấy, trở thành cảnh sanh tình thành thử các ông phải nương nơi cảnh để mà sống, chạy theo sắc tướng cầu lấy an vui. Nếu không có sắc thì các ông không vui sống. Bằng chưa có tình khô héo bước đi, hai điểm này các ông đành theo sanh tử, đó chính là điều đáng kể nhất.” –T.V. Tất cả khoa học gia đều bị có cảnh sanh tình. Tức khi có diễn cảnh, có hoàn cảnh vui, buồn…điện tử vũ trụ liền điều động thân mạng làm phát ra tánh tình. Bậc Thiền Sư lấy tình sanh cảnh tức điều hành lại tánh mình, dụng điện tử trung hòa không cho chạy theo diễn cảnh. Tâm đứng yên rồi điều động giải tỏa tức lấy tình sanh cảnh. Dần dần không còn sanh, được tỏ thông. Đã không sanh đâu còn tử. Thấu đạt bất tử, từ đó lời nói, cử chỉ đều siêu đẳng. “Thời này khoa học chưa có danh chánh ngôn thuận trên thế giới. Thái tử tu đạt Vô Thượng Chánh Giác. Thái tử tận Vô Thượng Siêu Đẳng Khoa Học, tỏ rõ tỷ mỷ từng lớp lang di chuyển linh động thuyên diễn điện, điện tử cho đến siêu siêu điện tử chung khắp vũ trụ Tam Thiên Đại Thiên Thế Giới đang sống động lưu hành.” –T.V. Cách đây 2538 năm, thế giới này chưa phát triển thành hệ thống khoa học Đức Bổn Sư lúc đó đã tận thấu siêu siêu điện tử trong Tam Thiên Đại Thiên thế giới đang lưu hành. “Siêu Siêu Điện Tử nó cực kỳ tinh nhuệ, phẩm nó lưu hành, không chỗ nào nói lên từ ngữ đặng, không nơi nào gọi là nó đi, nó lại hay chốn đến, đối với Ngài triệt thấu nó mới thâu nhận đặng nó mà thôi. Do đó mới dùng từ ngữ là Như Lai Tạng. Còn chỗ hiện Tam Thiên Đại Thiên Thế Giới Rồng Người tứ loài văn tự Pháp Thân Phật.” –T.V. Siêu siêu điện tử không nơi nào gọi là nó đi, nó lại hay chốn đến nghiã là chỗ nào nó cũng có, từ vô thủy vô chung cũng sẵn có chỉ tại khoa học không khám phá ra nay mới tìm ra được thôi. Đức Di Lạc Tôn Phật khai thị Như Lai Tạng chính là điện tử vũ trụ. Còn tất cả chủng tánh chúng sanh tánh trong vũ trụ chính là Pháp Thân Phật. Như vậy đủ biết từ Đức Bổn Sư nay lại đến Đức Di Lạc Tôn Phật cùng Chư Phật Mười Phương Ba Đời đều đã tận thấu siêu đẳng khoa học từ xa xưa. Sự khám phá điện tử để biết vũ trụ của khoa học cho đến thế kỷ 20 này so với Chư Phật thật còn quá xa vời chưa thấm vào đâu. Siêu Điện Tử Phật Đạo gọi là Chủng Tử, tư tưởng là nguyên tử. Những hạt nguyên tử cấu kết thành phân tử cũng như Phật Đạo đã từng giải thích tư tưởng chứa nhóm thành chủng tánh. Ngày nay khoa học còn tìm ra nguyên tử cấu tạo bởi nhiều nơtron, Phật Đạo đã chỉ duyên khởi cấu tạo tư tưởng. Phật Đạo còn đi xa hơn là duyên khởi chính các giống vi khuẩn trong thân mạng cựa quậy tạo tư tưởng trong thân. Tánh thấy trong thân hiệp tánh thấy trong vũ trụ sinh ra cái biết tùy trình độ, tùy giai cấp, tùy xứ sở, khoa học nay tìm ra các Gen di truyền. Phật Đạo đã triệt thấu siêu đẳng khoa học từ xa xưa. “Tuyệt tác thay. Ngôn từ Phật thuyết Như Lai Tạng siêu siêu đẳng, vì thế Bổn Thể Như Lai vốn Như Vậy, lưu hành vãng lai, lai vãng chung khắp chẳng khác giọt nước cam lồ cưú an thiên hạ. Không thể hỏi hay nói: Có phải là giọt nước hay chưa phải giọt nước? Chính Bổn Thể là giọt nước. Đối với Bổn Lai siêu siêu Như Lai vốn như thế.” –T.V. Thời Hạ Lai này đã tàn canh Đức Vô Thượng Siêu Đẳng Chánh Giác Di Lạc chỉ thẳng siêu siêu điện tử chung khắp Tứ Loài để tìm cách sử dụng chúng đặng Bất tử. Không nên bàn tán phê bình, chỉ trích từ cái học, nghiên cứu, cố tạo Thiền Trí đến Giác Trí là qúy nhất. “Còn thế giới với con người, quả địa cầu đang quay quần Hư không Giới trong vòng Thái Dương Hệ, Bậc siêu siêu đẳng tỏ rõ tường tận chung khắp có từng vùng, có nghiã là ngoài vùng Thái Dương có hằng hà sa thế giới. Mỗi giới là một vùng, mức sống, lẽ sống, tầm sống, lối sống thảy đều sống chia ra Lai Sanh, Thượng Sanh, Hạ Sanh, Đương Sanh, sự sanh trưởng cao thấp tùy theo Điạ Giới, Tiên Giới, Thiên Giới làm Tam Giới, kiếp sống, mạng sống dài ngắn tuổi thọ cùng hiện vật dụng cụ vốn theo Thiên Khí Hiện, Tiên Thanh Ứng, Nhân Sanh Lực. Tịnh Độ Như, Như Lai Tạng siêu đẳng tùy giới cung cấp, trang trí đầy đủ không thiếu sót.” –T.V. Khoa học hiện nay đang khám phá vũ trụ trong vòng thái dương hệ. Trong lúc đó Đức Vô Thượng Tôn Di Lạc đã chỉ ngoài thái dương hệ có hằng hà vô số thế giới khác có sự sống, mức sống, lẽ sống cao thấp do thanh bai hay thô lỗ, cộc cằn, độc hại của tứ loài. Biết bao thế hệ nưã của khoa học cũng khám phá có giới hạn cũng không tìm ra các sinh vật vô hình đầy đủ được. “Con người hiện tại đang sống ở trong Địa Giới này chưa bao giờ biết mình từ đâu đến, cho đến Chư Thiên hay Chư Tiên, Tịnh Độ Tây Phương Cực Lạc thảy đều chưa biết đặng. Bậc Chánh Giác siêu đẳng rành mạch rõ ràng tận thấu, nên Ngài mới ấn quyết con đường thoát sanh xây dựng thân mạng tự sanh từng cõi, từng tánh chất chi hợp hóa với thế giới chính mình ưa chuộng, mà tu tập tu hành đoạt như ý nguyện. Chẳng khác nào con người mong trở thành người quân tử phải tâm tánh quân tử, những bậc vĩ nhân hay siêu nhân phải có đầy đủ tiêu chuẩn vĩ nhân hay siêu nhân mà thành đạt.” –T.V. Trên thực tế kỳ hạ lai này, trong Long Hoa Hội đã có đại diện bậc cao đạo các cõi như Chư Thiên, Chư Tiên cùng bậc ở Tịnh Độ Tây Phương tu Định Tưởng chưa nhớ quá khứ tiền kiếp của mình từ đâu lai sanh tại Việt Nam này. Còn các nhà bác học, khoa học... cũng chỉ biết khám phá vũ trụ theo lý trí suy nghĩ nên càng mơ màng sự tái sanh của con người và tứ loài. Lắm bậc không tin nhưng bậc có Thiền Trí, Giác Trí tu theo con đường chư Phật lại biết rất rõ từ 2538 năm đến nay đã lai sanh nơi nào tên gì, làm nghề gì. Biết từ đâu tới, biết sẽ đi về đâu nên biết sống đầy đủ ý nghĩa. “Phật Đạo là một nền tân tiến hóa tạo con người thực tế tu cốt tỏ, hành cốt đạt ngay thân tâm mình thật biết tỏ rõ, sau khi mạng vong sẽ đặng về đâu rất tường tận quả vị mình sắp đến, do đó nên chi các bậc tu Phật không bao giờ sợ chết cầu sống, chưa bao giờ nhận lấy hơn thua được mất làm bước đi mà chỉ tu cầu tỏ ngộ.” –T.V. Những nhà khoa học nào còn dùng lý trí suy đoán, những chính trị gia vô thần hãy đọc kỹ đoạn kinh trên để biết Đức Long Hoa Tăng Chủ Di Lặc xác nhận con người chết không chấm dứt mà đi đầu thai nơi đã hành tốt xấu tùy thọ báo, tùy chánh báo. “Phải chăng Phật Đạo triệt thấu bản năng thể chất và tánh chất phẩm lượng của con người cùng vũ trụ Tam Thiên, đang sống hấp thụ cái gì, ảnh hưởng ra sao. Kết quả của nó như thế nào? Không khác vị đại lương y, hay một bác học đã từng thực hiện hóa chất cho hoàn thành, những món đồ dùng hay những viên thuốc cốt cứu chữa con bệnh lành mạnh không tổn thương cho con người chăng?” –T.V. Khoa học, y khoa bào chế các thứ thuốc, giải phẫu cứu con người nhưng con người lành mạnh rồi đến tuổi già cũng tàn. Còn Thiền Sư siêu siêu đẳng chánh giác tận thấu bản năng tánh chất thể chất con người cùng Thiên, Tiên, Thần giúp đỡ như Đại Lương Y được lành tâm bệnh được bất tử, siêu siêu đẳng hơn khoa học hàng triệu triệu do tuần. “Đứng trước thế giới, nhân loại hoàn toàn phế nhân bất lực cứu chữa con người, xây dựng con người thoát khỏi căn bệnh lầm mê, chứng bệnh điên loạn, nhiễm độc quay quần bất ổn trong kiếp sống do Tạng Thức gây nên Tiềm Thức tìm tòi theo những ý muốn của mỗi con người thảy ra sống còn lung lạc. Vì sao? Vì Như Lai là nơi an lành đứng thứ nhất như con người không bệnh lành mạnh an vui. Tất cả những con người ấy mang vào Tạng Thức thời Như Lai kia trở thành Như Lai Tạng. Mỗi nhân loại giữ lấy một Tạng. Bá thiên vạn triệu vô số vô biên chúng sanh thành thử mỗi chúng sanh phải hứng chịu một giới hạn của Tạng Thức gọi là Chúng Sanh Giới.” –T.V. Các nhà khoa học, nhân chủng học nghiên cứu từng quốc gia, từng sắc tộc có tập quán, phong tục, ngôn ngữ nhưng chưa chịu tìm ra gốc của các loài do thần thức khởi điểm gọi là Tạng họ gìn giữ lấy quan điểm đó thành ra giới nào cũng có Tạng Thức trở thành ngăn chia theo giới mà sống theo giới đó. “Khi đã hình thành Chúng Sanh Giới thời mỗi người, mỗi bậc và mỗi vị, cho đến mỗi thế giới ngăn biệt nhau cùng nhau trưởng thành Tạng Thức, khai hoang tiềm thức, ổn định ý thức, do đó nên chi mới có tam giới chia ra từng địa giới đã nói trên. Mỗi giới hiện vật trang trí như: Nhà cửa lâu đài cao ốc thành phố có cõi thanh ứng mà thành như cõi Tiên, cảnh Tiên có cảnh giới như nhiên đồng hiện hoa mỹ Ngọc Bích, Pha Lê, Xa Cừ, Xích Châu, Hổ Phách như Tịnh Độ quốc độ đồng niệm tưởng niệm mà thành tựu, trang nghiêm Bửu Châu, trang nghiêm thất báu. Trang nghiêm quốc độ cực kỳ cao quý. Chư Bồ Tát hằng hà sa số Bồ Tát, cúng dường lễ bái chiêm ngưỡng Phật, trong sạch liền lạc an nhàn thanh tịnh, Đại Thanh Tịnh quốc độ không thể nào kể hết vô biên vô tận cao qúy, vô cùng thanh nhã khó nghĩ bàn, khó dùng văn tự để diễn đạt vậy.” –T.V. Khi đã hình thành chúng sanh giới thì mỗi xứ sở có một thế giới ngăn biệt nhau, đồng đắp xây thành cảnh giới sinh sống. Như cõi thế gian dùng sức lao động xây cất nhà, lâu đài. Cõi Thiên, cõi Tiên khoa học đành chịu không thấy, không biết cảnh giới sống thoải mái đầy châu báu này. “Khi đã ở nơi Địa Giới trên mặt đất quả địa cầu này, toàn diện đều là ĐẶC CHẤT. Các ngành Khoa học không làm thế nào hơn phải nhận lấy đặc chất hiện vật mà hóa chất, từ một khởi điểm nghiên cứu đến thành công, đó chính là một sự thường nó phải như thế, vì địa giới chứ chẳng phải địa hóa mà đặng, nguồn gốc do phẩm chất nó như vậy. Sự lầm tưởng nơi thực hiện đúng với phẩm chất, đúng với tư thế có hòa mới có hiệp, không hòa thì chưa bao giờ hiệp, cũng như các Bậc tu hành rất cần Giác Tướng về Như Tướng chớ cầu Tướng Hóa Tướng đó chính là Bậc sai lầm vô lượng. Nhà Khoa Học nên chu đáo công trình thể chất hóa chất rất cần nơi hợp hóa năng lượng phẩm chất đúng theo công sự mới là Bậc đúng đắn. Không khác chất vôi gạch thì vôi và gạch hít nhau. Bằng bột đắp vào gạch nó chỉ dán chớ không hòa hít.” –T.V. Đặc chất thuộc Địa đại là Đất, động vật, thảo mộc có thân lá cho đến con người có xương thịt thuộc đặc chất là Đất. Các nhà khoa học lấy các chất thuộc về Đại Địa gọi là đất để thí nghiệm, nghiên cứu ngoài ra không có gì ngoài đặc chất cả. Địa giới chính là quả địa cầu có vô số đặc chất, lấy chất này chế biến ra chất khác không lìa giới Đại Địa được. Còn Địa hóa ý nói các cõi Thiên, Tiên hóa sanh mà có không cần đặc chất. Bậc Thiền sư biết ở cõi Tiên, cõi Thần các vật đều biến hóa mà không như thế gian pha chế các đặc chất phải mất thời gian khám phá rất lâu dài. Bậc Giác tướng vạn pháp rất hiếm, Bậc này biết dụng vạn pháp quân minh liền đến Như Tướng. Hàng Bồ Tát Giác Tướng, Bậc A La Hán Liễu Ngộ vẫn còn mơ màng Giác Tướng Đại. Còn Khoa học lấy đặc chất này chế biến ra đặc chất khác tức lấy tướng hóa tướng bị giới hạn vẫn bị mê lầm theo sanh diệt. “Nói về Thiên Khí hiện cõi Trời có 18 tuần trời, trong 18 tuần đều hấp thụ Thiên Khí. Hiện cao thấp khác nhau, nhưng tất cả Chư Thiên thảy dùng tài trí hiện, có phần cao hơn địa giới công lực kiến tạo nơi tài các cõi trời tinh xảo gấp trăm nghìn lần Địa giới nó vẫn tùy ở Tuần Trời mà xuất hiện. Từ y áo, cung điện, dinh thự, lộng phướng, xiêm y, rồng phượng mỗi mỗi lập Bổn lấy uy là gốc, lấy quyền là dụng, lấy thế làm danh, lấy châu là chi dụng. Ngoài ra không thể lấy ứng, lấy thanh bai lả lướt của Tiên mà trang trí đặng.” –T.V. Quả địa cầu được bao bọc bởi bầu khí quyển, tất cả sinh vật cho đến con người đều sống nhờ không khí. Thiền sư Chánh Giác như Đức Vô Thượng Tôn Di Lạc lấy Như Lai Nhãn Tạng nhìn được Chư Thiên, Chư Tiên sống nhờ Thiên khí, tinh khiết, trong sạch còn bầu không khí của thế gian bụi hồng trần quá dơ bẩn. Một hôm tôi nghe Ngài khai thị như vầy: Quả địa cầu chúng ta có trên 200 quốc gia. Còn 18 từng trời, cứ mỗi từng lớn hơn gấp ngàn lần quả địa cầu. Con người ở Địa giới tức quả địa cầu này dùng công lực kiến tạo là dùng sức lao động xây dựng nên. Còn các Cõi Trời dùng tài trí là dùng tinh thần đạt thần thông hiện ra vật dụng lâu đài, cung điện, y áo, thực phẩm v.v... nên cái gì cũng tinh xảo gấp trăm ngàn lần thế gian. Ở các Tầng Trời người Thiên luôn tôn trọng Bậc cao đạo là lãnh tụ. Bậc lãnh đạo rất uy quyền, lấy quyền ban cho Thiên nhân trong Cõi Trời của mình những gì lãnh tụ muốn. Lấy thế làm danh là lấy tu chứng thần thông cao thấp được thế đứng quan quyền đi đứng đều được Thiên nhân trong cõi Trời xem là Bậc có danh giá. Lấy châu làm dụng là ở Cõi Trời châu báu, xa cừ, xích châu, mã não... làm đồ dùng, khác thế gian vật dụng đều lấy từ trái đất gọi là đặc chất như cái bàn, cái tủ, cái ghế... đều gốc từ cây hoặc kim loại trong trái đất. Tiền làm bằng giấy, kim loại, vàng bạc đều từ trái đất. Ở Cõi trời ai cũng có thần thông do tu chứng cao cấp hàng Thiên mà được sanh về nơi đó. Nên không có ai là công nhân, lao động để kiếm sống vất vả. Muốn ăn, mặc đều được thần thông hiện không thiếu chi, chỉ tu tánh tình cao thượng thương người, hiếu thảo cha mẹ, trung với thầy cô, không nói tục tằn, không hành động mưu sĩ khác với thế gian. Kể không hết ý nổi, chỉ Bậc đúng mức Như nhiên xuất định đến nơi mới được chứng kiến tường tận rất thực tế, chứ không phải tưởng tượng hướng một nơi gọi là Định tưởng để đến, cái thấy nầy còn ngoại giáo. Đến nay thế kỷ 20 sắp dứt, thế kỷ 21 bắt đầu Khoa học dùng đặc chất khám phá, trong lúc Đức Thế Tôn nay Đức Long Hoa Tăng Chủ Di Lạc cùng khai như nhau. Những Bậc có thiên nhãn, thiên nhĩ chưa đủ lục thông của Chư Bồ Tát đừng vội cho là nói tưởng tượng nữa. Còn Chư Tiên mức sống, vật dụng còn cao rất nhiều, thanh bai tinh xảo, không dùng bút mực nói hết được. Vậy mà Bồ Tát xuất định vừa đến là được qúy trọng, được đưa đón để họ chờ thọ lãnh pháp không kể hết được. Con người sống ở thế gian dùng thứ gì không không ngoài trái đất cung cấp nên không rời khỏi Tâm Địa được. Do đó nhiều tánh độc trổ hình phải nhờ tu hành sửa tánh tinh tấn thực hiện, chớ tu sắc tướng quá nặng không sửa tánh khi chết cái khổ đem đến rất tai hại. Nếu là Thiền sư Chánh giác nghe được, đọc được phần này liền nhẹ cảm thông không nghi ngờ như các nhà Khoa học. Vì Khoa học lấy hiện vật dùng mắt thấy. Bậc siêu siêu điện tử thấy chẳng cần mắt nơi thân. “Còn về Thanh Ứng, Cảnh Tiên hay Cõi Tiên chia ra Bậc Thiên Tiên và Bậc Thần là hai giới có hai đặc điểm cực kỳ về Ứng và Thanh cách biệt nhau xa hẳn. Bậc Thiên Tiên chủ tọa về cảnh Tiên hay Tiên cảnh thanh ứng rất cao, hoa mỹ tuyệt mỹ. Bậc Thần Tiên tư thế về cõi Tiên thời thanh ứng có phần thấp thanh thoát có phần nặng thô hơn Thiên Tiên, Chư Tiên vẫn lấy tài phép làm gốc, lấy hưởng thụ làm thanh ứng hiện, nên chi y áo, lâu đài cảnh giới thảy đều thanh chất ứng hiện, tùy những vị cao qúy thần thông mà thụ hưởng, hoàn toàn khai thác thanh ứng an vui hỷ lạc. Ngoài ra không thể dùng hiện vật hay tài trí. Cũng như Địa giới không thể áp dụng được TƯỞNG mà thành vậy.” –T.V. Cõi Tiên cũng chia ra nơi ở sang trọng cao đẹp, thanh bai đầy hoa mỹ gọi là Thiên Tiên. Cõi Thần Tiên cảnh giới, vật dụng thấp hơn Thiên Tiên. Chỉ riêng con người nơi thế gian lấy hiện vật từ trái đất làm ra. Phải bằng nhân lực, nếu máy móc thay cũng là trí tuệ, tài năng sáng chế mới có. Ngồi tưởng không thực hiện không bao giờ có. Cõi Tiên, Thần Tiên ngồi tưởng, vào Định tưởng không làm cũng có theo ý muốn. Cõi Trời chỉ biết cõi Trời, cõi Tiên chỉ biết cõi Tiên, Thần Tiên chỉ biết Thần Tiên chứ không đủ quyền năng từ cõi Trời đến cõi Tiên được. Ngược lại các cõi cũng thế. Cũng như con người trên quả địa cầu chỉ đi được trên quả địa cầu thôi, ra ngoài đến hành tinh khác không thấy sinh vật khác vì họ vô hình. Hàng Bồ Tát thành quả đi khắp. Chư Phật tận thành nên 10 phương đâu đâu cũng viên dung có và đến được. Muốn hiện hay ẩn do Bậc tu cao thấp đúng tầm mức mới thưa thỉnh tận độ chúng sanh được. “Bậc Siêu Đẳng Chánh Giác đã tận biết cơ sở tánh chất, phẩm chất, trọng lượng của mỗi nơi chúng sanh hỗn hợp gây tạo nên chi Ngài mới vạch ra tu hành nhiếp thâu tận thấu tất cả Thể Tánh Bổn Lai của mỗi mỗi giới mà tỏ ngộ gọi là sở đắc vạn pháp tỏ pháp, chớ chẳng chi tỏ pháp. Nền khoa học ra đời đã từng qua, đã từng biết mỗi chất nó là mỗi chất nơi nó. Phẩm của nó ra sao, lượng của nó thế nào. Khi bào chế hoặc lúc ráp bộ máy cho nó đã từng biết tỷ mỷ hình thành nó, sáng tạo đặng nên hình mà sử dụng khác nhau theo các chiều hướng như: Máy điện toán, điện tử, máy thu hình, máy phát hình, cùng thu phát thanh chẳng hạn, cho đến những viên thuốc trong ngành dược phẩm có đầy đủ tánh dược, có đủ phẩm cùng lượng hiệp hóa rất tỏ rõ không lầm lạc tý nào.” –T.V. Bậc Siêu Đẳng Chánh Giác Như Đức Vô Thượng Tôn Di Lạc đã tận thấu tánh chất, phẩm chất, trọng lượng của mỗi chúng sanh nên Ngài mới lập ra pháp môn tu hành để cứu chúng sanh thoát khổ đi đến bất tử. Còn nền khoa học ra đời đem tiện nghi từng thời đại làm cho con người sống thoải mái, thuốc giúp trị bệnh. Hai ngành đạo Phật và khoa học tiến song song nhưng khoa học chưa tìm được con đường bất tử nơi thân mạng. “Đối với Chánh Giác Siêu Đẳng cũng như thế. Nhà Khoa Học khi chế biến còn dễ, vì chính tự tay mình hòa hợp chế biến, do nơi đầu óc thật biết của mình ráp các bộ phận hình thành bằng máy, những bộ máy kia toàn là hiện vật nó tùy thuộc theo lặng lẽ chấp hành nên rất dễ dàng điều động. Còn Bậc Chánh Giác thật biết, biết tỷ mỷ còn biết hơn thế nữa, biết sự lầm lẫn, biết nơi tai biến, biết chỗ tác hại cuồng quay hư hỏng nơi đầu óc thân mạng con người, do nơi nào, do chốn nào mà nó lầm kêu vang sự cứu giúp nó. Nhưng trái lại Bậc Chánh Giác có quyền hướng dẫn khai hoang, phần con người phải phát tâm tự sửa tự giác đến Tự Thành, ngoài ra không có quyền bắt buộc sự việc này thật nan y khó giải. Nên Phật nói: Phật bất hóa độ vô duyên bất hóa độ Định Nghiệp. Các Khoa Học Gia đành chịu sửa chữa bộ máy nơi con người, chính thân mạng mình cũng đành chịu với lầm mê trong con đường sanh tử. Đứng trong giai đoạn này, không riêng chi địa giới gánh chịu mà tất cả Tam Thiên Đại Thiên thế giới, Tịnh Độ, rồng người chúng sanh đành chịu trở thành toàn diện đều là phế thân vô lượng kiếp vậy. Vì sao? Vì mỗi giới, mỗi chất, mỗi phẩm, mỗi nơi, mỗi chốn không thể nào vượt tầm số mình, vượt giới hạn trọng lượng mình để làm sự việc nào khác hơn chính mình làm, làm y như thế mà hứng chịu.” –T.V. Các Khoa học gia, Bác học chế phi thuyền thám hiểm cung trăng cùng vũ trụ hãy suy ngẫm đoạn kinh trên. Chính Đức Di Lạc Tôn Phật viết trong thế kỷ 20 này. Hình ảnh Bửu tích Ngài để ở trần gian còn mới lắm. Nghi ngờ con người chết là hết thì hãy quay vào thân mạng mình tu sửa, Thiền định được chỉ dẫn cũng còn kịp thời gian được Thiền Sư Bồ Tát và chư Tổ thừa kế hướng dẫn để biết con người chết lai sinh tiếp nơi sống khác rất chân thật. “Nhưng lạ thay. Hoàn cầu thế giới lầm tưởng Đạo Phật suy đồi Mạt Pháp. Sự lầm lạc này nó riêng từ cá nhân cá thể của mỗi một nhà nước. Nào ngờ các Bậc tin Phật tu hành quá đông, họ truy tầm cực điểm. Mỗi người, mỗi vị nương nơi giáo lý Phật, đến nỗi đọc tụng thuộc lòng từng chữ một, có hàng hàng lớp lớp. Nhưng lạ thay chưa thấm vào đâu, đó chính là đáng kể trong bài này. Vì sao? Vì tần số chưa hoàn toàn thấu đạt Tứ Trí thì làm sao kết thúc chân lý giải thoát?” –T.V. Tất cả chúng sanh hiểu biết theo sở thích cá nhân lầm lạc. Tứ trí chia ra bốn thứ lớp nhận định khác nhau nên khó biết nhau: Chúng sanh Trí gọi là Trí Hóa. Tiên Thần Trí gọi là Trí Sanh. Bồ Tát Trí là Trí Tồn từ như. Phật trí là Trí Tận. Như Lai Tạng chung gồm Tứ Trí. Tất cả chúng sanh chỉ có Trí Hóa. Học, nghiên cứu trí hóa làm căn bản hiểu biết phát triển từng ngành. Bậc Vô Thượng Siêu Đẳng Chánh Giác như Ngài tận thấu Tứ Trí tức Như Lai tạng. Chúng sanh chạy theo trí hóa bị sanh vọng tưởng điên đảo. Phật đạo cho trí hóa là trùng trùng duyên khởi sanh diệt, diệt sanh. “Trí Hóa là một nguồn máy phát huy, từ nơi thân mạng con người, nói chung lại là nguồn phát triển chung khắp vũ trụ Tam Thiên thế giới, nó nâng cao đời sống nhân loại trưởng thành khôn ngoan linh động trong các ngành, chia ra nhiều ngành như Khoa học kỹ thuật, các nghề nghiệp, các Bác sĩ, Kỹ sư, cho đến Bác học trong thế kỷ 20 nầy đang nhìn thấy, trên nguồn hiện sanh của thế giới không ngoài Trí Hóa mà ra.” –T.V. Do quy chế Trí hóa mà từ nhà Bác học cho đến tất cả con người có khi vui lúc buồn, khi sướng lúc khổ, khi trầm tỉnh lúc nóng nảy điên loạn. Khi hòa đồng lúc bất đồng sinh ra khổ. Đạo Phật dạy chúng sanh thấu đạt Như Lai Tạng Tứ Trí nên không có tình trạng mê lầm như vậy. “Phần Trí Hóa đối với Nhân Sanh, Thiên Sanh, Tiên Hóa chung khắp vũ trụ Tam Thiên là một điểm chính của Tứ loài, thành thử vũ trụ Tam Thiên phải bị sống Nhị Nguyên phân đối sướng khổ khác nhau, được mất có không chưa bao giờ thoải mái. Vì sao? Vì Trí Hóa nó tùy thuộc bản chất của mỗi con người phát sanh trí hóa, dù cho Bác sĩ, Kỹ sư Bác học cho đến tầng lớp không ngoài Tứ Đồ là điều khó giải. Tứ Đồ là đạo đức hay phi đạo đức. Hung cường và Mưu-Sĩ-Đồng mà khó giải. Phật đạo cho trí hóa chính nguồn điên đảo hóa nên mới có: Tất cả hư vọng đảo điên.” –T.V. Dù cho Bác sĩ, Kỹ sư, bác học cũng không thoát khỏi qui chế Trí hóa. Phải bị sống nơi Nhị nguyên là sướng khổ, được mất, có không... Chư Phật Giác Trí về Như Trí thật quá siêu đẳng. Phật đạo cho qui chế Trí Hóa là nguồn điên đảo bất tận. “Bậc tận thấu siêu đẳng nói đến Tứ loài Nhân sinh và Tiên cảnh Tam Thiên Đại Thiên thế giới dù cho những Bậc thông thái hiền triết hoặc giả vĩ nhân hiện đại văn minh chăng vẫn nằm trong Trí Hóa hư vọng. Vì sao? Vì Trí Sanh vẫn hóa sanh, trí tồn bị tồn, tận thấu chăng vẫn tận thấu hiện sinh hiện vật chớ bản thân chưa bao giờ tận thấu con đường siêu đẳng. Do đó nên chi con người bước vào con đường đạo Phật. Trước tiên hỷ xả tất cả các sự trong thân tâm mình, dọn cho sạch sẽ Trí Hóa, Nhất Tâm đảnh lễ chiêm ngưỡng lễ bái Phật, nương theo ngôi Tam Bảo tu hành theo đạo lý và giáo lý làm nền tảng cải hóa giải nghiệp.” –T.V. Trí hóa còn sanh diệt gọi là Trí sanh diệt. Trí Tồn của các nhà Khoa học do thiên tư cá nhân nhanh thấu hiểu ngành nào của mình, vẫn qui chế bị biết vì còn suy nghĩ nên bị Trí hóa. Dù Bậc tận thấu cũng là do hiện vật từ đó Trí hóa phát sinh. Bởi vậy để thoát khỏi Trí hóa bị sanh diệt nhà Bác học, Khoa học gia cần sửa, dọn cho sạch sẽ thân tâm mình. Có nghĩa hỷ xả tất cả việc chướng tai gai mắt đến với mình đến lúc kết quả trí không hóa nữa dần dần phục hồi Giác Trí đến Như trí. Tận thấu Trí lấy nghe thấy biết tức lấy Như Lai Tạng cải hóa giải nghiệp được Như Trí. Bậc sống trong Như Trí thật tuyệt mỹ khó có cấp nào thấu hiểu nổi. Chư Bồ Tát tu Bát Nhã Ba La Mật Đa thấu đạt Như Trí. Chỉ Chư Phật tận thấu Như Trí. Nghe thấy biết viễn thông khắp xứ. “Phải tự tánh tỏ tánh hóa giải Trí Hóa, rất cần đến Bậc Thiện Tri Thức hướng dẫn, vì sao? Vì Trí Hóa đặng Trí Sanh căn bản vào con đường giải thoát là một vấn đề đưa cho những Bậc tín tâm từ một kiếp giải thoát đến vạn kiếp chưa giải thoát. Con đường tu Phật quan hệ nhất từ chỗ Trí Hóa về với Trí Sanh đúng với tinh thần giải thoát liền đặng giải thoát bằng không đúng với tinh thần dù có tu vạn kiếp vẫn sanh tử.” –T.V. So đoạn Kinh trên Chân Phật tử phải hiểu, cầu giác ngộ cần gặp Bậc đã giải thoát đi trước cứu độ cho mới được. Gặp rồi nếu tin vâng kính trọn chỉ cần một kiếp là đến. Lắm Bâc được gặp Đức Long Hoa Tăng Chủ mà thờ ơ không có tinh thần cầu Giác ngộ đến lúc Ngài ra đi họ vẫn chưa Giác ngộ được... Còn thiếu tinh thần vạn kiếp nữa có gặp Bậc Chánh Giác cũng như không gặp. Thời Hạ lai lắm Bậc lấy trí hóa, trí sanh tưởng mình là Phật thật mê lầm truyền kiếp. “Nơi Trí Sanh tùy vào Trí Hóa của mỗi vị mà tu đạt. Có vị chứng Vô Sanh Pháp Nhẫn, có Bậc chứng Thực Tướng Vô Tướng Tam Muội pháp môn. Có Bậc nương vào Bình Đẳng Tánh Trí mà đường tu chủ quán sơn hà đại địa sau Trí Sanh sở đắc Pháp thân. Khi bấy giờ đã sở đắc không còn phải dùng Trí nữa. Vì sao? Vì trí huệ vị trí trong căn bản Trí hóa, thuộc về tư tưởng phát sanh, Phật đạo gọi là Bản ngã giả tưởng. Thời này có rất nhiều Bậc tu hành sai lạc với hướng tu, lấy Trí Hóa vọng cầu trí hóa nên chi bị biết thật nhiều, bị tu không ít do lòng mong mỏi Trí Sanh, thêm vào đó nhìn nhận học vấn lấy trình độ học vấn để hiểu biết chân lý, làm sao tận thấu đặng chân lý, do duyên căn này mà bị chứng Chân Không Trí Sanh tăng thượng tu theo tối sáng mập mờ, hiếm Bậc Thực Chứng Chân Không, bậc này vẫn nương nơi Đạo lý, không tách rời Đạo Hạnh chẳng xa lánh Đạo Tràng gọi là Hạnh Nguyện.” –T.V. Bậc Đại thừa cũng tỏ rõ trí hóa sau biết trí sanh nhưng còn cạn chưa sâu như hàng Bồ Tát thấu đạt Trí Hóa. Trí tuệ, học hành, nghiên cứu thuộc trí hóa. Trí hóa thuộc tư tưởng khởi sanh. Trí hóa làm cho nhiều Bậc lầm nghĩ xưng mình là Phật. Giác trí đến Như trí thấu đạt trí hóa nên không còn lầm nó. Dù Bậc cao cống trí tuệ đến đâu cũng không ra khỏi vòng đai sanh tử của nó. Các nhà Khoa học hãy tham khảo Trí Hóa, tìm cho ra Như Trí sẽ thấy một chân trời mới lạ trong thân mình và sẽ nhận được một thể sáng như nhiên không gì qúy bằng. Không con đường nào khác, hãy tìm về chân Chư Phật, vết chân chư Bồ Tát mà đi dù nhà Bác học ở tôn giáo nào, hoặc không tôn giáo vẫn đem lại siêu trí rất bổ ích cho bản thân cho nhân loại. Lúc đó mới thật biết chỉ có Phật đạo mới triệt thấu siêu đẳng Khoa học, lại được minh xác trí tuệ Bác học nơi thế gian với Như Trí của bậc Chánh Giác cũng nơi thế gian chứ chẳng phải ly gia cắt ái, cũng chẳng phải do ăn chay, không ăn chay, cũng chẳng phải do ở tu viện, ở chùa. Ở bất cứ đâu cũng được tự do thoải mái không lệ thuộc giáo môn./- 54. Đại Nguyện Xây Dựng Chúng Sanh Của Bồ Tát “Bồ Tát Phổ Hiền nguyện: Giúp đỡ các Bậc tu hành về Tinh Tấn nguyện. Văn Thù Sư Lợi Pháp Vương Tử nguyện: Giúp đỡ về Trí Tuệ nguyện. Thế Chí nguyện Tổng Trì Trí Hóa nguyện. Quán thế Âm nguyện Cứu Khổ Giải Ách nguyện. Còn tất cả chư Bồ Tát nguyện tận độ chúng sanh giai thành Phật Đạo nguyện. Khi bấy giờ Đông Độ phóng huỳnh huỳnh quang, bạch bạch quang nguyện cứu độ chúng sanh Trực Giác nguyện. Tây Độ A Di Đà Vãng Sanh Cực Lạc Quốc Độ nguyện. Tất cả Chư Thiên, Chư Tiên Thần Rồng Người chưa hề hay biết, làm sao các Bâc tu hành trong Tứ Chúng hiểu thấu sự việc Chư Phật đã làm, Chư Bồ Tát nguyện giúp đỡ chúng sanh thay lần bản chất, kiến tạo công năng.” –T.V. Tất cả những Bậc tu cầu giải thoát, buổi ban đầu phải bước qua Độ Khổ Ách nên thường được Quán Thế Âm Bồ Tát giúp đỡ. Bậc tu giải khổ nơi thân tâm chính là Hạnh Quán Thế Âm Bồ Tát. Lúc làm biếng tự ý thức vùng lên tinh tấn lướt qua vạn pháp chính là Hạnh Phổ Hiền nơi thân mạng đã đồng hợp. Có ứng đúng liền hiện. Lúc kiểm soi toàn thân tâm không còn chủng tánh chúng sanh là Bồ Tát Tánh hiện, Trí Huệ phát sanh nhạy bén Trực Giác thấu đáo là hạnh Đại Thế Chí. Lúc thuyết pháp chính mình nghe trước nhận định không còn trí hóa, trí sanh là Văn Thù Sư Lợi Pháp Vương Tử nguyện. Sự cứu độ của Chư Phật, Chư vị Thiên Tiên chưa bao giờ hay biết vì Chư Phật hiện Nhất thiết Sắc thân Tam Muội. Bậc chưa sở đắc Tam Muội không biết nổi nên Bậc tu còn tâm tánh chúng sanh không hề hay biết sự tận độ của Chư Phật thật là đúng. “Xây dựng công năng và bản chất, Diện Mục nơi nó trực thuộc về chúng sanh Tứ Loài phải vươn mình xây dựng đối với Chư Phật, Chư Bồ Tát không thể xây dựng cho chúng sanh đặng, nên chi các Bậc tu hành dù cho tín tâm chưa chịu vươn mình lướt qua vạn pháp hoàn cảnh, chưa tự chính mình hóa giải mê lầm, nằm yên cầu vái thảy đều chưa đặng lấy một ngày tu.” –T.V. Hàng Bồ Tát tu Bát Nhã Trí tổng trì Trí Hóa nguyện thấu đạt Giác Trí về Như Trí nên tứ thời đều niệm niệm hóa giải vạn pháp. “Phật dạy Bồ Tát lìa Bản Ngã, không trụ mà trụ. Trụ mà không trụ, đó chính là ra vào hoàn cảnh tâm không quái ngại thọ pháp Đại Bi Tổng Trì bản chất. Nên chi có câu: Bồ Tát Vô Ngã nhiếp thâu về Đại Ngã Bát Đại. Còn chúng sanh hữu Ngã lầm mê." –T.V. Không trụ mà trụ có nghĩa không chấp pháp nhưng biết sạch pháp. Tỷ như gặp chúng sanh mưu sĩ tôi không hành mưu sĩ nhưng tôi phải biết thấu đáo chủng tánh mưu sĩ tác hại như thế nào. Khi gặp họ tôi luôn biết cảnh giác nhưng không hiệp. Trụ mà không trụ: Có nghĩa đang hành pháp giới soi biết tỏ tường nhưng đừng áp dụng không đúng lúc. Tỷ như khi còn Ngài khai dạy nghe thích quá đụng ai cũng giảng lại y theo lời Ngài làm cho Bậc không có bệnh học thêm nuốt vào sanh thêm bệnh. Sự khai thị của Ngài dạy cho hàng Bồ Tát phải không y Kinh mà không ly Kinh, áp dụng vạn pháp trong Tam Tạng Kinh Phật phải tỏ tường không trụ mà trụ, trụ mà không trụ. “Bồ Tát thường đặt địa vị mình, cương vị mình hay thân mạng mình trong hoàn cảnh của chúng sanh, soi rõ, hiểu rõ, đồng biết rõ, để hóa giải cứu giúp chúng sanh không phân biệt lành dữ, tốt xấu, tịnh bất tịnh, làm cho chúng sanh được lợi, Bồ Tát không hổ thẹn vui mừng vì chúng sanh mà Bồ Tát gánh chịu, do đó nên chi Bồ Tát ra vào nhiều kiếp thọ lãnh pháp độ, nhiều tận độ chúng sanh mà Bồ Tát không có tội, chỉ có phước điền quá ư to lớn khó mà ai sánh kịp, mới gọi là Bồ Tát cúng dường Như Lai, làm cho Như Lai tán thán Bồ Tát, nên Bồ Tát sở đắc Hiện Nhứt Thiết Sắc Thân Tam Muội.” –T.V. Muốn thấu đạt chủng tánh Bồ Tát hàng Tôân Giả, Thánh Hiền năng thực hiện Vô Úy Thí để cúng dường Như Lai. Bồ Tát không quái ngại lành dữ, tốt xấu, tịnh bất tịnh làm cho chúng sanh thấy được cốt tận độ được chúng sanh tánh. Tâm được rỗng rang sở đắc tự tại. Có tự tại mới Tịnh Bất Tịnh, Hiện Nhứt Thiết Sắc Thân Tam Muội. Kinh nghiệm cho biết phải hy sinh thật sự để tận độ chúng sanh tánh được Như Lai Phật khai mở ấn. Rất ít Bậc hành tự tại lại được sở đắc tự tại, chỉ thực hiện tự tại theo sở thích cá nhân. Có tu trong Long Hoa hội gặp Đức Vô Thượng Tôn Di Lạc được thấu đáo pháp tự tại này. “Tại sao con đường Duy Nhất Phật Thừa dễ nghe khó làm, hoặc giả dễ làm mà khó nghe? Vì công năng chưa đầy đủ theo từng lớp tu chứng nên chi dễ nghe mà khó làm. Bằng chưa thấu tầm quan trọng Chánh Báo, Thọ Báo trong Vô Lượng Nghĩa nên dễ làm theo dục vọng mà khó nghe lời Phật dạy.” –T.V. Con đường Đại Thừa là hỷ xả, sửa, hóa giải chúng sanh tánh. Con đường Nhất Thừa gọi là Phật Thừa hoá giải sạch chúng sanh tánh, vận chuyển pháp cho đến thấu đạt nên nghe mau hiểu còn thực hiện chưa tròn, chưa kín, chi tiết chưa sạch Tướng Pháp như Chư Phật gọi là khó làm. Dễ làm mà khó nghe tức làm theo ý muốn chưa trơn liền như Chư Phật còn nằm trong nghiệp kiết sử nên nghe hiểu chưa tận, tự chủ chưa có làm đúng hoàn toàn như Chư Phật gọi là dễ làm mà khó nghe. Hàng Bồ Tát lại nhìn nhận vạn pháp thuận nghịch, sướng khổ, bất luận hoàn cảnh nào chăng vẫn an nhiên không thấy hoàn cảnh. Vì sao? “Vì Bồ Tát thâu nhận lấy Giác Tướng, tỏ pháp thành thử thoát sanh tâm không chướng ngại hoàn cảnh mà tự nguyện độ vạn pháp thuận nghịch đến chốn an lành, thâu nhận tỏ ngộ thôi. Về chủng tánh Phật không thấy chúng sanh, không thấy Bồ Tát, chỉ thấy tất cả thảy đều Đại Diện Như Lai Ứng hiện Như Lai, phẩm cúng dường Như Lai, bình đẳng Chư Phật. Do đó nên chi Chư Phật đối với chúng sanh quá gần, quá bình đẳng, quá an nhiên, quá thân cận, không thể nào dạy chúng sanh, không thể nào độ chúng sanh, duy chỉ có hàng Bồ Tát mới độ chúng sanh mà thôi.” –T.V. Hàng Bồ Tát tu đến Giác Tướng vạn pháp mỗi mỗi đều Trực Giác thấy vạn pháp thuận nghịch, nghe thấy biết không lầm. Nhiều Bậc nói pháp rất hay nhưng pháp trước mặt không Tri Kiến được. Chủng tánh Phật Tánh chính là chủng tánh Như Lai. Bổn lai mỗi chủng tánh vốn nó như vậy, cần tỏ thấu mỗi chủng của nó mới dụng đúng thể tánh phẩm lượng, cùng trọng lượng mới hưởng Chân Lý. Chủng tánh Phật suốt suốt phân minh còn chủng tánh chúng sanh vọ vạy nên hai chủng tánh xa cách nhau hàng triệu do tuần không thấy nhau. Chủng Tánh Bồ Tát hướng thượng còn đang trên đường tận độ, đang tu tập pháp quân minh đến viên dung. Do đó, Chủng Tánh Phật đều có hàm chứa chủng Tánh Chúng Sanh nhưng không thấy chủng Tánh Chúng Sanh. Vì nếu còn thấy chủng Tánh Chúng Sanh, Chủng Tánh Bồ Tát là không phải Chủng Tánh Phật, chỉ thấy khắp đâu đâu cũng Như Lai Tánh hiện. Phật với chúng sanh rất xa nhưng cũng rất gần. Xa vì chúng sanh bị nhiễm chẳng biết Phật. Còn Chư Phật từ chúng sanh tu thành nên biết tường tận chúng sanh. Biết từng lớp lớp không thiếu sót chủng nào có Bổn lai, có tác dụng của nó quá bình đẳng, nếu đem sử dụng phải bất bình đẳng từng lớp lớp. Quá an nhiên vì từ trong chúng sanh, biết rõ không lầm chúng sanh. Quá thân cận vì không chúng sanh làm cơ bản đâu có gì tu thành Phật. Không thể độ chúng sanh vì chúng sanh là chúng sanh, Phật là Phật đâu có lẫn lộn được nên không độ được. Chỉ tự chúng sanh đủ công đức,đủ hồi hướng có khả năng trực giác được thay đổi bản chất của Thánh, đến Bồ Tát mới đến Phật. Khi có Phật tánh mới hay chúng sanh là chúng sanh. Phật là Phật quá ư xa mà gần, gần mà xa. Thật tuyệt mỹ chỉ Chư Bồ Tát còn đang tu mới tự tại độ chúng sanh thôi. Do hai chủng tánh Chúng Sanh và Phật có cách biệt nhau quá xa nên Phật ra đời chúng sanh không gặp được. Chỉ Bồ Tát trên đường Hạnh nguyện, Hành nguyện mới độ chúng sanh thôi. Giả sử có gặp đặng Phật cũng không nghe được lời Phật. Chỉ Bậc tâm chí hướng thượng như Bồ Tát, tâm chí lìa Ngã sống trong biển Như Lai chứ không sống trong Phật Pháp dù chưa phải Bồ Tát vẫn được gặp. Hầu hết chúng sanh chỉ gặp Phật qua hình tranh, tượng cốt gỗ, xi măng... chiêm ngưỡng tin cầu thôi. Chỉ Bậc Giác Tướng nghe khẽ cũng nhận ra Phật thị hiện bằng thân tứ đại như chúng sanh mà khác chúng sanh. Tuyệt mỹ thay Mê với Ngộ, Phật và Chúng Sanh. “Tinh tấn là một pháp môn toàn diện cho ba căn, từ hàng Tiểu Căn, Đại Căn đến Tối Thượng Căn thảy đều do Công Đức Phẩm thành tựu công năng mới đến Tinh Tấn Lực. Tinh Tấn Lực nương vào Phổ Hiền Hạnh, những vị Đại Bồ Tát đã từng tu, nhờ Tinh Tấn mới viên thông chủng tánh của Tứ Thánh mới vi tế từng sát na vận chuyển luân hồi sanh diệt, diệt sanh pháp giới, do thế mà lầm mê trở thành chúng sanh giới. Đại Bồ Tát và Chư Phật chỉ hơn nhau tận cùng chưa tận tận mà thôi.” –T.V. Tinh Tấn Lực, Hàng Đại Bồ Tát sau khi đã dụng được quân minh vạn pháp, pháp nào cũng nằm trong phẩm vô sanh nên không còn làm biếng. Đã không làm biếng đâu cần phải làm siêng. Làm siêng trường hợp này vẫn còn bệnh Y Kinh Bất Liễu Nghĩa. Hàng Nhứt Thừa không làm biếng cũng chẳng làm siêng mới tỏ thấu vi tế vận chuyển sự luân hồi sanh diệt, diệt sanh vạn pháp. Đã không diệt cũng không sanh chính vô sanh. Hàng Đại Bồ Tát thấu đạt vi tế pháp giới, Chư Phật tận thấu vi tế pháp giới. “Pháp môn Tinh Tấn khởi điểm từ thuở ban đầu nơi Thành Thật Tâm cùng Thiết Tha Tâm, mang lại cho các Bậc tu hành đương thời phát Bồ Đề Tâm cầu Đạo, những Bậc này thường qua hệ thống mến Đạo, say Đạo mà tỏ Đạo, Bất Thối Bồ Đề đến Bất Thối Bồ Tát tu Đại Bồ Tát. Những Bậc thiếu Tinh Tấn khó thành tựu. Tinh Tấn kèm theo Nhẫn Nhục mới có Trí Tuệ căn bản soi sáng dung thông cùng khắp Thiền Định gọi là Định Tuệ.” –T.V. Những Bậc tu pháp môn Giác Ngộ đều phải mến Đạo đến say Đạo mới tỏ Đạo. Bậc không say Đạo tu thờ ơ, không thích tự tánh đào sâu các pháp không Giác Ngộ. Trong kỳ Hạ Lai này Đức Long Hoa Tăng Chủ Di Lặc Tôn Phật thường nhắc nhở những Chân Tử Thành Thật Tâm cần say Đạo. Có vậy mới Tín Hạnh Nguyện lời Ngài mà thi hành không thối chuyển pháp nghịch, pháp chướng đối. Có động mới quyết tâm tinh tấn hóa giải thông suốt được Bất Thối Bồ Đề, Bất Thối Bồ Tát là đường đi của Đại Bồ Tát. Bậc tu Bất Thối Bồ Đề đến Bất Thối Bồ Tát rất hiếm. Phải có căn cơ sâu dày: Chống đỡ, tháo gỡ tỷ mỷ vạn pháp thuận nghịch thật sâu không thiếu sót mới đúng tinh thần Bồ Tát được. Bậc tu tinh tấn kèm nhẫn nhục trơn liền sáng soi vạn pháp thấu đạt Bổn Lai không còn lầm được gọi là Chánh Định. Có Chánh Định liền có Tuệ viên thông nên việc gì hóa pháp cũng được vô sanh rốt ráo. Pháp môn của Chư Phật, Bồ Tát phụng hành thật tỷ mỷ, thật kín khi hóa giải, vận chuyển pháp, chứ không đơn sơ, không tổng quát một mặt như hàng Đại Thừa tu chứng. Càng lên cao càng thận trọng pháp môn của Chư Phật là: Tứ Nhiếp Pháp, Lục Ba La Mật, Bi Chí Dũng, Tín Hạnh Nguyện, Giới Định Tuệ. Chư Bồ Tát lấy đó làm hành trang cho đến khi thấu đạt Giác Trí đến Như Trí, khai hoang trực chỉ lời chỉ dạy của Chư Phật. “Hàng Bồ Tát chẳng còn tánh tự mãn, tự ái, tự tôn, tự ý, tự lợi cùng tự sanh. Vì sao? Vì tự mãn, tự ái, tự tôn, tự ý đều là pháp hư vọng nó thường sanh hay diệt, thường cấu hay tịnh, chưa hẳn thuộc về thể tánh Chơn Như của vạn pháp. Lại nữa, tự mãn, tự ái, tự tôn đến tự ý liền tự sanh Tăng Thượng sai lạc với con đường giải thoát. Bồ Tát thật tỏ rõ những tánh kia còn dung túng, còn tập nhiễm, còn cô đọng gìn giữ nó, dù cho thuyết pháp thuyết minh lời lẽ in tuồng như Phật chăng vẫn là lời Ma thuyết.” –T.V. Từ chúng sanh bước qua chủng tánh Bồ Tát thật là khó. Vì chúng sanh đang thọ chủng nghiệp nơi chúng sanh tánh phải phát tâm tự nguyện bước qua mới có năng lực nhận được Bảo pháp. Lý hiểu biết Phật thì dễ mà giải quyết sanh tử thực hiện Chánh Giác khó khăn vô cùng. Hàng Bồ Tát rất thận trọng xem xét nhiều Bậc tu khi chủng tánh chúng sanh chưa sạch, còn tự tôn, tự ý, tự mãn, tự sanh đều là pháp sanh diệt dù có thuyết pháp hay như Phật cũng là Ma thuyết không phải tu chứng. Hàng Bồ Tát, Bồ Tát Ma Ha Tát khi chứng xong Chánh Giác cũng không thấy chứng, cũng không tu, lìa Chánh Giác vào Chánh Định lìa Chánh Định nên hiện Nhứt Thiết Sắc Thân Tam Muội tận độ chúng sanh không thể nghĩ bàn. “Hàng Bồ Tát khai trừ chủng tánh bỏn sẻn, thù hận, ganh tỵ và vặc mắc những tánh nầy không bao giờ trưởng thành Phật Đạo. Vì sao? Vì bỏn sẻn sanh nở thù hận ương hèn là nơi chốn trú ẩn của chủng tánh chúng sanh an dưỡng nơi Ngạ qủy, Súc sanh cùng Địa ngục. Lại nữa chủng tánh Bồ Tát chủ yếu nhiếp thu pháp giới cốt tường tận. Từ chủng tánh chúng sanh tánh của mỗi nơi, mỗi chỗ thọ nghiệp, tất cả vũ trụ Tam Thiên có hằng hà sa số khởi sanh. Từ nơi sanh ấy thọ chủng phát hiện cảnh giới, các cõi gọi là Thượng Sanh Hạ Kiếp không ngừng. Bồ Tát kiểm chứng nơi thân tâm, nơi ngưỡng vọng Bồ Tát mới hay kẻ lười trễ là kẻ vặc mắc đứng thứ nhất, vặc mắc, lười trễ mới phát sanh nghi ngờ, nghi ngờ tự sanh ra muôn nghìn pháp giới, vô tận pháp giới là một nơi sanh diệt không ngừng.” –T.V. Lắm Bậc tu lâu, thường vấp phải thọ chủng chúng sanh tánh vi tế nặng, sâu thâm. Dù tu đến mức nào, chưa sạch vẫn còn nằm nơi chúng sanh thành Phật. Phật với pháp giới chúng sanh đó thôi. Phật Đạo chủ yếu cứu chúng sanh giải nghiệp thoát sanh tử. Hàng Bồ Tát phải sạch nghiệp kiết sử là cần nhất. Nó vi tế khó thấy, lại quá ư tinh vi. Bậc tu tâm rỗng rang không thấy nó, phải công dụng công thức Diệu Quan Sát Trí mới thấu đáo nó. “Do đó nên chi hàng Bồ Tát phát nguyện Tinh Tấn, phát nguyện Đại Nguyện Bi Chí Dũng lướt qua từng pháp giới hóa giải nghi chấp. Bồ Tát thật tỏ rõ nơi nghi chấp này, chưa hóa giải chủng tánh chúng sanh, còn cặn bã nào mang lấy nghiệp quả của chủng tánh ấy. Cũng như chén Ngọc Bích không bao giờ chứa đựng món ăn nhơ nhớp, hàng Bồ Tát nhiếp thu suốt thông vạn nẻo, lại còn phải phẩm chất hôi tanh, do cớ sự trên nên chi Bồ Tát hóa giải gạn trừ sạch sẽ chủng tánh chúng sanh thật thụ vào hàng Bất Thối Bồ Tát mà tu đạt.” –T.V. Hàng Bồ Tát nhiếp thâu suốt thông vạn nẻo: nghe thấy đơn sơ nhưng thực hành khó vì còn một pháp giới chưa hóa giải suốt thông là còn mang lấy nghiệp quả của chủng tánh ấy. Do vậy rất nhiều Bậc xưng Phật bị trở thành Phật Giới. Cứ có 100 Bậc sở đắc Chân Lý Vô Thượng là có 99 vị vào thọ Phật Giới. Đã vào thọ Phật Giới do căn nghiệp, nghiệp thức, nghiệp chướng, nghiệp lậu, nghiệp trần, nghiệp kiết sử rất khó vô kể để thoát sinh. Bậc chưa sở đắc dung thông đến viên dung, ra vào vạn pháp chưa thấu đạt quân minh Lý và Sự chưa tương song vẫn còn bị tự ý thành thử còn Tự Lợi. Đã thọ giới, các thứ nghiệp trên ngăn che khó nhận được sự thị hiện của Phật. Thực tế nó như vậy, còn lắm Bậc đã gặp đuợc lại thiếu Tin Vâng Kính cũng không sở đắc. “Bồ Tát nhìn nhận tại sao các hàng tu chưa đến, chưa có một lý sự chứng minh, phải đi vòng với chúng sanh tánh mà thọ nghiệp. Do nơi chưa sạch sẽ, nên lý sự bất tương song chỉ tu nơi ngưỡng vọng đến mà chẳng đến. Còn hàng Bồ Tát không tu cầu đến mà đến, vì Bồ Tát tu sửa tận gốc nên tất cả vạn pháp hồi tôn không còn mới sạch sẽ. Bồ Tát biết rõ căn nguyên của chúng sanh chủng tánh vướng phải lỗi lầm mà thọ nghiệp mang pháp giới thụ sanh còn cuộc sống hằng ngày do diễn cảnh, bối cảnh, nghịch cảnh, mãi lăn lóc nơi bối cảnh diễn cảnh chưa bao giờ đặng an nhàn như Bồ Tát.” –T.V. Lý Sự chưa tương song có nghiã Đức Trí chưa tương song, Bậc tu phải chờ đến một thời điểm nào hoặc kiếp nào sung mãn Công Năng Công Đức gặp được Bồ Tát Nhất Sanh Bổ Xứ đang hành nguyện chờ thành Phật chứng minh cho vị này mới chính thức là Bồ Tát được cũng như một Bậc giỏi ngang với bác sỹ cũng phải chờ qua một kỳ thi quốc gia mở khi thi đậu được cấp bằng và phải được bổ nhiệm mới có thật quyền. Đương thời Đức Di Lạc bảo: chưa được vị Phật chứng minh Bồ Tát có giỏi cũng không được Phật Lực ban cho. Đời cũng như Đạo tuy hai mà một. Tuy một mà là hai vậy. Hàng Bồ Tát tu sửa tận gốc có nghĩa tu sửa từng vi tế chủng nghiệp nơi thân mạng mình. Chỉ một đơn vị nhỏ nhất cũng tỏ rõ đến sở chứng vô lượng. Chỉ một diện tích cực nhỏ cũng không bỏ qua thấu đạt vô biên. Đó là Bồ Tát tu sửa tận gốc từng vi tế nên mới Hồi Tâm. Trước đó nó cũng chính là pháp giới khởi sanh, khởi diệt, cấu tịnh, tăng giảm tạo thành vòng đai luân hồi sanh tử. “Hàng Bồ Tát thật tỏ rõ. Từ nơi tánh trí suy nghĩ nơi chủng tánh, do nơi tư tưởng phát huy hồi tưởng, tư tưởng làm chủ động của suy tưởng, trưởng thành Quán Tưởng đến Định Tưởng, mới phát hiện hành động cho nên mới gọi là: Tư tưởng làm mẹ đẻ hành động. Hành động này nó trực thuộc trình độ giai cấp của mỗi chúng sanh có mỗi hành động. Chủ đích nơi nó xuất phát tánh tình cũng là Tánh Trí hành động, không ngoài đồng hợp hóa giữa chúng sanh với nhau, hay bất hợp hóa mà có diễn cảnh thuận nghịch là hai con đường chúng sanh phải chịu lấy. Bồ Tát thật tỏ, còn rõ hơn thế nữa nên chứng thị Vô Sanh. Thân khẩu ý liền lạc không sai lệch, nhờ như thế mới có uy nghi, uy thế của Bồ Tát. Bồ Tát liền tuyên thuyết: Nhất Ngôn Tri Kiến Phật làm cho tất cả nương nơi Bồ Tát, đó chính là con đường Bồ Tát độ chúng sanh.” –T.V. Hàng Bồ Tát biết tỏ rõ tư tưởng làm chủ động của suy nghĩ nên nương theo suy nghĩ mà thi hành được sở đắc Vô Sanh. Nếu suy nghĩ mà không làm là Sanh Pháp. Bồ Tát thân khẩu ý là một không còn hai tướng được liền lạc, chỉ cần một lời, liền thấy biết không lầm gọi là Nhất Ngôn Phật Tri Kiến. Đuợc Tương Thông Phật Lực, khó nghĩ bàn, nơi Bồ Tát đã liền lạc Nhất Tướng vào Nhất Tâm Đảnh Lễ Chư Phật. “Khi Bồ Tát viên dung nương nhờ nơi tu trì Chủ Quán, Bồ Tát thường quán thế, pháp môn quán thế của Quán Thế Âm Như Lai Phật là con đường tự tại của Bồ Tát, con đường này nhiếp thâu đầy đủ Tịnh Bất Tịnh thảy đều hiện thân cứu độ. Bồ Tát thường đứng trong diễn cảnh Bối Cảnh của chúng sanh mà cứu độ, do đó nên chi Bồ Tát mới viên dung nghe thấy biết tận tận, được gọi là: Hiện Nhất Thiết Sắc Thân Tam Muội.” –T.V. Sau khi Bậc tu độ khổ được chúng sanh tánh nơi thân mạng, được chứng tri Bồ Tát, được Chư Phật ban hành chứng minh công nhận Bồ Tát. Lúc bấy giờ Bồ Tát tu pháp Quán Thế Âm Như Lai Phật. Nương nhờ nghe thấy biết nơi Như Lai Phật đặng vào sâu biển cả tỏ rõ sạch sẽ liền lạc Bát Nhã. “Hiện Nhất Thiết Sắc Thân Bồ Tát đã từng lìa Ngã cùng Ngã Sở không còn tự mãn, tự ý, tự lợi. Bồ Tát quân minh tha lợi, do đó nên chi tỏ rõ Thực Tướng Vô Tướng Tam Muội Pháp Môn làm chủ trì thực vô, vô thực, chứng tri Bát Nhã. Gọi là Bồ Tát Ma Ha Tát không còn tập khởi, tập nhiễm trần lao, vì đã trải qua chủng tánh chúng sanh tánh cùng Bồ Tát tánh thực chứng.” –T.V. Sở đắc Thực Tướng Vô Tướng Tam Muội Pháp Môn là Bậc độc nhất nhưng phải còn thi hành hàng vạn pháp thần thông Tam Muội mới thực chứng lìa có lấy không tận tận không không đến nơi Giác Tướng Phật Tướng mới gọi là Bồ Tát Ma Ha Tát. Khi đã vào Tam Muội tận thấu không sanh, không diệt liền dứt tập khởi, tập nhiễm trần lao. Lúc bấy giờ thấy rõ, biết rõ chúng sanh lầm lạc bị ở pháp giới các cõi cùng các cảnh giới trong Tam Thiên Đại Thiên Thế Giới. “Bậc Ma Ha Tát nhìn nhận, trước kia chúng sanh trí tuệ thuộc về viên dung Như Lai Trí. Như Lai thời không thể chỉ, còn viên dung Như Lai làm như thế nào để biện minh. Nhưng tập cẩm nang này cốt lưu cho tất cả các Bậc tu hành để nhận chân thật hiện vào con đường giải quyết tử sanh thành thử phải diễn giải trên.” –T.V. Chúng sanh vốn thuộc trí tuệ viên dung của Như Lai, nhưng khi chúng sanh thọ chấp củng cố một chủng tánh thì chúng sanh vương vào Tạng Thức. Tạng Thức này cũng chính là hạt giống Như Lai nó trực thuộc Như Lai Tạng. Chúng sanh củng cố Tạng mình mà gìn giữ theo lý trí. Tốt xấu, đúng sai. Chung qui Như Lai thời không thể chỉ cố định được vì Như Lai vốn thể tánh như vậy. Chỉ hàng Bồ Tát Ma Ha Tát đã Giác Tướng sâu mới thấu đạt đuợc viên dung Như Lai, mới giải quyết được sanh tử, tử sanh. Mỗi chúng sanh nhận lấy một Tạng Thức khác biệt bất đồng do chủng tánh thọ khác nhau sanh ra lầm lạc chạy theo sanh tử do đó không thể dùng văn tự để giải quyết nghiệp thức, nghiệp căn của chúng sanh, duy nhất chỉ Bậc tu vừa hiểu biết vừa thực hành gọi là Hành Thâm Pháp Giới mới nhận được viên dung nơi Như Lai hết lầm lạc. “Bồ Tát Ma Ha Tát. Trước tiên phải là Bậc tu đạt Bát Nhã Trí, khi Bát Nhã Trí viên thông ra vào viên giác mới chứng tri Ma ha Tát. Bậc tu cần phải đi vào con đuờng Tứ Nhiếp Pháp cùng Lục Ba La Mật Đa thành tựu Bát Nhã Trí, đoạn trên đã nói: Chớ nên dùng Không lìa Trí mà an trụ xứ rất tai hại đường tu, sai với tinh thần giải thoát.” –T.V. Bậc tu nghe quá nhiều nơi câu Tứ Nhiếp Pháp, Lục Ba La Mật Đa. Nhưng đối với con đường Bồ Tát Ma Ha Tát tu hành không rời Tứ Nhiếp Pháp, Lục Ba La Mật Đa vì nó là môn sở trường của Chư Phật. Càng lên cao chừng nào Tứ Nhiếp Pháp, Lục Ba La Mật Đa càng phải thấu hiểu chi ly sát với thực tại không còn tu tổng quát nữa. Nương nhờ Bát Nhã Trí trực giác thọ chủng vi tế nơi Tâm Thức mới thấu đáo Bát Nhã Trí. Hàng Bồ Tát Ma Ha Tát nghe một câu, một lời nói, một cử chỉ nhỏ nhặt cũng tỏ thấu nơi Không Tướng mà thấy chớ chẳng phải dụng Không phải bị an trụ Không rất tai hại đường tu, sai với tinh thần Tri Kiến Giải Thoát rốt ráo. “Ma Ha Tát đã giải quyết ba chỗ dụng. Chủng tánh chúng sanh tánh, Bồ Tát tánh, tu đạt đến tận tận vô minh, vô minh liền tận, chưa bao giờ hàng Bồ Tát tận diệt vô minh, thành thử trơn liền, không còn Phật chủng là Phật tánh nữa. Bồ Tát thành Phật độ sanh, trải qua xây dựng Quốc Độ sắc tướng bất biến thường an bất diệt vậy.” –T.V. Hàng Bồ Tát Ma Ha Tát đã giải quyết xong ba chỗ dụng của Chúng sanh tánh, Bồ Tát tánh, Phật Tánh. Một là nương theo pháp giới tỏ rõ thâm nhập pháp giới để giải giới. Hai là nương khởi sanh, khởi diệt cốt sở đắc Vô Sanh giải quyết sanh tử. Ba là vào vạn pháp tu hành tỏ pháp Đắc Đạo. Giải quyết ba chỗ dụng trơn liền Bồ Tát tu đạt đến tận tận vô minh, thấu đạt sạch sẽ vô minh nên không còn Phật chủng nào vướng động nữa Bồ Tát xây dựng Quốc Độ vào Bất Tử. “Hàng Ma Ha Tát rất thâm nhập lý chí của các lời Phật ngôn chỉ giáo hướng dẫn chúng sanh trên con đường giải thoát. Chư Phật dặn dò tất cả các Bậc tu hành chớ nên chấp trụ, lìa hẳn lý sự đảo điên mộng tưởng, phải tu cầu lãnh lấy sự tu cầu bằng pháp Vô Lậu, sẽ kết quả Vô Biên Xứ, Vô Định Xứ, tỏ Vô Tận Xứ rốt ráo giải thoát Niết Bàn hai cánh cửa Niết Bàn mà Chánh Giác cho nên Phật nói: Không đắc mà đắc. Không chứng mà chứng. Không đến mà đến. Không công đức mới gọi là công đức. Không thân mới gọi là thân. Những ấn chỉ Phật tôn này chỉ có hàng Ma Ha Tát, đã từng thấu.” –T.V. Lý Chí có nghĩa Chân Lý chí tình của Đức Bổn Sư. Hàng Ma Ha Tát rất thấu đạt Chân Lý mới chí tình hướng dẫn chúng sanh tu tập theo con đường Tri Kiến Giải Thoát. Công đức Hữu Lậu sung mãn mới Trực Giác công đức Vô Lậu, sẽ kết quả vô lượng vô biên rốt ráo giải thoát. Cho nên Chư Phật khai thị: Không công đức mới gọi là công đức, Không đến mà đến, Không Thân mới gọi là Thân. Đó là Tâm Ấn chỉ thẳng còn Trực chỉ hàng Ma Ha Tát đã thấu đáo nghe thấy biết viên dung, không còn một nghi chấp nào nữa, liền thấu đạt không công đức mà công đức. Không còn pháp thân mà vẫn pháp thân. Không thấy mình đắc mà đắc. Hàng Ma Ha Tát hành thâm pháp giới từ thế gian đến xuất thế gian đầy đủ mà biết được chúng sanh nó thọ nhiễm như thế nào, nó phải lãnh như thế đó: Sướng khổ, vui buồn, thanh thô, đẹp xấu. Nó làm nó hưởng chớ chẳng phải ai ban cho nó. Hành thâm pháp giới được đầy đủ hàng Ma Ha Tát đứng nơi sắc tướng đã tận thấu đạt hóa giải vận chuyển Tam Muội quân minh liền lạc suốt suốt tuyệt mỹ là giải thoát chớ chẳng có chi là giải thoát. Sắc tướng thân hình thuộc pháp giới cố định không bao giờ thay đổi mà nó đổi thay hết tất cả chủng tử từ nơi thân mạng nên còn gọi nó không khác mà khác. Hoàn cảnh khẳng định không bao giờ thoát khỏi nhưng nay đã có Phật Lực thị hiện hỗ trợ nên nó vẫn thoát sinh đến mức an lành ổn định. Bậc như vậy không khác mà khác. Hoàn cảnh bế tắc không thoát mà nó vẫn thoát hoàn cảnh, Bậc này biết từng chi tiết chủng tử phải bổ sung những khiếm khuyết đầy đủ. Những Bậc tu hoài mong nơi tu sửa thực tế trí tuệ, công năng yếu kém khó vượt qua vi tế tử sanh nên rất khó hiểu. Vì pháp của Bồ Tát đi sát vũ trụ, mắt thấy tai nghe chi tiết, còn từ A La Hán mới mở mắt thuộc hàng Đại Thừa cũng không tường tận được pháp của Nhất Thừa. Hiện nay trên quả địa cầu khoảng một phần tư Bậc tu theo đạo Phật nhưng rất hiếm Bậc tìm con đường giải thoát, còn nói giải thoát rốt ráo lại quá hiếm hoi Bậc phát tâm Đại Nguyện. Các nhà khoa học hãy để ý xem sắc tướng gốc của nó vốn từ Thành Trụ Hoại Không. Nó tùy hoàn cảnh đồng hợp đồng hoá chớ không bao giờ có diệt. Bậc siêu đẳng Chánh Giác nương nơi nó tỏ rõ chớ chẳng diệt gọi là nương nơi sanh tử giải quyết sanh tử Trực Giác Bất Diệt. Khoa học lấy vật chất biến chế phát minh được những điều mới lạ làm cho con người sống đầy đủ tiện nghi cùng các loại thuốc cứu con người nhưng con người nào cũng sống với thời gian giới hạn rồi cũng phải chịu chung số phận đã an bài hàng ngày hàng sát na sống trong niệm sanh tử./- 55. Do Lầm Nên Hữu Hoá “Bậc Đại Giác Chí Tôn, Ngài đã tường tận, cái MÊ không gốc mà trái lại có nguồn, vì chúng sanh Hữu Ngã mà gây ra, nên Ấn chỉ chúng sanh lìa Ngã, nương Vô Ngã tầm Đại Chơn, nương theo trăm sông lần về biển cả. Thiền Sư Ngài nói đến đây ra chìu suy gẫm liền tự thán: Khó khăn thay trên con đường vào Chánh Giác. Ta đã từng trải qua bao nỗi khúc eo vô cùng vô tận, nay đạt đến biển cả khó phân như thế nào cho tất cả đang vật vờ nơi cơn mơ chưa hồi tỉnh. Sức nơi Ta là sức Đại Dương, còn công năng chúng sanh khác nào bọt trôi theo cơn sóng gió.” –T.V. Cái mê nó không có gốc vì nếu mê có gốc thì chẳng bao giờ tu Giác Ngộ. Trái lại cái mê nó có nguồn. Vì sao? Vì duyên khởi sanh tâm đó là nguồn mê. Khi đã có TÂM SANH, Tâm nó liền có TÁNH đó là nguồn mê. Tánh ấy phải có THỨC đó là nguồn mê. Thức thì linh động di chuyển không ngừng, bởi Bậc tu hay kẻ chưa tu mong cho Thức ngừng an trụ mà trở thành Nghiệp. Đó chính là nguồn mê trong tứ thời lầm lẫn để thọ chấp làm chúng sanh giới. Bậc tu tỏ biết không thọ chấp, không an trụ sẽ được tu chứng từng cấp bậc cao thấp khác nhau rốt ráo hoặc chưa rốt ráo mà tỏ rõ được nguồn mê. Khi đã thấu đạt do nghiệp tạo nguồn Mê, phải hành thâm pháp giới cho đến thật chứng liền hết nguồn Mê. Thức đây là Thần Thức, Thần Thức là tư tưởng năng trụ chấp theo cái Ngã Sở của Ý Thức tạo thành Nghiệp. Do đó mà Bậc tu cần tìm phương thức giải nghiệp hay tìm Bậc thấu đạt Bồ Tát Đạo chỉ bày Giải Nghiệp mới tu. Nghiệp thì nhiều vô kể gọi là trăm sông, nó có đủ chiều hướng, đủ khía cạnh quá ư khôn khéo, quá ư tinh vi. Nhiều Bậc tu còn Nghiệp thức lại không biết Nghiệp thức là gì nó liền gạt nói mình ông nọ bà kia thật lầm độc hại truyền kiếp. Giải Nghiệp sạch sẽ được về Chân Tôn gọi là về biển cả. Khúc eo gọi là qua được hoàn cảnh khắc nghiệt, cứ giải bớt được Nghiệp bao nhiêu thì Trí Tuệ tăng trưởng thọ lãnh Bảo Pháp bấy nhiêu. Còn chúng sanh dụng công năng học từ chương, nghiên cứu mà không biết tu Giải Nghiệp cũng chẳng khác bọt nước trôi theo con sóng không đến đích Giác Ngộ được. Chịu đựng vượt qua vô số khúc eo gay cấn quá ư khó khăn gọi là sức Đại Dương thành Phật. Thấu đạt là Chư Bồ Tát. “Ngài tự thán xong, Thiền Sư đưa Chánh Niệm giao cảm Chư Phật mười phương rung chuyển Tam Thế Chư Phật đồng thọ ký lời huyết tâm Thiền Sư cảm ứng. Đâu đó xong xuôi Thiền Sư giải nói: Nầy các Bậc Cố Tri Vĩ Nhân Đại Chí, tu cầu con đường song tu Hiện Giác, những vị này chưa bao giờ được gặp nay gặp với Ta, bất cứ một nơi nào đáng kể, miễn nhận chân minh thuyết thực hành đó chính là cố tri nay gặp gỡ. Bằng gặp gỡ đương thời, sống chung một mái, bê trễ ương hèn dù cho đọc tụng chăng vẫn chưa nhìn đặng Ta một ít nào cả. Thật phí thay, thật uổng thay trong một đời chưa gây tạo.” –T.V. Bậc giải sạch nghiệp, một tư tưởng vừa khởi liền giao cảm mười phương Chư Phật. Đối với Bậc Chánh Giác như Đức Long Hoa Tăng Chủ Di Lặc Tôn Phật, một khởi là một Chánh Niệm liền rung chuyển Tam Thế cảm ứng cùng Chư Phật. Các Bậc Cố Tri Vĩ Nhân Đại Chí chính là các bậc Đại Bồ Tát đã từng thực hành, đã từng nương theo Thức di chuyển tức là Pháp di chuyển của Thần Thức. Bậc cao đạo Ý Thức có nghĩa là trụ vào Thức mà không thọ chấp. Đó chính là Bồ Tát Trụ mà Không Trụ. Có như vậy mới biết giải nguồn mê của Thức, Bậc sâu hơn như Đại Bồ Tát biết rốt ráo mạch lạc bổn lai của Thức tu đoạt thật sâu Tự Tánh Tỏ Tánh, chớ chẳng phải nương theo Thức mà an trụ thọ chấp nơi Thức. Nếu thọ chấp thì đương nhiên bị Chứng tu nơi mình chỉ tu đến đó mà thôi. Cần nương nơi Vô Ngã tìm Chân Ngã, đó là Bậc Cố Tri quá khứ nay gặp gỡ nơi Long Hoa nhận được lời minh thuyết thực hành. Nơi Long Hoa đã hội tề đầy đủ Chư Tổ, Chư Tổ của Tiên Thần trong thời Đức Bổn Sư Thích Ca Mâu Ni Phật, nay lai sinh tại Việt Nam, đa số cấp A La Hán, Thinh Văn, Duyên Giác đang bị khúc eo khó gỡ của Thức, nếu thực hành Ngài mở tiếp, còn chỉ đọc tụng sẽ bị đứng yên dừng trụ bị lầm nên hữu hóa. “Nầy các ông, các Bậc Cố Tri nay ta kể: Các vị cùng ta hãy nhìn nơi Hư Không Vô Tận, nhìn đến sơn hà sông núi đang chung sống cùng ta. Bản thân ta tìm phương Giác Ngộ, Tự Tánh nơi ta hóa giải chấp mê, diệt trừ Bản Ngã trên Lý Sự tu hành ta cùng các ông dẫm nát, nó mãi kéo dài, có từng vạn triệu kiếp người, kiếp Thiên Tiên hay thọ sanh vào các nơi cầm thú, thăng trầm làm quỉ làm ma không dứt. Do đó nên chi mới có Phật Thánh thường còn. Chúng sanh thường diễn, đến bao giờ chấm dứt giữa Phật với chúng sanh, tìm Ngộ bị Mê, ở nơi Mê thấy Ngộ. Lạ thay, đứng Thánh tự tăng, ở vào phàm sa đọa. Khó khăn thay tu Tịnh vướng Động tâm. Sửa sai lầm, sanh chứng tật.” –T.V. Ngài nói với Bậc Cố Tri cốt để tâm sự với Bậc quyết tu cầu Chánh Giác thuộc hàng Bồ Tát. Hãy nhìn nơi Hư Không vô tận là nhìn nơi vạn pháp diễn cảnh đến đâu cũng không chấp, không chướng tâm trong sáng tỏ rõ pháp cũng như nhìn nơi sông núi bao la hùng vĩ để tâm rộng rãi bao dung không nên lấy một pháp mà thọ chấp. Lý và Sự cần thực hành thường ngày mới dẫm nát pháp giới, nếu không tu hình thức nào vẫn bị kéo dài hàng triệu triệu kiếp. Nếu giỏi Lý mà không biết rõ tác hại của thọ chủng nghiệp xấu dù là ông gì vừa tắt hơi thở liền thọ báo làm loài trâu, bò, ngựa… quá ư tai hại. Còn độc địa bị hiện thân ma, qủy, quái là đúng đường của họ. Cho nên Phật và chúng sanh xa cách nghìn trùng. Chúng sanh tu Tịnh bị sa vào Tịnh Biệt vẫn là Động tâm trụ nơi KHÔNG tai hại. Còn sửa sai lầm mà không tỏ Bổn Lai Nghiệp Thức vẫn mang chứng tật Tự Ngã quá lớn cũng còn cấu tịnh chưa phân minh. Nếu Bậc tu chưa giải sạch Nghiệp mà cho mình là Thánh bị Tăng thượng còn nhận mình là phàm phu không nhận biết được đang thọ nghiệp bị sa đọa là lẽ đương nhiên. “Ngài nói: Tuyệt tác thay! Thiên nhiên sơn hà, cỏ cây, trời mây với Ta là một. Hợp hóa đồng thanh tương ứng hiện Giác. Thế mà con người ngỡ con người với cây cỏ núi sông là hai, thật sai lầm vô hạn. Đức A Đề Cổ Phật lúc bấy giờ Ngài có sẵn thể tánh đồng đẳng với sơn hà vũ trụ nên chi thường nhập Chánh Định kiểm chứng bao quản cùng khắp. Ngài nói: Mắt nhìn thấy hư không, ta đặt thân mình vào tận Hư Không. Ta không còn thấy Hư Không mà tận thấu Hư Không là Giác Tướng. Ta ra vào vạn pháp, Ta không nhiễm trước, Ta chưa thấy vạn pháp diễn hóa ra sao, mà ta nhận thấy vạn pháp như nhiên diễn hóa, đó là ta thị chứng như nhiên thể tánh vạn pháp.” –T.V. Một hôm, sau buổi vào Chánh Định Thiền Sư đã Trực Ngộ được những bí ẩn của vũ trụ. Viết về những điều này thấy nó đơn sơ nhưng xem xét kỹ thật thâm sâu, đầy vi diệu: Con người và tứ loài gồm Tứ Đại: Đất, Nước, Gió, Lửa kết hợp thành. Các loài thực vật, khoáng vật... cũng do Tứ Đại hợp hóa thành. √ Thực vật như cây cỏ... hàm chứa Tứ Đại. • Đất: Thân cây, cành, lá. • Nước: Bẻ cành hay vò lá thấy ướt. • Gió: Sự vận chuyển dưỡng chất chạy theo thân cành lá nuôi cây. • Lửa : nhiệt độ nóng lạnh của cây. √ Khoáng vật như đất đá... hàm chứa Tứ Đại. • Đất: chất đặc của tảng đá, viên đất. • Nước: khi nhúng vào nước nó ướt tức là có hàm chứa nước. • Gió: khi đập nó bể ra chứng tỏ nó có hàm chứa gió. • Lửa: khi ta đun nóng lên chứng tỏ nó hàm chứa lửa. Sơn hà đại địa thuộc vật chất hàm chứa tinh thần: nếu ta lấy khúc cây, cục đất, đá tạo thành ông Phật, Thánh, Thần... cúng lạy, cầu xin sau thời gian cũng có linh ứng. Như vậy sơn hà đại địa cũng hàm chứa tinh thần, tánh linh. Điều này linh ứng tùy tánh và lòng thành của bậc cầu xin. Do đó, dưới mắt Thiền Sư con người với sơn hà đại địa trời mây... tức vũ trụ là Một. Con ngưòi có Cái Biết sau khi đủ cơ quan hợp hóa hình thành. Thảo mộc cũng có Cái Biết nó nuôi cây lớn lên, biết ra hoa, lá, quả. Nó cũng có tuổi thọ cao thấp tùy loài. Con người tuổi thọ cũng 70 hay 80 đến 100 tuổi là một kiếp. Còn đất đá nó cũng có Cái Biết tùy môi trường, tùy nhiệt độ mà nó sinh ra các sinh vật côn trùng đủ chủng loại trên trái đất. Trong nước cũng sinh ra vô số loài cá, sinh vật. Trong không khí cũng sinh ra vô số vi khuẩn. Tuyệt mỹ thay, thiên nhiên sơn hà, cây cỏ trời mây với ta là Một, hợp hóa đồng chất kết nạp mà hiện tương ứng. Mắt nhìn thấy hư không có nghĩa nhìn thấy vạn pháp như nhiên diễn hóa chứ không phải do bàn tay ai tạo ra sơn hà đại địa. Ta hòa thân mình vào tận hư không có nghĩa ta đem hết thân tâm vào soi xét kỹ sự diễn hóa của sơn hà đại địa, cỏ cây, mây nước. Ta không còn thấy hư không mà tận thấu hư không. Có nghĩa tuy vào sơn hà đại địa biết như nhiên vạn pháp hợp hóa mà ta không thấy có ta, lại được tận thấu sự hợp hóa sinh ra vạn vật. Đó là Giác Tướng vạn pháp, bổn lai của mỗi mỗi do hợp như thế nào nó hóa như thế ấy. Đến thật tận biết thì ta cũng chẳng có ta. Ta với thiên nhiên sơn hà, cây cỏ, trời mây là một. Từ đó ta chứng thị thể tánh vạn pháp như nhiên diễn hóa. Sơn hà đại địa quả đất cỏ cây toàn diện như nhiên diễn hóa, sự diễn hóa này thuộc thể tánh như nhiên hóa, hồn nhiên tự hóa, nó hòa hợp với tất cả chúng sanh tứ loài cũng như nhiên diễn hóa không sai chạy./- 56. Tư Tưởng Đại Diện Linh Hồn “Do thế nào mà Tư Tưởng Đại Diện Linh Hồn. Vì tất cả nhân sinh tứ loài sống không ngoài tư tưởng. Tư tưởng là bá chủ hoàn cầu, cho đến Tam Thiên Đại Thiên thế giới chung khắp vũ trụ, nếu không nương theo tư tưởng thời không thể nào có cái sống. Tuy nhiên tư tưởng nó có sẵn sự lý vui buồn, sướng khổ, được mất, không thể nào mất hẳn tư tưởng làm nơi sống cho con người đặng.” –T.V. Nhân sinh tứ loài sống trong tư tưởng không lúc nào dừng, nguời tu chú ý mới thấy nó di chuyển linh động, không ai làm chủ nó mới bị nó dắt đi sanh tử. Tư tưởng do con người theo tập nhiễm mà thanh thô, rộng hẹp, thiện ác nên mới tiêu biểu cho sự tu chứng khác nhau như phàm nhân, trí thức qua Tiên Thần. Tư tưởng tạo ra vui buồn, sướng khổ chung khắp Tam Thiên Đại Thiên thế giới. Bậc tu Thiền thấy rõ tư tưởng di chuyển khắp mười phương qua từng lớp lớp cốt để tỏ ngộ. Nó cũng dễ dàng làm cho Bậc tu lầm tưởng mà thọ chấp, rồi tưởng mình thành ông nầy bà nọ. Rất nhiều trường hợp xảy ra bị lầm nhận không được gặp Bậc thật biết khai ngộ cho nên cứ lấy cái tưởng sống trong Loạn tưởng tu đến thành tựu liền bị An Trụ. “Nói đến dòng tư tưởng, thường tư tưởng là tư tưởng, còn linh hồn là linh hồn, chớ chẳng có thể nói tư tưởng là linh hồn đặng. Khi dòng tư tưởng phát huy có hệ thống, sáng suốt gọi nó là trí tuệ, chập chờn đen tối, lầm lẫn cho nó là ngu xuẩn thành thử mới có trình độ, chia ra giai cấp, cấp nào dùng tư tưởng theo giai cấp đó, trình độ đạo đức hay phi đạo đức thảy đều sử dụng, tuân hành tư tưởng của mình mà phát hiện, thật khó mang tư tưởng của giai cấp này sang trình độ kia mà sử dụng, chỉ trừ ra tâm chí bản năng của mỗi người, tự chính mình phải cấu tạo, huân tập một thời gian làm cho tư tưởng lành mạnh mới sử dụng được mà thôi, bằng cố ép giúp đỡ trong khuôn khổ nào chăng vẫn đều là kém phần kết quả như ý đặng. Vì sao? Vì mỗi một tư tưởng, nó có một bản chất độc lập nơi nó, duy chỉ có con người đang mang chỗ cố định tự giải tỏa là xong.” –T.V. Tư tưởng tạo nghiệp thức, ai là chúng sanh không sao thoát khỏi nó, nó là nguồn mê đưa nhân sinh tứ loài thọ chấp dừng trụ. Nếu Bậc tu hành Đạo hạnh vẫn bị chấp, nếu tu trí tuệ phá chấp vẫn bị chấp. Hai lối vẫn không thoát sinh được Nghiệp Thức. Nếu Tọa Thiền Xuất Định để an trụ nơi Thiền Định, vẫn không thoát khỏi Nghiệp Thức. Nhiều Bậc lầm nơi an trụ không biết làm sao phá vô minh. Thực tế khi Đức Long Hoa Tăng Chủ chỉ đạo hàng Tôn Giả, A La Hán, Tiên Thần đang hiện diện trong Long Hoa Hội Thượng, tất cả đều thấy, đều nhận định được tu phải giải nghiệp nhưng đến phần thực hành giải nghiệp ai ai cũng thấy khó khăn, quá ư khó khăn thoát sinh nơi hữu hoá của tư tưởng. Từ đó mới có tu chứng cao thấp khác nhau, mới có sự chứng minh, không chứng minh cho nhiều Bậc tu quanh Ngài. Vì sự hệ trọng và ích lợi của tư tưởng như thế nên Đức Long Hoa Tăng Chủ Di Lặc Tôn Phật căn dặn Đức Trí Tương Song. Tư tưởng có ý thức tạo được đạo đức là Pháp Định. Còn tư tưởng ở vị trí Thần Thức phát Huệ chính Pháp Thân. Gặp Ngài chỉ rành mạch như vậy nên khi bước từ Đại Thừa vào Nhất Thừa đa số hiểu nhưng không thực hành được. Do tư tưởng chứa nhóm tạo thành TÁNH. Cùng lắm là sửa Tánh nơi Đại Thừa chớ vào tư tưởng đi quan sát tỷ mỷ Long Mạch Pháp Thân thuộc Nhất Thừa đa số không theo kịp nên Ngài dừng cho họ. Một đời Phật nay lại một đời Phật ở thế kỷ này thật dài. Hàng Thánh Chúng hầu hết tỏ Đại Thừa còn thành tựu Phật Thừa thì còn xa, như vậy thử hỏi lấy lý trí nhận định làm sao tỏ tường được. Vì vậy khó mang tư tưởng an trụ của giai cấp này sang giai cấp khác được là như vậy. Do đó mà gặp Phật, bậc tu hàng Thánh Chúng không tự nguyện cao độ cũng không ép được dù lòng Đại Bi, Đại Chí, Đại Dũng của Chư Phật đã sẵn. “Phật đạo không công nhận Linh Hồn, chỉ chấp nhận tư tưởng lầm lạc, vọng khởi đảo điên, nếu tư tưởng trừ tưởng buông lung gọi là Loạn Tưởng. Từ nơi toàn diện lầm lạc, đảo điên không kiểm chứng tư tưởng của bản thân mình, mong cầu loạn tưởng trở thành nơi chân thật, chẳng bao giờ đến chân thật, thành thử mới có chỗ giả tạo. Nếu tư tưởng giả tạo thì sự việc phải thay đổi, đổi thay theo nhịp nhàng tư tưởng khẳng định, trở thành nơi mức sống tạm bợ của tứ loài nói chung, nhân sinh nói riêng từng cảnh giới đều sanh tử luân hồi thay đổi. Do Phật nói vạn pháp như huyễn hóa. Đời là một giấc mơ, phải tu cầu giải thoát nơi mơ vọng về với Chân Tôn chứng trụ.” –T.V. Chư Phật viên minh trùm khắp tư tưởng lầm lạc của Chúng Sanh. Chúng sanh lầm theo vọng tưởng làm tâm sống trong vọng tưởng cô động. Thật tuyệt diệu thay, Đấng Chí Tôn A Di Đà ban hành Vãng Sanh tư tưởng, làm cho chúng sanh từ nơi tư tưởng động vọng tối đen, trở thành sáng tưởng về Tịnh Độ. Đúng đường Tịnh Độ của Chư Phật cũng không phải dễ, đừng nên quan niệm tu Tịnh Độ dễ nhất, vì lầm cho là dễ dàng, bị tưởng không tỏ rõ đuợc vòng đai sanh tử nơi tư tưởng. Bậc tu trên con đường giải thoát phải nhận được tư tưởng nó có hàng hàng lớp lớp diễn mãi không ngừng, nhiều vô tận vô biên như cát sông Hằng, mỗi hạt cát là một khởi tư tưởng, một tư tưởng là một chủng tử khác nhau. Nếu Bậc tu an trụ quan niệm mình phải lãnh lấy một hạt cát mà hưởng. Đại Bồ Tát, Bồ Tát biết sử dụng từng chủng chủng làm pháp giới cơ bản tu hành nên nó biến thành hạt giống Như Lai vô cùng hữu dụng, thấu đạt được thì nó trực thuộc Đại Ngã kiến diện Như Lai phá tan lầm lạc đưa về Siêu Đẳng Chánh Giác. Do đó hàng Đại Bồ Tát rất thận trọng thệ nguyện Như Lai vô biên thề nguyện sự. Phật Pháp vô biên thề nguyện học. Còn Bậc tu phát nguyện cho có là chuyện khác vì câu này nghe thường quá! Vì lầm lạc nơi tư tưởng thành loạn tưởng, vọng tưởng nên chúng sanh phải bị sống giả tạm gọi là Vạn Pháp Như Huyễn trở thành đời là giấc mơ. Do đó Chư Phật mới khai ngộ con đường Giải Thoát Sanh Tử. Vậy Bậc tu sao lại không cầu Giải Thoát! Bất kể tôn giáo nào cũng cần Giải thoát sanh tử, có về cõi Trời hết kiếp cũng chết rồi lại bị sanh tử không vĩnh cửu thoải mái an lành đuợc. “Bản Ngã giả tưởng chính nó là Đại Diện Linh Hồn của chúng sanh Âm u theo giả tưởng mà phải lìa bỏ Chân Giác chưa về nơi Bát Đại. Bát Đại Linh Hồn bất biến thường còn vậy. Sự thừa nhận làm cho chúng sanh giai thành Phật đạo, nên chi Chư Phật mới khuyến khích Chư Vị Bồ Tát Hạnh-nguyện độ sanh, Hành-nguyện thâm nhập pháp giới cùng tu cầu Bát Nhã, đặng trọn lãnh thừa hưởng Bát Nhã Trí an vui Cực Lạc, khỏi vòng tư tưởng giả tưởng, làm chủ thân mạng, làm chủ vạn pháp, tường tận Chánh Giác.” –T.V. Bậc Siêu Đẳng Chánh Giác như Ngài đã tận từ chỉ đạo Bồ Tát nên chi Bậc này tận dụng ngôn ngữ thuyết giải theo Bậc tu sao cho phù hợp mà dìu dắt chúng sanh. Hàng Bồ Tát nương tư tưởng nhiếp thâu từng lớp lớp tư tưởng giả tưởng của chúng sanh lầm lạc sanh tử mà thấu đạt Bát Nhã Trí thoát khỏi vòng đai tư tưởng giả tưởng làm chủ thân mạng, làm chủ vạn pháp, thấu đạt Chánh Giác. Chừng đó mới tiếp tục hành nguyện hạnh nguyện thâm nhập cho đến khi tận thành Bát Đại Linh Hồn bất biến thường còn mới thành Phật. Khó khăn như vậy mà nhiều vị Phật giới lầm chấp cho mình đã thành Phật như thời Hạ Kiếp Ngài đã chứng kiến thật không sao kể và tính đếm cho hết được. “Khi Bồ Tát tận dụng Đạo Hạnh Không, cũng chưa đủ trên con đường tu cầu giải thoát vọng mơ. Đạo hạnh phải kèm theo Chí nguyện, mới gọi là Bồ Tát trọn vẹn Hạnh Nguyện. Bằng đạo Hạnh đứng yên, Đạo Hạnh gìn giữ củng cố thời trở thành tượng gỗ chồi khô, sống trong tư tưởng thọ Ngã rỗng không khoảng cách. Bồ Tát có chí nguyện chính là Bồ Tát Hạnh đã từng hướng thượng. Bồ Tát Hạnh chưa chí nguyện là hàng Bồ Tát giả danh củng cố tư tưởng, chưa bao giờ khai thác tư tưởng nơi mình để sáng soi chung khắp mà tự ngộ.” –T.V. Thường thường Bồ Tát Hạnh củng cố Đạo hạnh được tất cả ưa thích nên khi gặp pháp bất tịnh, gay cấn khó khăn phải qua khúc eo, Bậc này thường nản chí. Vì vậy cần phát Đại Nguyện bền chí để thấu đạt sâu con đường giải thoát rốt ráo. Có như vậy mới hạnh nguyện được trọn vẹn, thấu đạt từng lớp lớp chúng sanh, đuợc Tịnh Bất Tịnh dung thông với mục đích thề nguyện sự cúng dường Như Lai. Bồ Tát được sạch sẽ không còn tập nhiễm, được Vô Ngại Tự Tại, Đại Bi Tri Kiến Giải Thoát rốt ráo. Đại Bồ Tát được tự tại không còn mảy may ô nhiễm sự việc mình đang hành thâm pháp giới, duy nhất cầu sở đắc thấu suốt chung khắp dù cho hàng Nhị Thừa không chứng tri được Bồ Tát cũng hành sự, kiến sự đặng Tổng Trì Đà La Ni Tạng mà chung cùng Như Lai, nhập nơi Chánh Định Tam Muội đặng chờ đến dịp Chư Phật thọ ký thành PHẬT. Khi thâm nhập Pháp giới có bị nguyền rủa Bồ Tát vẫn hướng thượng vì đó là Bồ Tát Tánh rất cần thiết phải thực hiện. “Vì lầm mê chung khắp thọ Ngã nhận lãnh, mỗi một khía cạnh tư tưởng làm chốn an trụ trở thành chúng sanh giới hạn. Phần Đại Diện phải linh động dung thông từ Tịnh đến Bất Tịnh đâu đâu vốn thuyên diễn chẳng thiếu sót, cho nên tư tưởng mới làm chủ động Tam Thiên và Tam Thế Phật. Nơi Tam Thế Chư Phật đồng nương bổn nguyện, tận độ chúng sanh rốt ráo mà Chánh Giác. Do đó mới có Chư Phật thị hiện, chúng sanh gặp Phật. Nơi thị hiện này là cương vị Hiện Thể của Chư Phật. Còn Hàng Bồ Tát lai trần nương thể mà hiện thời đặc trách qui chế thể hiện. Chư Phật Hiện Thể có thẩm quyền độc lập, chứng minh vũ trụ. Bồ Tát thể hiện cứu độ chúng sanh chứng minh chúng sanh cấp bậc tu chứng. Vì vậy nên chi Chư Phật toàn chân toàn thiện Chánh Giác.” –T.V. Tư tưởng Đại Diện Linh Hồn nên vốn sẵn linh động lại dung thông, đâu đâu nó cũng có từ nơi Tịnh-Bất Tịnh, nó làm chủ Tam Thiên Đại Thiên Thế giới và cả Tam Thế Phật. Chư Phật luôn Đại Từ Đại Bi, lúc nào cũng đồng bổn nguyện tận độ chúng sanh đến Chánh Giác như các Ngài. Vì vậy Chư Phật nương chúng sanh làm chủ khai đạo mới thấy biết từng Bổn lai pháp mà hiện thân tận độ chúng sanh thành Phật. Còn Bồ Tát lai trần phải nương thể của Như Lai Phật đặc trách nhiệm vụ độ sanh theo đường lối Phật y Tôn chỉ không y Kinh cũng chẳng ly Kinh. Chư Phật làm chủ tất cả tư tưởng nên Chư Phật mới đủ quyền Phật Lực vô lượng vô biên, vô ngại, tư tại hiện đại phương tiện, đường lối an lạc cho chúng sanh. Như Đức Long Hoa Tăng Chủ Di Lạc Tôn Phật đã sắp đặt ổn định cho hai khối chung sống hòa bình. Dẹp nạn nguyên tử đe dọa nhân loại, chiến tranh hết đe dọa giữa hai khối làm nhân loại sống an ổn. Cuộc thế Ngài chứng minh an bài phân minh. Nói không hết muôn ngàn ý, chính cái thế hiện nay của Trung Quốc và Việt Nam là Ngài đã an bài đổi mới nó là giao điểm cho Đông Phương và Tây Phương. Đừng nên nghĩ mình đã làm ra, sáng tạo ra vì đối với chúng sanh lãnh đạo, Chư Phật dùng Tam Muội Định đem đến quân minh thật khó nghĩ bàn. Lời nói kín nhiệm này trăm ngàn chân thật. Nếu ai am tường Tam Muội chỉ một nhẹ khẽ đã phải biết sự thật đúng đắn. Nhìn đời Ngài đã ban hành Hịch Chứng Minh vũ trụ. Về Đạo Ngài lập lại tu có tôn ty trật tự theo y Tôn Chỉ Tam Thế Phật. Chư Bồ Tát, A La Hán được Chư Phật ban hành lệnh ấn ký, cứ theo thể của Chư Phật mà cứu độ chúng sanh. Bồ Tát không có làm gì ra khỏi quốc độ của Chư Phật được. Nhờ có hạnh nguyện mới tiến dần đến Phật Chánh Giác. Đạo Đời song toàn mới thành Phật Chánh Đẳng Chánh Giác. Khuyên ai xưng Phật hãy xem xét lại. “Tư tưởng không lầm, thì Tạng thức nào đâu có lạc? Không lầm lạc thì viên minh Như Lai Kiến Diện, Kiến Diện Như Lai đồng một. Làm như thế, tu như vậy vẫn chưa đủ bổ sung, hiện thể tướng Bát Đại Niết Bàn. Vì sao? Vì Bát Đại phải trải qua Đại Bát, nhiếp thu tám đại tậntận rốt ráo hoàn toàn Chánh Giác. Thế nào là tám Đại? 1. Địa Đại. 2. Thủy Đại. 3. Phong Đại. 4. Hỏa Đại. 5. Hư Không. 6. Tạng Thức. Trong 6 Đại này, Vũ Trụ chỉ có Tứ Đại: Đất Nước Gió Lửa. Ngoài Đất Nước Gió Lửa ra thì tứ loài có thêm hai Đại: Hư Không và Tạng Thức, thành thử tứ loài lai sanh làm chủ vũ trụ. Sự thừa hưởng của tứ loài nó không ngoài Chánh Báo và Thọ Báo nhịp nhàng nơi tư tưởng, vì như thế nên chi từ hàng Nhân Thiên dụng tư tưởng làm nơi tiến bộ, cho đến hàng Nhị Thừa phải tận dùng Định Tưởng mà sáng tạo Cõi Trời hay thành công các cơ sở chủ đích. Ngoài ra chỉ có ba cõi như Dục Giới – Sắc Giới và Vô Sắc Giới cùng các cõi Thiên Tiên thì ứng dụng Hư Không Tạng Thức được gọi là Tam Thiên Đại Thiên Thế Giới. Phẩm lượng và chất độ nó tùy theo hàng hàng lớp lớp mà huân tập thành tựu. Còn lại hai Đại, vượt tầm gọi là Như Lai Đại cùng Giác Tướng Đại, nên chi lúc không lầm, không lạc Kiến Diện Như Lai hay Như Lai Kiến Diện chớ chưa thành đạt Như Lai thì phải thấu đáo Hư Không tận tận thấu Đại Giác Tướng Phật.” –T.V. Tư tưởng không lầm lạc thì Bồ Tát vào thể Như Lai gọi là Kiến Diện Như Lai, thấu đạt được Như Lai vốn dung thông viên minh. Hàng Bồ Tát đối diện nhận định được đâu đâu cũng Như Lai Kiến Diện trong tứ thời. Hàng Ma Ha Tát còn phải nhập thể sâu vào tám Đại của Như Lai mới rốt ráo hoàn toàn Chánh Giác. Chỉ Đức Bổn Sư nay là Đức Long Hoa Tăng Chủ Di Lặc Tôn Phật mới hoàn tất Bát Đại mà vào Hư Không tận tận thấu Giác Tướng Phật. Tứ loài bị tư tưởng điều hành, sáng tưởng được phước báo Nhân Thiên. Tối tưởng nó đưa đi Thọ Báo A Tu La, Ngạ Qủy, Súc Sanh, Địa Ngục. Biết dụng tư tưởng làm chủ thân tâm, làm chủ Tam Thiên thì được Chánh Báo. Hàng Bồ Tát thấu đạt biết dụng tư tưởng. Còn cấp dưới dù tu gì cũng bị nó điều động. Cho nên Chư Phật mới cho niệm Phật để sáng tưởng không còn bị thọ báo nhưng chúng sanh chưa Nhất Tâm vẫn bị sanh tử. Hàng Bồ Tát Kiến Diện Như Lai nên lấy Như Lai Đại làm chỗ nương thân tu hành cho rốt ráo Giác Tướng Đại chờ Chư Phật thọ ký thành Phật. Hàng Nhị Thừa cho đến hàng tu cầu phước báo Nhân Thiên thảy đều dụng tư tưởng làm nơi Định Tưởng. Nơi Định Tưởng nó có đầy đủ từng lớp mà thọ báo cảnh giới như Tiên Thần thì an trụ nơi thanh thoát thành hữu vi Niết bàn nhận lãnh Hư Không làm Có. Còn Bậc không tu cầu Chánh Báo sa vào Vô Dư Niết Bàn không Tri Kiến Phật hiện tại, không Giác Tướng Đại. Chỉ Chư Phật được đầy đủ Bát Đại mới chu đáo khai thị cho Hàng Bồ Tát, Bồ Tát Ma Ha Tát nhận diện được Bát Đại. Hàng A La Hán chỉ khi nào không còn an trụ Phật Giới mới Kiến Diện Như Lai vào sâu Giác Tướng Đại. Thật khó khăn vô kể tất cả Tam Tạng Kinh, cho đến diệu dụng từ nơi lời nói, cử chỉ của Chư Phật đều là Khai Thị làm cho Tứ Chúng Ngộ Nhập, nhưng Tứ Chúng vì chủng tánh chủng nghiệp ngăn cản đủ hình thức tạo thành vô minh che khuất mà khó nhận lãnh được nên mới gọi là khó khăn. Do nơi chúng sanh thờ ơ chưa Nhất Tâm nghiêm túc, chưa đầy đủ chí hướng ngang hàng với Bồ Tát thành chưa hợp hóa trưởng thành quả vị tu chứng. Tự bản thân phải tự nâng mình cốt giải quyết thân mạng, giải quyết tư tưởng dụng nơi Hướng Thượng làm nơi sáng tưởng, viên minh khám phá Tạng Thức về với Chân Như. Tu như vậy, thực hiện như vậy làm gì có Nghiệp ngăn cản, kéo lôi. Từ đó nhận được: Chính Như Lai không thuyết pháp mà chúng sanh cũng không nghe pháp. Chí Tôn giải: Phải chính ông không nghe pháp mà ta cũng không thuyết pháp. Tuyệt tác thay! Vi diệu thay! Đấng Chí Tôn Vô Thượng thị. Bằng Như Lai thuyết pháp, Tôn Giả tu Bồ Đề nghe pháp thời các pháp này thảy đều là các pháp hư dối, nhận lãnh tư tưởng giả tưởng làm thế nào, thọ trì Giác Tướng để tận tận hư không, qua bên kia Không Không tận Chánh Giác./- 57. Trung Đạo Tôn “Kẻ ngu xuẩn nhất chính Ta, kẻ hư vọng tham cầu mang Phật Đạo vào con đường lệch lạc mà công nhận tu cầu giải thoát môn. Ta hiếu kỳ lựa chọn một trong hai điểm Thanh–Thô, Thiện–Ác. Ta ngỡ rằng Thanh là Phật Đạo. Thiện tạo giác chân tu lấy một chiều, còn một hướng Ta đành vứt bỏ, may mắn thay nếu Ta huân tập nung đúc thiện căn, Ta phải lầm tu nơi phước báo. Bằng thâu nhận thanh hương có lẽ lúc hình thành sa vào Tiên Đạo thì sao?” –T.V. Ngài tự xét mình để nhắc nhở căn bệnh lầm lẫn của bậc tu cầu Tri Kiến Giải Thoát có quan niệm chọn Thanh là điều tốt lành, hành động dịu dàng ai cũng ưa thích. Bậc chọn Thanh phải bỏ Thô tức cái không ưa thích, cái xấu. Cũng có bậc quan niệm chọn thiện, ghét ác rồi cho thanh, thiện là Phật Đạo. Tất cả quan niệm trên của đa số bậc tu đều không tỏ rỏ được con đường Trung Đạo vì bị lệch một chiều theo ý muốn đã qui định sẵn nên không sao đi đúng Giải Thoát Môn, lạc vào Tiên Đạo. “Tuyệt tác thay. Hôm nay Ta mới thâu nhận con đường Trung Đạo Tôn chính một con đường duy nhất, thâu nhận tất cả hai bên Thiện Ác, Có Không mới tu đạt tuyệt đối thoát khỏi tương sanh mới điều hòa không chênh lệch. Té ra Phật Đạo tâm chí dung thông, tương đối chốn lầm than, tuyệt đối nơi giải thoát lành mạnh khỏi dị phân nào ngăn cách dị biệt.” –T.V. Con đường Trung Đạo rất cần thiết để bậc thật tâm tu giải quyết vạn pháp đúng nhất, hợp lý nhất, thích đáng nhất trong đời sống hiện tại, tỏ thông Đạo Đời hợp nhất. Nó là con đường tuyệt đối đưa đến hoàn mỹ thành đạt quả vị tu chứng. Hóa giải vạn pháp một chiều, còn mắc miếu ở tương đối, sẽ không thông. Câu chuyện sau đây chỉ rõ con đường Trung Đạo đáng ghi nhớ cho việc hóa giải vạn pháp. Một hôm Đức Long Hoa Tăng Chủ muốn có bức tranh “Đức Di Lạc đang tháo đãy”. Ngài bảo tôi thực hiện. Khi vào Sài Gòn tôi tìm họa sĩ nói ý nghĩa, họa sĩ vẽ rất công phu cả tháng mới xong. Tôi mang ra Nha Trang lòng vui mừng vì đã thực hiện được một công đức làm cho Ngài thích, chủ yếu tỏ tâm nhiệt thành đạo. Bức tranh đã được treo lên ai cũng khen đẹp. Chừng 30 phút sau ông Pháp Dung cũng mang ra một bức tranh “Đức Di Lạc đang tháo đãy”. Thì ra cùng một lúc Ngài bảo tôi lại cũng bảo ông Pháp Dung vẽ nữa. Khi treo lên Ngài bảo: "Tranh ông Pháp Dung vẽ đẹp hơn. Vậy làm sao đây Pháp Khả?" Tôi liền kiểm soi có buồn, có tức giận, có khổ tâm không. Nhưng những chủng tánh này không còn hiện trong tôi nên tôi thưa: Bức tranh Pháp Dung đẹp nên giữ, còn tranh con nên đốt. Ngài làm thinh, chừng 15 phút sau Ngài hỏi lại –Tôi thưa nên đốt vì để hai bức tranh cùng một nội dung tại Trung Ương mai sau không nhất trí. Khoảng một giờ sau từ tịnh thất Ngài vào chánh điện hỏi tôi một lần nữa. Tôi vẫn thưa với lòng trong sạch không có một khởi vọng giận hờn. Ngài cho đốt. Tôi hoan hỷ mừng vì còn một bức duy nhất làm mẫu. Đốt xong Ngài bảo: “Tôi chứng minh cho ông vào được con đường Trung Đạo Tôn.” “Nơi kinh điển đường Trung Đạo mà Đức Thế Tôn đã ấn chỉ trong thời hiền kiếp, đường hướng chỉ đạo cho thính chúng phải thực hiện hai bên, phải hòa đồng tương đối mà sở đắc tuyệt đối mới mong Giác Ngộ. Nó cách xa bá thiên vạn triệu thế kỷ trước, nó gần nhất đối với thế kỷ hai mươi nầy, thế mà chính ta đã lầm lẫn, thời làm sao các bậc tu hành tránh khỏi sự lầm lẫn như ta.” –T.V. Tỷ dụ trên cho thấy phải xem xét không thiên lệch bên nào, phải hòa đồng hai bên gọi là tương đối. Sau chọn một bức tranh tốt nhất bỏ cái kia đi gọi là tuyệt đối. Có vậy mới hợp lý, đúng đắn nhất. Lối giải quyết như vậy gọi là Trung Đạo Tôn, con đường đi đến Tri Kiến Giải Thoát. Nếu không hóa giải đúng tức còn lầm lẫn. Trước khi Chánh Giác bậc nào cũng không tránh khỏi lầm lạc nhưng những bậc thiện chí cầu đạo đều hỷ xả không vì cá nhân cá tánh mới thông suốt hết lầm lạc. Rất ít bậc thật tâm cầu đạo Giác Ngộ nên cũng không tránh khỏi lạc lầm con đường Trung Đạo Tôn nhiều đời nhiều kiếp. “Hay thay! Cao quí thay Chí Tôn Vô Thượng. Ngài chỉ đạo Trung Tôn, chớ nên bỏ lấy chung khắp sự lầm lạc tương đối, phải tương tranh, thiếu thừa sa đọa cùng điều đau khổ do nơi dị biệt cho nên bất đồng, do chỗ Có Không sanh ra tham vọng, do ganh tị phải hồ nghi, sự đen trắng trắng đen hai con đường sanh tử.” –T.V. Đức Bổn Sư Thích Ca Mâu Ni Phật Ngài vẫn dạy con đường Trung Đạo Tôn, tương đối là pháp lầm lạc. Phải hòa đồng tương đối mà đi đến tuyệt đối. Đó là con đường Giác Ngộ. Bỏ–lấy, có–không, thiếu–thừa là tương đối sanh ra bất đồng, sanh ra tham vọng, hồ nghi. Đó là con đường sanh tử. Trong cuộc sống hằng ngày nếu chú tâm thực hành con đường Trung Đạo Tôn sẽ kết quả hoàn mỹ. “Ta phải tu từng bước một, từ giai đoạn nầy đến giai đoạn nọ phải gìn giữ cho tròn, khi gặp bất tịnh lòng nơi ta hỷ xả. Đến một ngày nào chính Ta mới hay lời Chí Tôn nói: Từ Bi Hỷ Xả là mục tiêu nầy lòng Ta tự sanh Bác Ái đồng hóa nhân sinh.” –T.V. Thực hiện được cho tròn chính là Trung Đạo Tôn. Từng pháp, từng pháp một bậc tu cần nhận định thực hiện đúng. Tịnh thường ưa thích, bất tịnh chê bai không hỷ xả sinh chướng đối thì làm sao có Từ Bi. Muốn có lòng Đại Từ Bi cứu chúng sanh, trước tiên: Từ là từ bỏ những tánh xấu, đố tật xấu. Bi có nghĩa là tròn, chỗ nào nó cũng lăn tới được. Khi con người sạch sẽ trơn liền chúng sanh tánh thì độ chúng sanh lúc đó mới hiệu quả. Đó là Từ Bi, Từ Bi có sẽ ý thức được Hỷ Xả. Từ đó tự phát sanh Bác Ái. Còn vướng mắc, còn chướng đối chưa có Từ Bi-Hỷ Xả được. Tịnh-Bất Tịnh dung thông nếu chưa thực hiện cũng chưa tỏ thấu Từ Bi Hỷ Xả. “Tỏ thấu tánh chất mình mới thâu nhận được vũ trụ hư không Như Lai Nhãn Tạng, hòa hợp chung khắp tận tận ngọn ngành mà Chánh Giác.” –T.V. Trong đời thiện ác đầy dẫy, hữu tướng cùng phi tướng khắp nơi, phải hòa hợp tỏ thấu đầy đủ chi tiết toàn chân toàn thiện hai nơi thuận nghịch, điều ngự khỏi lầm mê. Không chấp pháp mà tỏ thấu pháp đó là vào hư không, vào Như Lai Tạng thấy biết chung cùng gọi là Như Lai Nhãn Tạng thuộc không tướng vẫn thấy. “Thiền sư suy ngẫm đến đây, Ngài bèn chỉnh đốn y áo, quay mặt hướng đông lễ bái bảy lần, Ngài âm thầm thưa gởi: Bạch Thế Tôn Vô Thượng, Ngài chính bậc Chí Tôn vuông tròn chung khắp, đồng đẳng bá thiên vạn triệu, bá thiên vạn hạnh, Vô Lượng Vô Biên Công Đức Phật về với Đẳng Đẳng Tôn Chánh Giác. Do đó, cho nên dưới mắt Phật thảy đều đồng đẳng Như Lai, vô phân biệt tính, vô thọ chủng lai, vô hoàn thể giác, vô xứ xứ trụ. Nay con xin kiểm chứng thừa lệnh thuyết minh, giúp đời này, đời sau nương Trung Đạo Tôn tu đoạt giác chân trùm khắp.” –T.V. Sau khi thành Phật Quả, Đức Long Hoa Tăng Chủ hóa thân Đức Di Lạc Tôn Phật hồi hướng cùng Chư Phật. Ngài thấu hiểu phải vô lượng công năng công đức sung mãn mới Chánh Giác. Dưới mắt Chư Phật đều là Như Lai Tối Thượng không còn một vi trần phân đối, cũng không còn tập nhiễm một chủng tử nào, cũng không còn thọ chấp Chánh Giác, lìa Chánh Định không trụ xứ nhưng đâu đâu cũng thị hiện Trung Đạo Tôn trùm khắp./- 58. Bát Nhã Tâm Kinh Ấn Chỉ • Bậc tu Phật sở đắc chân lý đến giai đoạn rốt ráo thành tựu chân lý là một vấn đề khó khăn vô kể. Phải thực hành tu Bát Nhã cốt đạt đến Bát Nhã Trí. • Bát Nhã Trí vốn là thể tánh Như Lai chung khắp trang nghiêm bất nhị mới không mang khai tướng Phật. Bằng sở đắc chân lý vội tự mãn chấp nhận chân lý là nơi trụ xứ phải lâm vào Tướng Phật mang khai. • Phật không có tướng Chánh Giác là Tướng Phật. –Biệt Tôn Vô Thượng Đẳng Kinh Phật đạo có trọng trách cứu độ con người, nhân sanh tứ loài nên mới khai hóa con người và tứ loài đặng rõ biết, sự ràng buộc sanh tử, lần hồi tu hành, cốt thoát sanh khỏi vũ trụ, làm chủ vạn pháp nên mới nói “Tâm Kinh Bát Nhã” cứu giúp các bậc tu hành thị chứng như sau: “Thấy tự tại Bồ Tát, thời pháp giới tự tại Bồ Tát, chớ chưa phải Bồ Tát. Bằng cho mình Bồ Tát, phải hành thâm Bát Nhã Ba La Mật Đa trong một thời. Sáng thấy ngũ uẩn giai không, chỉ thị chứng vạn pháp, pháp giới khổ ách, liền độ tất cả khổ ách. Xá Lợi Tử! Nơi sắc chớ nên bác bỏ dị không, nơi không chớ nên bác bỏ lại sắc. Vì sắc thị chứng nên mới không, thị chứng quân minh đều là sắc. Từ Thọ Tưởng Hành Thức thảy đều nằm nơi thị chứng. Xá Lợi Tử! Thị chứng pháp liền không tướng mà giác tướng. Nơi giác tướng nó bất sanh, bất diệt, bất cấu, bất tịnh, bất tăng, bất giảm, thị cố tựa như không trung. Vào nơi Sắc, nơi Thọ Tưởng Hành Thức, cho đến vào Nhãn Nhĩ Tỷ Thiệt Thân Ý, vào Sắc Thinh Hương Vị Xúc Pháp: Vào nhãn là giới, nãi chí vào ý thức đều giới, cứ vào vô minh vô minh diệt, vào vô minh cốt tận vô minh, có chí vào Lão hoặc Tử, chưa diệt lão hay tử vẫn tận, vào khổ tập diệt đạo, vào trí diệt trí, vào đắc giải đắc, tất cả không nên cố trụ. Bồ đề tát đõa y Bát Nhã Ba La Mật Đa cố, tâm vô quái ngại cố, vô hữu khủng bố (tâm đừng quái ngại, nếu quái ngại liền củng cố, bị vạn pháp khủng bố). Hãy dẹp mộng tưởng Niết Bàn, điên đảo cứu cánh niết bàn đến quân minh thị chứng, Pháp giới chính niết bàn. Tam thế Chư phật y Bát Nhã Ba La Mật Đa, sở đắc Tam Miệu Tam Bồ Đề. Những bậc cố tri thực hiện Bát Nhã Ba La Mật Đa, thị chứng Đại Thần Chú đến Đại Minh Chú vào Thượng Chú liền thị chứng Đồng Đẳng, chú trừ tất cả khổ. Lời chân thiết không dối. Lành thay! Lành thay Ma Ha Bát Nhã Ba La Mật Đa Tâm Kinh là cố tri duyên lành cẩm nang chỉ đạo quân minh cho các bậc tu hành thọ trì tận giác. Đến nay ta chỉ thẳng cái thấy quân minh đồng đẳng được gọi Vô Thượng Đẳng. Tất cả các bậc tu hành phải nương nơi Ma Ha Bát Nhã Ba La Mật Đa mới hoàn mỹ.” –T.V. Thấy pháp giới, bậc tu hành có trình độ trí hóa liền nhận biết rõ Bổn Lai của pháp giới đó, phải nói năng, hành dụng không quái ngại sao cho đặng tỏ rõ, sạch sẽ gọi là thấy Tự Tại. Nhưng tự tại là pháp giới tự tại chớ chưa phải pháp giới tự tại là Bồ Tát. Muốn trở thành Bồ Tát đúng lộ trình chư Phật, phải tự nguyện hành thâm pháp giới hàng bá thiên vạn lần cốt cúng dường Như Lai cho đến bao giờ được quân minh mới thực chứng tự tại. Lúc bấy giờ hành dụng pháp giới nào cũng đúng đặng tỏ tường pháp thân không còn trụ chấp pháp giới, không còn chướng đối pháp giới, thấu đạt tự độ cùng tha độ. Chừng đó được sáng tưởng thấy ngũ uẩn tức Sắc, Thọ, Tưởng, Hành, Thức vốn không. • SẮC UẨN: Chỉ chung mọi thứ vật chất hữu hình như thân. • THỌ UẨN: Chỉ tác dụng cảm nhận sự vật có cảnh liền sanh tình. • TƯỞNG UẨN: Chỉ tác dụng tưởng tượng sự vật của cảnh tâm liền sanh. • HÀNH UẨN: Tác dụng về tất cả hành động như thiện ác, tốt xấu của cảnh tâm liền sanh. • THỨC UẨN: Biết phân biệt sự vật của cảnh tình liền sanh. Năm uẩn cũng chỉ là hai pháp Thân và Tâm, vốn sẵn thường còn nhưng chúng sanh vọng đảo mê lầm mà có khổ, không, vô thường. Tỷ như bong bóng nước do gió mà thành có rồi mất ngay không thực. Vui buồn, sướng khổ, được mất, có không của chúng sanh cũng như vậy, nó như trò huyễn ảo không thực thể, tất cả đều nằm trong hố sâu pháp giới: Có cảnh sanh tình. Chừng nào hành thâm pháp giới thấu đạt ngũ uẩn giai không mới thị chứng được do hợp hóa mà nó có Sắc, Thọ, Tưởng, Hành, Thức trở thành vô lượng pháp làm chúng sanh thọ nhận khổ. Trực giác thấy biết thời nào nó vẫn thường diễn liền tâm hết khổ, đi đến cuối đường khổ, độ được tất cả khổ ách. – XÁ LỢI TỬ: Nơi không do đồng hợp đồng hóa mà có sắc tướng. Nơi sắc tướng liền có tuổi thọ hợp tan lâu hay mau rồi trở về không. Vạn pháp như nhiên hợp hóa diễn mãi từ không đến có rồi từ có đến không. Do đó, nơi Sắc chớ thọ chấp bác bỏ Không. Nơi Không chẳng nên bác bỏ Sắc. Vì từ hợp hóa mà có Sắc tức vốn Không - Không tức vốn Sắc. Cần biết hóa giải đúng, hợp tình hợp lý gọi là quân minh. Đấy chính là pháp đồng đẳng liền thị chứng Vô Thượng Đẳng nên không còn chỗ chấp KHÔNG. Pháp Vô Thượng Đẳng như nhiên vận chuyển được vũ trụ với con người vốn từ nơi không mà hợp hóa thành có. Thọ Tưởng Hành Thức cũng như vậy. Hóa giải pháp giới quân minh chính là Không Tướng mà Giác Tướng. Đã Giác Tướng các pháp liền không sanh cũng chẳng diệt, chẳng dùng con mắt giới hạn để thấy mà không tướng vẫn thấy, chẳng dơ cũng chẳng tịnh, chẳng thêm cũng chẳng bớt. Cứ vào pháp giới để tỏ biết đừng nản chí, dù cho có ý thức được vạn pháp vẫn pháp giới ý thức thôi chứ chưa giải được sanh tử. Cứ vào vô minh tỏ vô minh sẽ hết vô minh, vào vô minh sâu thêm nữa như Phi Tướng thuộc pháp Bất Tịnh cốt yếu biết tận tường vô minh, sạch sẽ vô minh. Cần có chí bền biết sống trong tuổi già hoặc chết tuy chưa già chết vẫn tỏ tường già chết. Vậy có trí cần đào sâu vạn pháp, từ tỏ thông đến thấu đạt, đến tận tường trí, đừng có tăng thượng cho mình cao cống, cần vào sâu pháp giới nữa, có đắc pháp cũng đừng nên trụ đắc. Tất cả pháp giới không nên thọ chấp sẽ bị dừng trụ. Đừng cố ý quái ngại khi gặp pháp giới khó khăn hóa giải, phải tìm phương thức hóa giải cho được quân minh mới thông đặng vượt qua trở lực khó khăn. Nếu rụt rè quái ngại bị vương mang cái sợ mà củng cố, dừng trụ đứng yên cố thủ liền bị các pháp khủng bố càng tăng thêm khó khăn, không thoát sinh qua nổi pháp giới. Phải thực hiện hóa giải pháp giới cho thông suốt chứ đừng dừng trụ, đừng suy nghĩ, đừng ảo tưởng trở thành điên đảo rồi cho hiểu biết của mình là pháp Cứu Cánh Niết Bàn. Biết sạch tận tường Bổn Lai Pháp Giới chính bất tử là Niết Bàn. Tam Thế Chư Phật mười phương đều thực hiện Bát Nhã Ba La Mật Đa như vậy không sai chạy mà tận tường Chánh Biến Trí, sở đắc Vô Thượng Chánh Đẳng Chánh Giác. Những bậc tu thực hiện Bát Nhã như vậy thời nào cũng được Tương Thông Phật Lực là thành qủa, cố tri cùng Chư Phật. Thật khó khăn vô kể, 100 vị sở đắc chân lý duy nhất chỉ có một vị thực hiện đạt quân minh thành tựu chân lý gọi là Diệu Quả Phật. Thường 100 vị sở đắc chân lý chưa hành thâm tận tường chân lý vội xưng danh Phật gọi là mang khai tướng Phật dễ bị lầm lẫn. Bởi sở đắc chân lý tiếp tục thực hiện cốt tạo công năng công đức sung mãn thì mỗi tư tưởng, mỗi lời tuyên ngôn, mỗi hơi thở, mỗi nhẹ khẻ hành động đều tự phát Vi Diệu Pháp gọi là Thị Đại Thần Chú, mức tu chứng Đại thừa phá tan vô minh, đến Thị Đại Minh Chú, mức tu chứng Nhứt Thừa thông suốt Vô Minh, đến Vô Thượng Chú mức tu chứng Tối Thượng Thừa luôn nhứt thiết tận trừ khổ. Diệu âm nầy vi diệu tận độ chúng sanh không thể nghĩ bàn rất chân thật. Tuyệt mỹ thay! Ma Ha Bát Nhã Ba La Mật Đa Tâm Kinh là đại duyên lành mật thiết, làm kim chỉ nam đúng đắn, tuyệt đối cho tất cả bậc tu cần thực hiện giữ gìn đừng xao lãng mà đến hoàn toàn Giác Ngộ. Bậc Chánh Giác phải nương theo vạn pháp hóa giải quân minh lớp lớp mới Tận Thành Chánh Quả. – ĐẠI ĐỨC: Tôi nghe Đức Long Hoa Tăng Chủ khai thị tại Trung Ương Hội Thượng số 6 đường Huỳnh Thúc Kháng Nha Trang như vầy: Bậc Tăng có đầy đủ công năng trực giác thấy biết (Trực Thị) vạn pháp trong tứ thời. Công đức luôn hỷ xả cao dày gặp hoàn cảnh tâm chí hướng thượng hóa giải bờ ngăn, lấy tự tánh làm cơ bản tự độ tha độ. Tâm chí bao dung được xưng tán Đại Đức. – HÒA THƯỢNG: Bậc tu từ lý cho đến trí dung hòa chẳng xa lìa thể tánh, không còn Ngã và Ngã Sở. Bậc này tự biết nương theo Chư Bồ Tát, Chư Phật đưa cho tất cả bậc tín tâm tu được Giác Ngộ. Nếu có bậc tu cầu giác ngộ rốt ráo bậc Hòa Thượng phải biết hành dụng đến diệu dụng Hữu Tướng Phi Tướng viên dung cốt tận độ cho bậc tín tâm đến toàn thiện toàn chân. Hòa thượng phải là bậc độ được Đại Đức mỗi ngày thêm công năng công đức càng cao dày. Trình độ tu chứng Đại Thừa từ Giác Ngộ, Đại Ngộ đến Liễu Ngộ là cao nhất. Những bậc đắc chân lý này thường là vị Tổ có trình độ trực giác được nghiệp thức phiên diễn của chúng sanh, chỉ đạo cứu độ chúng sanh trong chân tình bất diệt làm cho chúng sanh tỏ thông nhận chân được chân lý mà Giác Ngộ./- 59. KHAI–THỊ–NGỘ–NHẬP, Bốn Tướng Giải Thoát “Khi bấy giờ Ta nhập Chánh Định quan sát các Bậc tu chứng thọ lãnh Bảo Pháp bất đồng, cho nên nơi hiểu biết chia ra từng thứ bậc, thứ lớp cạn sâu khác nhau, thường bị thối chuyển. Nay Ta tuyên đọc lời Khai Thị nơi Ngộ Nhập của Tứ chúng thiếu khuyết, để Tứ chúng tùy khả năng, tùy hạnh nguyện nơi mình cố vươn mình cầu nơi Tri Kiến Giải Thoát. Thế nào lời khai thị nơi ngộ nhập bốn tướng giải thoát? – Từ phàm phu thọ lãnh Bảo pháp chưa thực hành Hạnh nguyện nên phàm phu Ngộ Nhập Giải Thoát nơi phàm phu, chớ chưa vào hàng Tiên Thần Giải Thoát. – Hàng Tiên Thần thọ lãnh Bảo pháp chưa thực hành nơi Hạnh Nguyện Hóa Giải dù cho có Ngộ Nhập Giải Thoát nơi Tiên Thần chớ chưa đứng vào hàng A La Hán Giải Thoát. – Từ A La Hán thọ lãnh Bảo pháp Ngộ Nhập Thực Chứng Giải Thoát nơi A La Hán chớ chưa đứng vào hàng Bồ Tát. – Từ Bồ Tát thọ lãnh Bảo pháp Ngộ Nhập liền tu chứng nơi Bồ Tát chớ chưa hoàn toàn Giải Thoát nên chưa thể đứng vào hàng Chư Phật.” –T.V. Một hôm tại Long Hoa Hội Thượng, tôi nghe Đức Di Lạc Tôn Phật khai thị như vầy: "Bậc tu phàm phu, Tiên Thần đến A La Hán nghe đặng lời khai thị của Bậc Chánh Giác, dù cho có Ngộ Nhập hiện tại vẫn là sự chứng tri thanh tịnh chớ chưa vào sâu nơi Thanh Tịnh Đại Hải Chúng của Bồ Tát. Mỗi cấp thanh tịnh mỗi cấp không hề ngang tầm mức với nhau do thâm nhập pháp cạn sâu. Thế nào gọi là Thanh Tịnh Đại Hải Chúng Bồ Tát? Bồ Tát thọ lãnh pháp giới chúng sanh mà tỏ ngộ. Hàng Ma Ha Tát thấu đạt tất cả pháp giới chúng sanh chẳng thiếu sót, ra vào pháp giới để Hành Thâm, chung sống với từng lớp con người từ Thuận–Nghịch, Hữu–Tướng, Phi–Tướng, Tịnh, Bất–Tịnh mà sở đắc Đại Thanh Tịnh nên mới gọi là Thanh Tịnh Đại Hải Chúng Bồ Tát. Ngài tiếp: Bồ Tát nghe đặng lời Khai Thị Ngộ Nhập liền trực giác g ải thoát từng pháp từng thứ lớp. Bồ Tát còn phải hành thâm pháp giới, nhiếp thu hy sinh đánh đổi pháp giới để lần tỏ thông pháp giới. Đến giai đoạn Bồ Tát còn phải nương Như Lai pháp tu trì Bát Nhã chủ yếu làm mát mẻ Như Lai, cúng dường Như Lai để thành tựu Ma Ha Tát vào Đại Hải Như Lai. Bồ Tát Ma Ha Tát còn phải tu hành hóa giải, vận chuyển tỷ mỷ pháp giới độ sanh sạch sẽ trơn liền, không còn vướng động một pháp giới để Nhứt Sanh Bổ Xứ chờ hóa thân Phật." Do lẽ ấy, Bồ Tát Ma Ha Tát thường trú nơi Tam Muội ở cấp Đại Bồ Tát chớ chưa đúng trọn thành Phật. Còn phải phát Đại Nguyện đem tất cả thân mình, đầu óc, tai lưỡi cúng dường Như Lai cầu thành tựu Như Lai Nhãn Tạng đặng sáng suốt khỏi lầm mê. Từ đó Đại Bồ Tát đem Mật Ngữ ích lợi tận độ chúng sanh, đem lòng Đại Bi ban rải khắp nơi thành tựu Phật Tướng. Đó chính là Bồ Tát thực hành đầy đủ Như Lai chờ ngày thành Phật Quả. Nếu Bồ Tát vui mừng dừng trụ nơi Ngộ Nhập, không tiếp tục thực hiện công đức cúng dường Như Lai, chưa đánh đổi vật chất, danh vọng, tình là pháp giới bao vậy, Bồ Tát không tiến đến Ma Ha Tát được để tự sanh thoát khỏi rốt ráo sanh tử. Chưa biết đánh đổi thân mạng, đầu óc, tai lưỡi dù cho Bồ Tát có ngộ nhập hàng vạn pháp Thần Thông Tam Muội chăng nữa vẫn chưa tròn Ma Ha Tát, đã chưa tròn làm thế nào đến đích Chư Phật thọ ký được. Đây là lộ trình tu tập, tu hành chân thật nhất. Nơi Khai Thị Ngộ Nhập nó có từng đẳng cấp, chẳng khác nào hạt giống gì trồng, vun, bón nó thành tựu hoa quả ngay giống ấy. Do như vậy khi Chư Phật Khai Thị Chư Bồ Tát, A La Hán, Tiên Thần, chúng sanh ngộ nhập tùy theo Công Năng Công Đức Mà Thọ Lãnh Bảo pháp thật bình đẳng mà Bất bình đẳng. Nó tùy theo tư tưởng thọ lãnh đúng sai của từng Bậc, ai cũng ngỡ chính mình đã Ngộ Nhập đúng lời Khai Thị của Phật nào ngờ nó tùy thuận sở chứng của từng Bậc mà Ngộ Nhận. Đối với Chân Lý chỉ có Một, đối với lời khai thị của Phật Chánh Giác không Hai, nhưng trình độ, công năng cùng Chí Dũng tu hành thiết tha đến mức nào nó chia ra từng lớp, từng bậc. Do đó Phật Ấn chỉ: “Duy nhất chỉ có Phật Thừa chớ chẳng có Tam Thừa, Tam Thừa do công năng sở hữu nơi chân tử nên mới có nơi bất đồng ngộ nhập.” –T.V. Trí tuệ hóa giải nghi chấp được Ngộ Nhập thông thái nhưng hành động thấp kém lại chênh lệch với trí tuệ thì chưa đứng ngang hàng với Bồ Tát được. Bậc tu có trí tuệ sở đắc Chân Lý Pháp Thân chớ Ứng Thân chưa đạt Chân Lý. Còn Bậc tu củng cố Đạo Hạnh tu trì được Ứng Thân đắc Chân Lý chớ chưa có Pháp Thân đắc Chân Lý. Nhiều Bậc lầm nhận nơi hiểu biết Ngộ Nhập không biết chính mình kết quả hiện tại chưa thấu đáo. Đó là điều đáng quan tâm không nhỏ nơi thời Mạt Pháp nầy vậy. Bậc tu thời Mạt Pháp này cần bước vào Bốn Tướng Khai–Thị–Ngộ–Nhập nầy cho đặng đầy đủ Ứng Thân cùng Pháp Thân đắc Chân Lý mới viên mãn hoàn tất. Thời hiền kiếp Đức Bổn Sư thể hiện ra đời, Ngài Khai Thị: "Đạo Hạnh và Trí Tuệ song tu, bậc tu thành tựu." Bậc sở đắc Chân Lý liền Chánh Báo hiện tiền. Thời bấy giờ Bậc tu thường nhập Chánh Định Tam Muội gặp gỡ các Tiên Thần, cùng nhau giao cảm tùy cấp tu chứng. Đến thời Hạ Kiếp Đương Lai dân tình lầm than khổ sở, Bậc tu theo lý trí phát sanh nơi mỗi Bậc tự tu hơn nghe lời Phật trong Kinh điển mà thực hành, dù cho có nhiều Bậc đem Kinh điển nghiên cứu để tu nhưng tu nơi lý trí bị nghiệp thức điều động, do lẽ ấy trở thành lạc hướng nơi Phật Tôn sai lệch nơi Chánh Báo Chân Lý, nên chi hiện tại tu thì thật là nhiều người, còn kết quả tu chứng thật chứng lại quá hiếm hoi. Con đường tu duy nhất có một, vì vậy Chư Bồ Tát Ma Ha Tát phải nhìn vào vết chân đi trước của Chư Phật đã từng đi mà Hạnh Nguyện đồng nương theo để tròn nguyện. Chư Bồ Tát tâm nguyện những gì khó làm mà làm đặng, những chuyện khó nghe mà nghe đặng, những thời gian khắc nghiệt đóng kín khó tu mà tu đặng mới mong thành tựu. Những câu thơ kỷ niệm thời Mạt Pháp ở thế kỷ 20 này, qua bao chông gai sắt thép, qua bao khổ hải, khổ ải, Ngài Hiện thể tại thành phố Nha Trang thuộc tỉnh Khánh Hòa với lòng Đại Bi, Đại Chí, Đại Dũng vẫn tận độ chúng sanh. Sông sâu ta vẫn cố chèo Núi cao rừng thẳm ngặt nghèo phải qua. Bồ Tát cho đến Phật Đà Cùng chung một ngõ, trải qua một đường Dù cho vạn nẻo muôn phương Bản năng Trực Giác Chân Thường Giác Chân. –T.V. 60. Thời Kỳ Biệt Tôn Vô Thượng Hoá Độ Tối Thượng Thừa • Đối với Bảo Phẩm Kinh Pháp. Đại Bồ Tát thời quá khứ đồng nguyện hộ trì nên chi có một linh động Tối Diệu đáng kể. • Linh động Tối Diệu ấy thường ứng trực trước giờ phút để giúp đỡ các Bậc tu thiện chí Nhất Tâm tu cầu được như ý nguyện. • Kinh pháp lại có những nỗi khó khăn nan giải đối với Bậc tu. • Khi sở đắc Tri Kiến Phật liền diễn giải chủ quán Tam Muội Pháp Môn đến hành thâm đoạt Bát Nhã mà được Phật Tri Kiến. • Nếu chưa rốt ráo còn mỗi một khởi điểm nào vội thọ Ngã thành Phật liền vương vào Phật Giới Quốc Độ. –Bảo Phẩm Xuất Thế Chơn Kinh √ Phật Đạo chỉ có Phật Thừa chứ chẳng có Tam Thừa chi cả. Do tại trình độ nhận lãnh tu chứng không đồng mới có Tam Thừa. –T.V. Thời Hạ lai này Đức Long Hoa Tăng Chủ Di Lạc Tôn Phật chia Phật Thừa ra hai phần là: • Nhất Thừa. • Tối Thượng Thừa. Chủ yếu của Ngài là minh định Chư vị Tổ cấp A La Hán tu đến Phật Thừa phải sở đắc xong vô Thượng Đẳng Chánh Giác còn phải được Phật Hiện Thể chứng minh trở thành Bồ Tát. Khi đã được chứng minh là Bồ Tát lúc đó mới đúng tinh thần tu tập, tu hành Tối Thượng Thừa. Do vậy Chư Tổ cấp Tôn Giả, A La Hán đang tu Nhất Thừa tức Phật Thừa chưa hoàn tất tu chứng cũng phải chờ một hay nhiều kiếp được chứng minh mới nhập thể Bồ Tát được, chứ không phải tu Phật Thừa là đã tỏ thông. Đức Di Lạc Tôn Phật nhắc nhở Chư Tổ tinh tấn tu hành tiếp chứ không dừng trụ Phật trở thành Phật Giới. Vì thời Hạ Kiếp Ngài đã chứng kiến nhiều vị xưng Phật bị an dưỡng Phật Giới thật khó gỡ, uổng phí kiếp tu cho hiện tại và mãi mãi ở vị lai./- Lục Đạo khi đã hóa giải Nhiếp Độ tường tận Chánh Giác thì liền tỏ biết tường tận tất cả, trọng lượng hóa diễn nơi nó, lúc bấy giờ mới phơi bày để cho Tín Chúng, từ hàng Bồ Tát tu tập đến Bất Thối Chuyển, tâm không quái ngại từ Hữu Lậu đến Vô Lậu tường tận, bằng chưa phải là Hàng thật tu, thật chứng khó mà lãnh hội đặng Pháp Bảo Vô Thượng Chân Tôn nầy. “Các hàng hãy nghe đây: Lục Đạo đã xóa mờ, duy nhất chỉ còn có con đường SÚC SANH GIỚI, làm một con đường vào Pháp Thân Quốc Độ tận rốt ráo Bát Đại Niết Bàn. Vì sao? Vì Súc Sanh Giới chính là một giới kết nạp huân tập hóa thành Chúng Sanh Giới. Chúng Sanh Giới nó chính là Pháp Thân Phật, tận độ Pháp Thân rốt ráo Bát Đại Niết Bàn. Đây chính là lời nói Vô Thượng Chân Tôn riêng dành Chư Bồ Tát Nhãn Tạng Viên Thông. Còn đứng về trọng lượng diễn hóa của Lục Đạo nó như thế nào, tôi giúp cho các hàng hãy còn yếu kém chưa thọ lãnh được VÔ THƯỢNG CHÂN TÔN hãy nghe đây • Đứng về Thiên Giới: Định Tưởng Dục Tưởng • Đứng về Nhân Giới: Thường trụ thường chấp. • Đứng về A Tu La Giới: Thường chấp thường hoại. • Đứng về Súc Sanh Giới: Kết nạp hóa sinh. • Đứng về Ngạ Quỷ: Tham lam giành xé. • Đứng về Địa Ngục: Chủ thủ diệt vong. “Khi Lục Đạo tận tường mới hay Súc Sanh kết nạp hóa sanh thành tựu Sơn Hà Đại Địa Tam Thiên Đại Thiên Thế Giới, giúp đỡ cho các hàng không nhiễm, không trụ nơi SẮC –THINH –HƯƠNG –VỊ thảy đều trơn liền Chánh Giác. Bằng dục vọng dâm dục chìm đắm nơi Sắc –Thinh –Hương –Vị –Xúc –Pháp lầm lẫn theo Kiến Dục tự tạo lấy Hai Tướng thỏa mãn đều nằm nơi Bị Sanh Pháp Giới. Các Bậc Nhị Thừa Tiên Thần trong Tam Thiên Đại Thiên Thế Giới chỉ vì Dục Vọng Kiến Tưởng mà sa ngã tu chứng Tiên Thần. Nhân loại nơi ba đường ác chỉ vì dâm dục mà sa đọa vọng đảo tham lam, kiến tạo rất nhiều điều quá đáng. Các Bậc tu chứng qua các Pháp Giới tỏ thông nhiếp độ Lục Đạo không vướng mắc, lấy nơi Sắc –Thinh –Hương –Vị –Xúc –Pháp làm phẩm trợ đạo, liền đắc Đạo như lời ta đã nói.” Ngày mùng năm tháng Giêng, năm Đinh Tỵ Nhằm ngày 22-07-1977 Dương lịch Lúc 11 giờ 45 phút TỊNH VƯƠNG NHẤT TÔN Chính là Hóa Thân Đức Di Lạc Tôn Phật ẤN CHỨNG Súc Sanh Giới là một giới kết nạp, kết hợp liền hóa thành. Nó chính là Pháp Thân Phật. Giống cái kết nạp huân tập hóa thành chúng sanh. Tỷ như người đàn bà có gia đình sanh ra con. Ai cũng công nhận giống cái sanh... Vậy giống đực thì sao? Tôi nghe như vầy: Như người đàn ông sống ở môi trường thích hợp cũng tự nơi thân sinh ra con rận, con chí. Khi thân người đàn ông sinh ra một con đực, một con cái là đã xong nhiện vụ hóa sanh, sau con đực và con cái tiếp tục sanh ra vô số... Vậy là giống đực cũng sanh. Vô tri cũng sanh: Một cái cây hạ xuống đến một lúc tự nó sanh ra con mọt cây. Gạo để một thời gian cũng tự sanh ra con mọt gạo. Trên mặt và trong lòng đất cũng sanh vô số chủng loài biết đi đứng, sinh hoạt... Trong không khí cũng tự sanh các loài vi khuẩn... Như vậy Súc Sanh Giới: Giống đực, giống cái, vô tri đều sanh ra hữu tri. Từ đó mới hay súc sanh kết nạp hóa sanh thành tựu sơn hà đại địa Tam Thiên Đại Thiên Thế giới. Vậy vô tri sanh ra hữu tri, quả địa cầu, cỏ cây, sông núi, biển cả, mây nước, động vật, sinh vật, hư không thảy đều có từ mầm chủng tử hữu tri của mỗi mỗi loài. Tất cả chính là vũ trụ, là Như Lai Phật, là Thượng Đế là đấng A La tùy xứ sở đặt tên cho vũ trụ. Do đó Như Lai hay vũ trụ cũng là hữu tri, cũng có cái biết chứ không phải vũ trụ là vô tri. Do đồng hợp đồng hóa, bất hợp bất hóa, nó là định luật như nhiên vô thủy vô chung thường còn bất biến. Cho nên cục đất đem làm thành ông Táo, ông Địa, ông Thần Tài... cúng lạy mãi là có linh do tánh thấy của VŨ TRỤ và tánh thấy của TA hợp liền hóa linh. Không tin không linh do không hợp nên không hóa. Nếu cục đất, khúc cây... làm ra ông Phật, Bậc tu thờ cúng tin tưởng cũng do hợp hóa thành linh. Tùy trình độ tánh tình rộng hẹp, thiện ác mà nó linh, tùy trường hợp cho đúng với nó. Chính vì vũ trụ có cái biết tức là Hữu Tri nên chư Phật đã đi trước, đã thành quả Phật mới chỉ dạy cho con người biết Niệm Phật để giữ gìn Thiện Căn được hợp hóa thiện căn mà sống an lành đỡ khổ không còn tai ương. Còn Bậc tu khá, Niệm Pháp tức niệm nghe thấy biết, sửa tánh, sửa tật xấu sau sở đắc Bản Thể Tâm tỏ tâm hòa tâm mình vào tâm vũ trụ tức hòa vào Như Lai mà chung cùng với Như Lai để đặng cái biết của Như Lai Phật. Cũng như một giọt nước biển nhỏ bé không thấm vào đâu so với biển cả bao la vô tận nhưng khi ta cho vào biển cả, giọt nước biển liền hòa tan vì nó đồng chất. Nếu đem một giọt nước biển phân chất cũng có Calci, Natri, chất sắt... nó giống y như nước biển cũng có đủ chất. Chính điểm nầy mà một giọt nước biển và biển cả bao la Tương Thông, Giao Cảm nhau như cha và con. Từ đó kết luận có cơ sở tin được một con người nhỏ bé so với vũ trụ bao la cũng hòa hợp tương thông, giao cảm được. Như Chư Phật rất thương mến, cảm mến, chí tình cùng chúng sanh. Chúng sanh biết liền được tỏ thông như Thánh, thấu đạt như Bồ Tát, tận thành như Chư Phật. Đó cũng chính là Súc Sanh giới hợp hóa. Cho nên Đức Bổn Sư đã khai thị: Tất cả Chúng Sanh đều có Phật Tánh. Nếu chúng sanh biết lìa Ngã, Ngã sở mới cảm thấu Như Lai hay cảm thấu vũ trụ chừng đó mới biết vũ trụ sống động tuyệt mỹ, là kho tàng vô tận khó nghĩ bàn. Rõ ràng Ta và vũ trụ là hai mà một. Một mà hai như hình với bóng, thấu đạt sanh tử, tử sanh đâu còn sanh tử. Đã không còn sanh tử chính là bất tử. Khi đã bất tử được chủ quyền biết lúc nào tự ý lai sanh trở lại như thay cái áo bị mặc dơ phải giặt cho sạch thôi. Dù có lai trần Bồ Tát cũng không mất công năng công đức quá khứ, con đường xưa đã thấu vũ trụ lại cung ứng trả lại cho chẳng thiếu chút nào. Thật tuyệt mỹ thay cho súc sanh giới. Đâu đâu thời quá khứ, hiện tại cho đến vị lai cũng do súc sanh giới kết nạp hóa sinh bất tận vậy. Tỷ như một lời nói, một hành động của quá khứ, hiện tại hay vị lai nó đều được cất giữ trong cái kho Như Lai Tạng không hề mất đến một thời nào đủ điều kiện nó tái hiện. Do đó Thiền Sư nhìn nơi pháp tánh diễn mà biết được tiền kiếp quá khứ rất thực tiễn lại biết nó chết sẽ đi về đâu không sai chạy. Hàng Bồ Tát Diệu Quan Sát, hóa giải không nhiễm, không trụ nơi Sắc – Thinh – Hương – Vị được trơn liền thấu đạt súc sanh giới Chánh Giác. Lục đạo khi hóa giải xong, duy nhất chỉ còn có con đường súc sanh giới kết nạp thành Pháp Thân Phật Cũng Chính Là Quốc Độ tận thành rốt ráo Bát Đại Niết Bàn. Do đó Bồ Tát nương theo sự diễn hóa súc sanh giới đặng thâm nhập sạch sẽ Pháp Giới. Còn chúng sanh chưa sở đắc chân lý, chưa được Chư Phật chứng minh, còn bị chìm đắm sắc dục, dục vọng thì hãy tu hóa giải, đạo hạnh cho hoàn tất Thánh Hiền sau mới tiếp tục tu Phật Giác. Chúng sanh cùng bậc tu Nhị Thừa không nên tự ý đi Phi Tướng vì sẽ bị sa đọïa vọng đảo, tham lam, kiến tạo dâm dục thật tai họa nơi súc sanh phải bị sa đọa cận kề Địa Ngục. Năm 1990, Ngài thị hiện bệnh tai biến mạch máu não. Ngài cho con cháu Đề Bà Đạt Đa đánh đập và xua đuổi các Chân Phật Tử ở quanh Ngài đang lo phục vụ cho Ngài. Càng lúc cường độ lộng hành càng gia tăng, mỗi lần nhóm Trung Ương vào chăm lo Ngài, đều bị đánh đuổi do nhóm con cháu Đề Bà Đạt Đa căm ghét gây ra. Bậc tu mới biết Hữu–Tướng, Phi–Tướng rất khó qua, phải chú tâm chịu đựng quan sát tỷ mỷ, phải dung thông pháp giới mới biết lúc nào vào nuôi bệnh, lúc nào cần tránh. Nếu thấy khó, ngại ngùng đi luôn là diệt pháp, mà vào không đúng lúc bị đánh đuổi là sanh pháp. Tự giác cao độ mới sở đắc vô sanh. Thật kín nhiệm, thật quá ư khó khăn. Sau này có Chân Phật Tử thưa hỏi Ngài gây ra chi cảnh hỗn loạn như vậy. Ngài trả lời: Nếu không làm vậy, sao tôi minh định được ai là giòng ác căn thuộc con cháu Đề Bà Đạt Đa, ai là giòng thiện căn sau giác ngộ nối truyền làm Tổ. Liền khi đó Ngài cho hai câu thơ: Hiện tình nay đã an bài Đông phương suốt thấu chẳng cần nói chi. –T.V. Sau khi diệu dụng bệnh mở khoa thi, Ngài liền thọ ký Bồ Tát, chư Thánh Hiền sau tiếp tục tu nối truyền Tổ. Con cháu Đề Bà Đạt Đa đã được an bài trở về nơi ác căn đồng chủng thọ hưởng phân minh. Đó là kỳ thi lần thứ ba. Kết chung Ngài bảo Tối Thượng Thừa chỉ có một sở đắc Vô Thượng Đẳng Chánh Giác được khai thị vào giòng Bồ Tát thi hành Ma Ha Tát sau thành Phật nối truyền Chánh Pháp. Chỉ có một duy nhất chớ không có hai và Ngài dạy: “Tôi không đủ thời giờ đào tạo ra hai Bồ Tát được.” Các Chân Phật Tử vòng ngoài không hay biết gì và cả vòng trong cũng không mấy ai tỏ rõ Diệu Dụng Phi Tướng của Ngài để tận độ rốt ráo chúng sanh tánh, cũng không nhận được sự thọ ký kín nhiệm của Ngài. Thế mới biết Bồ Tát và A La Hán còn cách xa nhau hàng triệu triệu do tuần. Hàng Bồ Tát nói ra một lời hàng A La Hán vòng trong cũng cả kiếp suy ngẫm không ra. Ai tu hành nhận chân được một cử chỉ, một hành động nhẹ khẽ, một lời nói đơn sơ mới hiểu được phần nào Diệu Dụng của Chư Phật, mới thấu đạt ý Phật . Thật khó khăn thay!./- 62. Tối Thượng Xây Đắp “Bậc xây đắp căn là bậc đã từng trải qua từ Vô Lượng Kiếp, đặng Vô Lượng Thọ, tỏ Vô Lượng Nghĩa, thấu đạt Pháp Giới, thấu rõ tường tận Bản Thể Tâm, sự diễn hành nơi Pháp Tánh. Bậc nầy trọng lượng về tánh chất hơn về căn cơ. Vì sao? Vì hàng phục đặng tánh chất diễn hóa lầm mê xong thì căn cơ liền đầy đủ Chánh Giác. Chẳng khác mấy Vị Đại Lương Y đã từng chữa các con bệnh, đã từng thật tỏ vị thuốc nào công dụng chữa trị con bệnh ra sao, không còn quái ngại nghi ngờ, rụt rè đối với con bệnh. Bậc xây đắp tận giác chu vi pháp giới do nơi căn tánh diễn hóa thụ sanh thành hình, đã từng nương nơi pháp giới nhiếp độ tận tường thị chứng mới thực hành mười danh hiệu, chia ba phẩm, Diệu Dụng Hành Dụng đồng với Tam Thế Phật ba đời.” –T.V. • Phái Tiểu Thừa dùng tâm thành thật, tâm thiết tha, tâm thành kính nhưng chưa biết dùng ba tâm năm nguyện tu cầu Chánh Báo. • Phái Đại Thừa vẫn thành thật tâm, thiết tha tâm, thành kính tâm nhưng biết Nương Nơi Tánh Tỏ Tâm, tỏ rõ lý sự của tâm di chuyển mà phát hiện được sự di chuyển vạn pháp kia đều do tâm sanh ta. Sau lần theo phát minh được Hiện Sanh: Ta sanh Tâm mà sở đắc thật sâu Bản Thể Chân Tâm, Pháp Thân Chân Lý. Đương thời Đức Di Lạc Tôn Phật tùy căn Tiểu Đại mà khai thị. Cùng nơi Đạo tràng mà giờ nầy dạy tiểu thừa, giờ khác khai Đại Thừa lần nâng và tuyển chọn bậc tu Nhất Thừa. Đắc Bản Thể Chân Tâm Tối Thượng bắt đầu hướng đạo cho xây đắp căn cơ Tối Thượng ,mới khai riêng cho bậc này tu tập Mười danh hiệu, chia ba phẩm. Có chia ba phẩm phân định căn cơ chúng sanh ở phẩm nào mới thấu đạt Tam Muội phần Tối Thượng Thừa. Ngài khai thị tôi còn nhớ rõ: Bồ Tát tùy duyên mà thuyết pháp cứu độ chúng sanh. Vì chúng sanh như nồi đất mỏng phải nương chìu, phải lai trần độ sanh cho đến khi Nhất Sanh Bổ Xứ là kiếp chót Thành Phật mới quyết định chọn căn Xây Đắp Tối Thượng khai thị cho thành tựu Đại Bồ Tát nối tiếp Chánh Pháp mới Bát Đại Niết Bàn được. Hai phái Tiểu Thừa và Đại Thừa chưa hiểu biết thấu đáo căn cơ, thường phân tách đúng sai mà chướng đối vạn pháp. Bậc tu theo Pháp Thân không còn lựa chọn pháp cùng tu Ứng Thân hiện sanh không chướng thì được song tu gọi là bậc Xây Đắp Căn Tối Thượng vào con đường Tôn Chỉ duy nhất Viên Giác. • Bậc Đại Thừa phải trải qua vô số kiếp vào Nhất Thừa. Từ Nhất Thừa cũng phải trải qua Vô Lượng kiếp đặng Vô Lượng Thọ pháp giới, tỏ vô Lượng Nghĩa Pháp Giới đến Bồ Tát thấu đạt tận tường tánh chất pháp giới gọi là pháp tánh diễn hóa làm bậc tu mê lầm. Bậc xây đắp căn cơ không còn tùy duyên mà quyết định xây đắp con đường tu sao cho đến Chánh Giác thành Phật gọi là Tối Thượng Xây Đắp Căn Cơ. Bậc nầy đã vào Bất Thối Chuyển, đã đạt Bất Khả Tư Nghì Bồ Tát vào Đại Bồ Tát . • Bậc Xây Đắp Tối Thượng là bậc tu con đường đến tận giác pháp Giới, chung quanh pháp giới đều tận thấu tỷ mỷ chẳng thiếu sót sự diễn hóa của nó thành tựu Không Tướng mà thấy đến tận Giác Tướng Đại từ đó mới minh định thực hành mười danh hiệu chia ba phẩm./- 63. Mười Danh Hiệu Chia Ba Phẩm • "Từ phẩm thứ nhất đến phẩm thứ ba. Bậc nầy quán Như Lai, chỉ cho tất cả tâm quán Như Lai, hành sự Như Lai ấn chỉ cho tất cả hành dụng nương Như Lai, cứu độ bình đẳng, từ hàng Tiểu Căn đến Đại Căn thảy đều tận độ. Đạo hạnh trí tuệ không hai. Cúng dường Như Lai Thề Nguyện Sự. Sở đắc Chánh Biến Tri, chung cùng với tất cả chúng sanh hóa độ, Nghiêm Túc Độ, thực hiện Chứng Tri Độ, Phổ Độ cứu khổ phiền não độ nên xưng tán: Như-Lai, Ứng-Cúng, Chánh-Biến-Tri. Đó là Hành Dụng Phẩm." –T.V. Quán Như Lai có nghĩa là quán sát, soi xét tất cả nơi Nghe Thấy Biết. Vì đâu đâu tứ loài không thể rời Nghe Thấy Biết để sống. Bồ Tát quán Như Lai hành sự không Diệt, không sanh nơi Nghe Thấy Biết, điểm chính yếu để tu đến sở đắc là nương Như Lai hành dụng nơi Nghe Thấy Biết. Do đó Bồ Tát cần thâm nhập sâu Như Lai nên mới cứu độ tất cả chúng sanh tùy duyên, khéo thuyết, khéo chiều đưa chúng sanh và nâng dần đến phát tâm cầu Tri Kiến Giải Thoát như Bồ Tát. Chúng sanh gặp Đại Bồ Tát xây đắp Tối Thượng Căn được lợi vô kể. Vì sao? Vì tu không đắc đạo cũng được Phước Báo Nhân Thiên. Bởi vậy gặp Bồ Tát chúng sanh được cho học Làm Thánh, có rớt Thánh cũng được làm người Nhân Thiên Hạnh. Còn học làm người không bao giờ làm người đặng, chính chủng tánh Địa Ngục, Súc Sanh, Ngạ Quỷ đưa chúng sanh đi thọ báo trả nợ miệng phải bị sinh làm loài súc vật thật khổ biết bao! Chúng sanh có được nhân duyên tu hành theo vết chân chư Bồ Tát khi sở đắc liền được Bồ Tát Ấn Chứng trực chỉ để nhập thể bình đẳng tùy tần số tu chứng gọi là được chứng minh nhập thể vũ trụ. Hàng Đại Bồ Tát biết từ nơi Chánh Biến Tri có ba lối thuyết pháp độ sanh: • Một là Ấn Chỉ nói gọi là quyết định nói thẳng chỉ thẳng cho trực giác sự lầm mê. • Hai là phương tiện nói cho bậc tu quanh co nhận định được quay về tu Tự Tánh Trực Giác. • Ba là tùy thuận nói vì bậc này nặng sắc tướng âm thanh, nặng tổ chức cầu đạo, để bậc tu vừa ý vì Bồ Tát thực biết không thể nói Trực Chỉ cứu độ, chủ yếu giữ Đạo Hạnh trí tuệ nơi Bồ Tát . Nơi hành dụng là phẩm giá trị vô kể của Đại Bồ Tát sau trực giác đầy đủ Chánh Biến tri tối cần cho Hành Dụng Phẩm. • "Phẩm thứ hai: Vì nhìn nhận tất cả chúng sanh đang lẫn lộn nơi luân hồi sanh tử, sự tường tận đường đi của cái Mê, lối về Chánh Giác, do căn tánh tập nhiễm, tập ái trưởng thành tập khí sanh tử, từ nơi sanh mạng phải thọ mạng theo pháp giới, chia ra từng phần, từng các cõi, nó không ngoài ngũ trược ác trược nơi kiếp trược, phiền não trược, kiến trược cùng mạng trược, nên thề nguyện khai thị làm cho chúng sanh Kiến Thị (Tri Kiến) lại ấn chỉ cốt Trực Thị (Thị Chứng) sở đắc Tam Miệu Tam Bồ Đề, nên mới xưng tán là Minh Hạnh Túc, Thiện Thệ, Thế Gian Giải. Đây là phẩm thứ hai Diệu Dụng Phẩm." –T.V. Thế nào là tập khí sanh tử? Chúng sanh mê lầm pháp giới, phải thọ sanh theo tánh tập nhiễm nơi chúng sanh tánh, bậc tu hành dụng cho đến khi đạt được con đường Giác Ngộ đến Đại Ngộ, Liễu Ngộ nhưng con đường nầy chưa rốt ráo còn sanh tử. Nhiều bậc A LA HÁN còn lầm cho là đã hết sanh tử, phải thi hành Tịnh, Bất–Tịnh, Hữu–Tướng, Phi–Tướng mới biết đã trơn liền chưa, nếu thấy biết còn loạn tưởng do nghịch hành mà khởi sanh là còn vi tế sanh tử, gọi là Tập Khí Sanh Tử. Phần này nếu sở đắc hoàn toàn Chánh Đẳng Chánh Giác cũng phải hành thâm nhiều kiếp mới thấu đạt tỷ mỷ tập khí mới hết bệnh, hết bệnh chớ chưa phải khỏe mạnh còn phải đợi thời gian phục hồi nữa. Cho nên nhiều vị tu đến Liễu Ngộ là đã khá còn phải từ A La Hán bước qua khúc eo vĩnh cửu sang Nhất Thừa vào dòng Bồ Tát là cả một vấn đề nên mới có vô lượng kiếp. Sớm lìa Ngã, Ngã sở may ra kịp rút ngắn thời gian thọ giới tăng thượng mạng mới chu đáo gặp Đại Bồ Tát khai ngộ sâu thêm nữa. Khi được chư Phật chứng minh cho lập chi tiết nguyện bậc này phải trải qua khắp xứ cốt thâm nhập đặng tỏ rõ sâu đậm ngũ dục, ác căn, phiền não, mắt thấy đầy đủ các tướng pháp giới làm cho thân mạng bị sa vào nơi sanh tử vi tế. Từ đó Đại Bồ Tát thề Đại Nguyện diệu dụng làm cho chúng sanh thấy biết tại chỗ sự lầm mê mà tri kiến pháp giới bị thọ khổ hiện tại sau chúng sanh sở đắc. Đại Bồ Tát diệu dụng thông suốt đúng đắn toàn chân sáng tươi bình dị gọi là Minh Hạnh Túc. Dù khó khăn thề vượt qua Thiện Ác tận độ chúng sanh mới thấu đáo Toàn Thiện gọi là Thiện Thệ. Lại diệu dụng Tam Muội điều động Tam Muội ra vào viên thông làm rung chuyển Tam Thiên mà Tiên Thần Thánh cũng không biết cốt cứu an chúng sanh trên quả Địa Cầu này cùng Tam Thiên Thế Giới hoàn tất cứu an chúng sanh gọi là Thế Gian Giải. Đó là phẩm thứ hai Diệu Dụng Phẩm. • "Phẩm thứ ba: Bậc này chưa bao giờ suy tưởng thời quá khứ hay mong mỏi đến vị lai. Nhất Ngôn Tri Kiến Phật nên tận dụng hiện tại thể tánh hiện tại mà hóa giải Phật Pháp bất ly thế gian giác. Tất cả nơi lầm lạc của chúng sanh thuận nghịch đều khai hóa, lại vì Đại Bi Đại Trí mà xây đắp tất cả có thiện căn thiện chí, khai hoang vô minh đặng Trực Giác. Vì sao? Vì bậc này cương vị Giác Tướng Chân Như, còn tất cả từ Thiên đến Tiên nơi tứ loài đang còn hư vọng, bị Thọ Ngã Giả Tướng, đang còn suy tưởng quá khứ, mộng tưởng vị lai nơi ba thừa Chánh Báo Phước Điền, do nơi thực tại hiện tại ấn chỉ mới gọi là Thiên Nhân Sư, Điều Ngự Trượng Phu, Vô Thượng Sĩ, Thế Tôn, Phật." –T.V. Bậc thật tu ban đầu chăm lo sửa tánh xấu, giải đố tật xấu là hơn hết, sau trực giác được vô minh. Từ mỗi lời nói, mỗi hành động dù nhỏ nhặt cũng không biết đúng sai dễ sanh chướng đối gọi là vô minh. Bậc không nhận định được chân pháp dễ phát sinh nghi chấp cũng gọi là vô minh. Bậc không tu chỉnh hiện tại lại hoài vọng viễn ảo xa xôi cũng gọi là vô minh. Tỏ được nguồn mê nơi vô minh từ Trực Giác bước vào Giác Tướng, đến lúc mỗi mỗi đều giác tướng chủng nghiệp đầy đủ gọi là Giác Tướng Chân Như. Chư Thiên, Chư Tiên đến chúng sanh tứ loài đều còn khởi vọng huân tập thành định tưởng bị thọ giới rất khó tu thực tiễn nên không trực giác. Do đó bị thọ ngã giả tướng, lấy suy tưởng lấy lý trí tu hành trở thành hư vọng. Đến phần sửa tánh xấu xong phải xem xét kỹ tánh tốt: Tỷ như tốt, tốt quá thành dại dễ bị kẻ mưu sĩ hại. Đến giai đoạn trực giác xấu tốt, thiện ác, đúng sai mới bước sang Giác Tướng toàn diện Chân Như. Lúc bấy giờ mới khéo thuyết đạo đúng căn cơ tứ loài lại biết nương nơi Trực Tâm mà đặng Trực Thọ, nương nơi Giác Tướng mà tỏ Thực Tướng nên Bồ Tát Hiện Nhất Thiết Sắc Thân Tam Muội mỗi mỗi đều vẹn vừa không dư cũng chẳng thiếu, thực sự quân minh. Hằng ngày ra vào nơi nghe thấy biết viên dung được đầy đủ uy nghi, đầy đủ uy lực bước vào Đại Bồ Tát chờ thời cơ làm tiếp một kiếp Nhất Sanh Bổ Xứ thành Phật thấu đạt được Thiên Nhân Sư, Điều Ngự Trượng Phu, Vô Thượng Sĩ, Thế Tôn, Phật. Với Hịch Chứng Minh Vũ Trụ được ban hành làm ổn định chúng sanh, làm an lành chúng sanh. Đức Vô Thượng Tôn Di Lạc còn lưu lại mối đạo qua việc ban hành Hịch Bồ Tát Ma Ha Tát cho một vị được thọ lãnh nắm giữ ở hiện tại và vị lai khai ngộ chư tổ kế tiếp lưu truyền mối đạo 5.000 năm theo tôn chỉ Đức Thế Tôn DI LẠC. Ngài đã thực hiện xong THẾ TÔN HẠNH vậy. "Đối với bậc thực hiện Mười Danh Hiệu thật khó gặp khó biết. Vì sao? Vì bậc này Đồng Ứng nơi bổn nguyện Tam Thế mà thị hiện, từ ngôn ngữ hành động không khác với nhân sanh do đó nên Thánh Tăng Bồ Tát đều chưa biết làm sao thiểu căn kém trí hay đặng sự hành dụng Như Lai Tánh, nơi diệu dụng đều trưởng thành Như Lai Diệu Dụng thì sao? Vì Năng Sở Vô Ngã, Đại Ngã phát huy đồng đẳng Tam Thế mà Hành Dụng Diệu Dụng. Chỉ trừ Bồ Tát Hạnh Nguyện Bát Nhã Trí, dùng Giác Tướng mới nhìn nhận đặng phần nào thôi, nên mới gọi là khó gặp. Đến nỗi cận thuộc, sống chung hay thân cận không hề hay biết, làm sao nhân sanh quần chúng nhìn nhận đặng? Trừ ra những bậc tin vâng thực tiễn tu cầu. Nhờ sự tu cầu kết quả cạn sâu thâm nhập nhiều ít mà ái kính giáo ngôn, chớ nào ái kính tin vào nơi Bậc Tối Thượng để ái kính?" –T.V. Như vợ Ngài là chân Phật tử sống chung thân cận cũng không hề hay biết sự Diệu Dụng của Ngài thật là đúng. Chỉ tới mức thi hành Hạnh nguyện Bát Nhã Trí thấu đạt Giác Tướng mới nhận đặng phần nào thôi. Do đó nhân sinh cùng Bậc tu chưa tới mức Bồ Tát Ma Ha Tát không sao hiểu Ngài được một tí gì. Ngài sống rất bình dị, cũng đi phố khi cần, cũng đi dạo không một cử chỉ cầu kỳ. Ngài sống rất bình dị nhưng đầy lòng Đại Bi Chân Phật Tử đều ái kính, khi đăng đàn khai thị rất trang nghiêm. "Hoặc giả hàng Bồ Tát, tu hạnh Bồ Tát, Bồ Tát chứng tri có thể nhận thức Bậc chỉ giáo Thiện Tri Thức này chính là Bậc Tối Thượng Tôn. Nhưng vẫn ngờ vực chỗ Diệu Dụng, do đó nên còn phải tu, đến trình độ mức độ Chứng Thị, thời vạn sự nó đã qua, thời xây đắp của Vô Thượng Sĩ đã hoàn toàn Bát Đại, thử hỏi làm như thế nào để nhìn nhận đến Nhất Tâm Như Tướng Tận Giác Chân Tôn." –T.V. Dù cho nơi hội trường có vị tu chứng tri Bồ Tát cũng chỉ biết Ngài Diệu Dụng rất ít. Bậc này vẫn tin Ngài là Phật Tối Thượng Đẳng nhưng sau này khi Ngài nhập Bát Đại mới Hồi Chân Tôn, lúc đó lời nói cử chỉ của Ngài hồi trước nay được thấu hiểu, nhưng khi trí đã hiểu, đã tới mức nhận được Ngài thì Ngài đã Bát Đại. Bậc này chỉ còn nương vào Như Lai dụng Tam Muội gặp Ngài cùng Chư Phật mười phương mà thôi. Thật khó khăn thay! "Con đường tu Phật, tu cầu Tri Kiến Giải Thoát khó khăn. Chưa phải Chân Lý nhà Phật khó khăn hay Đạo Phật khó khăn, chỉ Bậc tu thiếu khuyết lầm nhận khó khăn vì bước tu sai lệch tăng giảm, đúng cũng chưa đúng với tinh thần CHƠN THỂ, trở thành biểu tượng nhiều phương diện, định hướng khác nhau, cho đến nguyện vọng tu cầu hình thể lòng tín ngưỡng khoảng cách xa nhau. Bậc xuất gia cho đến Bậc tu hành tại gia có một tự tâm Minh–Đạt. Tự tánh Di Đà nơi quan niệm sai khác nhau không thể nào diễn giải hết đặng. Phật tử tu rất đông. Bậc tỏ Chơn Thể pháp lại hiếm. Bậc sở đắc càng hiếm hơn. Kể ra thống kê từ mười ngàn vị, chỉ có một vị Chứng Tri Chơn Thể Pháp, biết đường lối Đạo Phật tu Phật. Từ một vị đến mười ngàn vị biết tu Phật chứng tri đường lối Đạo Phật, chỉ còn một Bậc Đắc Chân Lý. Từ một Bậc đắc Chân Lý cho đến trăm triệu đắc Chân Lý, chỉ còn lại một Bậc Chánh Tín Thành Phật." –T.V. Vì do Bậc tu vừa sở đắc vội tự mãn, tự tôn nên dừng trụ tu chứng. Vì Tín Hạnh Nguyện chưa đủ lại chấp Thánh Tăng lơ là Hạnh Nguyện, bị dừng trụ tu chứng. Vì Giới Định Tuệ chưa suốt lại vội cho đã tận thấu, bị chủng tánh tự mãn dừng trụ tu chứng. Vì Tứ Nhiếp Pháp chưa thực hành đúng mức, Lục Ba La chưa đồng sự nhiếp thu nên Mật Đa chưa rốt ráo, bị dừng trụ tu chứng. Vì chưa tận trơn liền Vô Sanh Pháp Nhẫn. Thường bị Tịnh Biệt tu chứng chứ chưa đúng Giác Tịnh. Tự Tại Vô Ngại trong thích muốn gọi là Kiến Dục. Bất Tịnh, Phi Pháp, Phi Tướng theo dục vọng cũng bị dừng trụ tu chứng. Thật vô kể chứng bệnh dừng trụ tu chứng. Đức Long Hoa Tăng Chủ Di Lạc Tôn Phật phải ghi lại để nhắc nhở dù cho có hàng trăm triệu Bậc đắc Chân Lý kết chung thời Hạ Lai này chỉ còn mỗi một Bậc Chánh Tín thành Phật! Tốt nhất là Bậc tu chứng nên lìa Ngã, Ngã Sở theo vết chân Đức Bổn Sư Thích Ca Mâu Ni Phật nay tiếp nối Đức Di Lạc Tôn Phật để khỏi dừng trụ tu chứng. "Đạo Phật đứng trước thời Hạ Lai, Bậc tu hành kém yếu năng lực tinh thần, con đường tu suy giảm, đa dạng thường chấp hay chấp, tự mãn lý chướng thêm lười trễ hiếm Bậc đánh đổi tu cầu giải thoát nên khó tin giải thoát, chỉ tu cầu liễu sanh qua từng cảnh giới tu cầu Phước Báo Nhân Thiên thì làm sao tin đặng Bậc hoàn toàn chánh tín giải thoát? "Nói đến Chánh Tín Phật Đạo thì vô lượng vô biên công đức giải thoát. Vô lượng vô số vô xứ cảnh giới Giải Thoát. Vô lượng vô biên vô cùng tận Pháp Giới Giải Thoát. Vô lượng thọ vô lượng nghĩa Liễu đạt giải thoát. Vô lượng vô tận sanh diệt diệt sanh giải thoát. Vì sao? Vì Phật Pháp vô biên thề nguyện học không trụ một Pháp, thấu tận vạn pháp giải thoát. Sự sự Như Lai thề nguyện sự vẹn, diện kiến Như Lai giải thoát." –T.V. Bậc tu đi đúng Chánh Tín không trụ tu chứng, mỗi khi giải thoát được một pháp thì vô lượng vô biên vô cùng tận cũng được giải thoát. Theo vết chân Phật thị hiện lần phát hiện ra thì dễ, không gặp, không biết vết chân Phật thì thật là khó. Vì Phật Pháp vô biên thề nguyện học nên Bậc không đủ Chánh Tín mỗi vị một trụ chấp tu chứng mà không tận thấu vạn pháp Giải Thoát. Đa phần thoát sanh cảnh giới này lại bị vào cảnh giới khác vẫn bị Giới, bị Cảnh không ra khỏi vòng đai Pháp Giới nổi. "Bậc tu tín ngưỡng Tâm trơn liền vẫn giải thoát. CHÍ Bất Biến giải thoát. DŨNG Bất Thối giải thoát. Nương vạn pháp tu Bát Nhã trọn Trí Bát Nhã giải thoát. Cảnh không nhiễm trước, tình không oán hận giải thoát. Không ái nịch, ái dục, không tập khí giải thoát. Diệt sanh không nhàm chán giải thoát. Sự không chê, Lý không trụ chứng giải thoát. Giải thoát từ điểm nhỏ cho đến trùm khắp vô biên cùng cùng tận giải thoát. Chớ nên lựa chọn kén lường điên đảo vọng cầu nơi việc lớn mà bỏ những việc nhỏ, nếu dừng trụ không bao giờ giải thoát." –T.V. Đối với Bậc đang còn tu Phật Thừa, mỗi bước đi, mỗi lời nói, mỗi tư tưởng đều vào thể giải thoát rốt ráo liền lạc ngay trong cảnh sống hiện tại không còn tập khí. Bi Chí Dũng giải thoát, Bất Thối giải thoát, ý thức từng khởi điểm giải thoát, từng pháp nhỏ giải thoát trùm khắp vô tận vô biên giải thoát. Đối với Bậc tu hành Tối Thượng Thừa đã tận thấu chúng sanh bất thường, tánh tình thường thay đổi, từ lời nói, cử chỉ thường chấp, nhập tâm chỉ một pháp nhỏ, khi xuất tâm thì lớn lao như lửa bùng phát vô cùng tận. Còn hành động cũng bất thường, khi nhập vào phát tâm rộng lớn tưởng chừng như Chúng Sanh và Như Lai - Phật là một, nhưng lúc xuất thì tánh chi ly nhỏ nhen đến mức như không có gì. Do như thế nên chi dễ nghi chấp mà dừng trụ phải giải nghi giải thoát - đến Tối Thượng Đẳng Chánh Giác. "Nói về TƯỚNG và TÂM, thì Tướng đã giải thoát từ lâu. Tâm chưa giải thoát. Khi Đức Thế Tôn Ngài đạt Vô Thượng Chánh Giác, Ngài nói: Lạ thay! Tướng đã giải thoát từ lâu, ngày nay ta mới giải thoát." –T.V. Tướng do hợp như thế nào liền hóa như thế ấy, tự nó dung thông không ngăn ngại. Còn Tâm không chịu hợp chê khen, tốt xấu, thiện ác... còn ở tương đối không hợp hóa được. Vì vậy Tâm bị vướng mắc Thiên Ngã, Nhân Ngã, Thọ Ngã giả tướng trở thành Chúng Sanh Giới nên có trọng lượng và giới hạn, mỗi mỗi tự tạo các nghiệp chủng, từ nghiệp chủng tạo thành các cõi, các cảnh giới không ngoài Thượng Sanh, Hạ Kiếp, Chánh Báo, Thọ Báo qua từng kiếp sống không ngừng. Tùy mức giới sanh Hợp Hóa, giải trừ tâm vướng mắc thực hiện Tứ Nhiếp, nhiếp thâu vạn hạnh trở về Nhất Hạnh. Bồ Tát tự nguyện Hành Dụng giải giới không còn là Chúng Sanh Giới, thoát sanh Pháp Giới vào Tối Thượng Thừa tức Bồ Tát Ma Ha Tát diệu dụng tận độ sanh, giới hạnh viên dung thấu đạt tận thành Chánh Giác. "Khi được tu, biết tu là con đường xây dựng Hóa rồi mới Sanh, chưa biết tu sửa, chưa biết xây dựng thù hận tranh giành gây hấn là diệt tồi phá đều bị hóa, bị cộng nghiệp, phải lâm nơi diệt rồi mới sanh Hạ Kiếp hay các loài cầm thú. Vì sao? Vì cho chúng sanh bình đẳng tứ loài sanh hóa bằng noãn–sanh, thai–sanh, thấp–sanh cùng hóa–sanh, thành thử hạ sanh diệt sanh hạ liệt sanh nơi hạ tiện người và súc vật."–T.V. Bậc Tối Thượng Đẳng vào Tối Thượng Thừa thật biết bình đẳng Thượng Sanh Hạ Kiếp của chúng sanh tất chi ly, nếu hành động tồi phá bị sanh nơi loài cầm thú chứ không làm người lại được. Vì nó làm như thế nào nó lãnh như thế ấy chớ chẳng ai bắt nó phải như vậy cũng không ai cho nó lên thiên đàng được. Thật khó giảng giải cho hết được, duy nhất chúng sanh cùng bậc tu đã cống hiến đời mình cho Đạo cầu Diệu Quả hãy Chí Dũng phát tâm Đại Bi, Đại Nguyện, Thề Nguyện Đại Thành, phải Đồng Năng, Đồng Lực, Đồng Hóa với Phật mới trưởng thành Đồng Đẳng Tối Thượng Đẳng Giác. Bậc Thiền Trí còn xa với Bậc Giác Trí, Bậc Giác Trí còn quá xa, chưa nhận được Phật Nhãn của Bậc Tối Thượng Đẳng đã Đồng Đẳng, Đẳng Giác sạch sẽ Chánh Giác. Bậc Thiên Nhãn Thiên Nhĩ chớ vội dừng trụ, còn phải thâm nhập giới tận, tận tận giới chánh tín gọi là thậm thâm Bát Nhã Giới./- 64. Tối Thượng Công Đức Phẩm "Tinh thần cao cả, do nơi tinh thần hồi hướng tâm nguyện giải mê, phá nghi chấp, khai hoang lần tiến những gì chưa hiểu đặng hiểu, chưa thông đặng thông làm chốn an nhàn nguồn vui bất tận. Bậc đang sống biết sống như thế chưa phải lối sống tầm thường. Vì sao? Vì chỗ sống của mỗi địa giới như: thế gian có thường tình phục diện thế gian. Cõi Trời (Thiên) củng cố địa giới thường tình của Thiên. Dưới sự nhận định nhãn quan đâu đâu cũng thảy đều thường tình chung khắp các cõi, các cảnh giới cho đến các Quốc Độ, Tịnh Độ đều thường tình mỗi nơi mỗi chốn. Vì sao? Vì còn giới vẫn thường tình, chỉ có Hồi Hướng Công Đức, bao nhiêu công năng tu hành, bao nhiêu chủ lực sung mãn thảy đều cúng dường Như Lai mới cao cống vô lượng Công Đức, vô biên vô tận Chánh Giác là Tối Thượng Phẩm." –T.V. Dù Bậc tu lâu đến đâu mà còn Giới chưa thoát khỏi vòng đai Pháp Giới vẫn thường tình. Cho nên cõi Thiên, Tiên bỏ thế gian nơi Địa giới lên đến Thiên giới, Tiên giới cũng không thoát sanh pháp giới, vẫn bị sanh tử luân hồi, nên ông Trời, ông Thiên Tiên dù cho thần thông tài phép đến đâu mà còn Giới là còn sanh diệt, diệt sanh. Chỉ hồi hướng công đức Như Lai, chung cùng với Như Lai nơi Tối Thượng Phẩm cao cống khó nghĩ bàn. Bậc biết khai sáng những bí ẩn của Vô Minh, biết khai hoang vô minh là không thường tình. Vì Bậc này dám đánh đổi tất cả cốt dung thông đến viên dung pháp giới dù ở địa giới thế gian này hay còn ở thiên giới nơi cõi trời cũng bản năng cúng dường công đức Như Lai là tối cần để cầu Diệu Quả Bồ Đề. Đó là vô lượng vô biên công đức là Tối Thượng Phẩm Công Đức. "Thiền Sư đưa tay hái cành lá, Ngài ngồi lại tảng đá, nét mặt cảm mến như nhiên. Ngài nói: Tướng giải thoát từ lâu. Cây cỏ, núi sông, hoa quả vẫn làm tròn bổn phận dung dưỡng nhân loài. Nay ta nói lên tâm hồn Giải Thoát. Thế nhân mấy ai biết đặng Ta? Họ chỉ nhìn nhau bằng đôi mắt tầm thường. Ta chỉ biết ta là đủ, vì sao? Vì nó như thế. Khi Đức Thế Tôn đang còn tại thế, chưa chắc nhân sinh nhìn đặng Ngài Vô Thượng, Ngài đã từng công bố: chưa hẳn có Bậc đã tin Ngài. Lúc bấy giờ tinh thần Tối Thượng Quả Vị Đẳng Đẳng Giác. Chỉ Ngài thấu Ngài mà thôi. Ngài nhập Niết Bàn lời Ngài sáng rạng, ngôn từ trở lại Bảo Châu. Cao quí thay! Vô Lượng Công Đức Phẩm thành Xá Lợi." –T.V. Đức Chí Tôn đã tận tình làm tròn bổn phận. Nay Đức Thế Tôn Di Lạc tiếp tục phải làm tròn miễn nhân sanh ưa chuộng với Tâm hồn Giải Thoát vẫn được toại nguyện không khác, vẫn được sống trong Chân Lý Hải miễn sao Bậc tu thời Hạ Lai biết đồng nguyện rộng rãi phát tâm Hồi Hướng Công Đức Phẩm: "Ta tuyên minh cho tất cả các Bậc tu cầu Diệu Quả phải Hồi Hướng Công Đức Cúng Dường Như Lai chính lời này Tối Thượng." –T.V. Đây là lời chí tình của Đức Thế Tôn Di Lạc nhắn nhủ Nhân Sinh thời Hạ Lai./- 65. Thể Dụng “Bồ Tát phát tâm dũng mãnh, tu nơi tâm dũng mãnh, Tối Thắng vạn cảnh cách ngăn, chí không nhàm chán, năng lực bồi dưỡng thêm đến giai đoạn Trí Lực. Trí Lực là một trí chúng sanh vô biên thề nguyện độ. Trí này chịu đựng tất cả, tùy thuận tất cả, dung hòa tất cả, nhiếp thâu tất cả trưởng thành Nhất Thiết Trí. Lại nữa: Trí Lực Công Đức Phẩm cúng dường Như Lai Phật, Trí Lực trải qua vô tận thế giới Đại Hải Trí thành đạt Nhất Thiết Trí. Trí Lực khó giải hết đặng, dù mang tất cả Tam Tạng Kinh để tán thán Công Đức Phẩm, Bồ Tát độ sanh trải qua hằng hà sa số kiếp, mỗi kiếp có vô lượng công đức, thời công đức ấy nhiếp trí, nhiếp tuệ, sáng soi khắp Diệu Quang, Phổ Quang, hằng hà sa số Quang, thành đạt Năng Lực, Tiềm Lực, Chủ Lực, Nhẫn Nại Lực, Bất Thối Chuyển Lực, tận tận vượt tầm bên kia lực mới có Nhất Thiết Lực tận tận hoàn Chánh Giác. Thiền Sư nhìn hư không tận tận cũng thế.” –T.V. Chúng sanh Vô Biên Thề Nguyện Độ có nghĩa vô biên Chúng Sanh Tánh, vô biên vọng tưởng phải nhận định độ cho sạch chẳng còn một chủng nào chưa độ mới có Trí Lực. Trí Lực gọi là Đại Hải Trí đã thành tựu Nhất Thiết Trí. Bồ Tát phải dũng mãnh tối thắng vạn diễn cảnh, không còn ngăn cách dừng trụ, xem diễn cảnh là món ăn của Bồ Tát nên chí bền không còn khởi nhàm chán, chịu đựng độ khổ, hóa giải tùy thuận, dung thông tất cả trí nơi chúng sanh thành tựu Nhất Thiết Trí. Nhất Thiết Trí không còn tăng hay giảm, không vứt bỏ cũng không giữ lấy. Thiếu kém công đức thì phải bổ sung, còn tăng lên phải giảm xuống mới thông con đường lui tới, tới lui nơi vạn pháp được Trực Giác quân minh thông suốt Bát Nhã Tâm Kinh. “Trí dụng phân phối vô lượng vô biên vô số Trí, chung gồm tất cả Tam Thiên từ Nhân Sanh Trí, Thiên Sanh Trí, Tiên Thần Thánh Hóa Trí, Bồ Tát Trí cùng Phật Trí, đã nơi dụng hệ thống Trí Dụng, dù cho Thiền Trí, Giác Trí vẫn chưa thoát khỏi Dụng. Vì sao? Vì Thiền Trí vẫn Thiền Dụng, Giác Trí không ngoài Giác Dụng. Có như thế nên tu lìa Ngã, Ngã sở chính lìa Dụng, không Trụ, không chứng pháp Bất khả đắc lìa Dụng nhiếp thâu bá thiên vạn trí, trở thành Bát Nhã Trí, tỏ rõ các chủng trí không thiếu sót, sở đắc Nhất Thiết Chủng Trí, sạch Dụng Nhất Tâm Đảnh lễ thành Phật.” –T.V. Tánh là cái Dụng của Như Lai, Trí cũng là cái Dụng của Như Lai, cho đến Pháp Thân, Pháp Giới, Pháp Tánh, Như Lai Tạng, Chân Như cũng là cái Dụng. Trí Dụng có vô số lớp lớp như Nhân Sanh Trí, Thiên Sanh Trí, Tiên Thần Thánh Hóa Trí, Bồ Tát Trí cùng Phật Trí bao gồm tất cả Tam Thiên. Dù cho Thiền Trí, Giác Trí cũng là Dụng của Như Lai. Bậc tu Giác Trí cũng cần lìa Ngã, Ngã Sở không trụ, không đắc mới thoát khỏi Dụng. Vì còn Dụng là còn Giới. Cần nhiếp thâu bá thiên vạn trí dung thông trở thành Bát Nhã Trí tỏ rõ từng chủng trí chẳng còn thiếu sót chủng trí nào mà sở đắc Nhất Thiết Chủng Trí. Bậc tỏ thông Nhất Thiết Chủng Trí phải hành đầy đủ Tịnh, Bất–Tịnh, Hữu–Tướng, Phi–Tướng thuộc hàng Đại Bồ Tát mới biết tận tường thực hiện viên dung. Nói thì dễ, đọc hiểu nhưng tâm trạng thực hiện thoát Dụng Trí là cả vấn đề, tùy Chí Dũng giải tâm làm cho tâm thông. Bằng chấp trụ, tâm đứng yên bị sa vào Tịnh Biệt Tâm. Cần vượt chướng ngại cần nương nhờ Dụng đưa tâm thoát khỏi Dụng gọi là Giải–Thoát chớ không có chi Giải–Thoát. “Thiện tai! Thiện tai! Sơn hà đại địa cho đến toàn thể Chân Như đều lầm nơi Trí Dụng, mơ màng Giác Dụng. Hàng Bồ Tát, trụ mà không trụ lìa Dụng, viên thông, không đắc mà vượt tầm Trí Dụng, cho đến Kim Cang Kinh. Như Lai không thuyết pháp, Tu Bồ Đề không nghe pháp, cốt sạch Dụng chứng tri. Bằng Như Lai thuyết pháp, Tu Bồ Đề nghe pháp chứng tri, thì chứng tri nơi Trí Dụng? Khéo thay Chí Tôn vi diệu!” –T.V. Khi lầm mê Trí Hóa không sao kể hết, phải bị Dụng điều động Tâm. Bồ Tát phải giải dụng, tận thấu Dụng mà hóa cho sạch sẽ trơn liền Dụng. Bồ Tát tỏ thấu dừng trụ mà không trụ viên dung lìa Dụng. Không đắc mà đắc thoát Dụng. Tôn giả Tu Bồ Đề nghe pháp nhưng không chấp hiểu biết nơi-nghe được tự-biết cốt Trực Giác Trí Dụng. Bằng Như Lai thuyết pháp Tu Bồ Đề nghe pháp chứng tri thì chứng tri nơi pháp của Như Lai chứ chưa có tự-biết vẫn còn bị-biết nơi Trí Dụng. Không y Kinh cũng chẳng ly Kinh thoát Trí Dụng, không còn mơ màng Giác Dụng. “Trí Dụng là tấm tuồng Vật Hóa, vạn vật thảy đều hóa sanh sanh hóa, từ cây cảnh núi sông chung cùng nơi Dụng cho đến kiếp nhân loài chịu chung cuộc của Vật Hóa Sanh qua từng kiếp kiếp sanh hóa, muôn hình vạn tướng. Từ một nhân sanh, trải qua cho đến Chánh Giác đã từng làm vật hóa sanh theo Trí Dụng, nhiều lớp Dụng như: thú vật, hình thể vật, thượng cầm hạ thú, nhà giàu, nhà sướng, nhà khổ đủ mùi vị, có nghĩ Nhãn Quang nhìn thấy bao nhiêu loài thời chính mình đã từng vướng bị vật hóa sanh ra loài ấy. Gọi là Luật Nhân Quả không cùng. Do nơi đâu mà có như thế, do nơi Dụng mà Vật Hóa Dụng Sanh.” –T.V. Tất cả núi sông, cây cảnh, các loài súc vật cho đến Nhân sinh cũng không thoát khỏi cái Dụng của Như Lai. Do Trí Hóa mà bị Dụng sanh muôn trùng. Nếu một nhân sinh đã từng nghĩ, đã từng thấy con vật gì là đã từng bị Dụng sanh làm con vật đó nhiều lần. Đức Di Lạc Tôn Phật Ngài đã từng thấu tận tận nên ghi lại. Thế mới biết Luật Nhân Quả không chừa một ai. Chủng tánh nó thế nào đầu thai làm giống đó không sai chạy. Diễn tả không hết được. Khi Đức Bổn Sư Chánh Đẳng Chánh Giác thành Phật, Ngài cũng đã từng bảo: Nhìn cát sông Hằng nhiều vô lượng vô biên, vô kể nhưng một hạt cát là một kiếp sanh tử của Ngài.Biết sự vật hóa sanh như vậy Chư Phật mới chí tình hướng đạo để Bậc tu sửa tánh không bị lộn vòng súc vật. Bậc tu cầu vái van xin không tu sửa tánh, còn bị Dụng sanh làm cầm thú là lẽ thường. Dụng này vừa dứt sanh Dụng khác gọi là sanh tử luân hồi. Con đường sanh diệt, diệt sanh nhiều kiếp đổi thay do tùy thói quen tập nhiễm kiến tạo thành hình. Nó muốn khởi ác, làm nhiều điều độc ác, nó phải vào nơi ác thọ nghiệp qủy, súc vật hạ cấp. Nó muốn thiện căn, thiện chí, nó về thượng sanh mà Chánh Báo Người, Tiên, Thần do nơi tánh tình cùng nơi hành sự của nó tạo thành. Thời Hạ Lai tàn canh, Đức Di Lạc Tôn Phật đã tận thấu nơi lầm lẫn của chúng sanh nên minh thuyết cho nhân sanh tứ loài nương theo y tôn, y chỉ đã vạch tu đến kết quả thành đạt mà thôi. Nếu hiện tại nhân sanh không tu sai lầm, còn giữ y chỉ của Đức Thế Tôn thì Đức Di Lạc Tôn Phật hạ sanh làm chi! Bồ Tát phát Đại nguyện tận độ chúng sanh từ nay vẫn nối truyền cứu độ tiếp chúng sanh cốt đánh thức chúng sanh. Lại còn dụng công ra vào sanh tử không nhàm chán tử sanh, trưởng thành Ma Ha Tát. Bậc Bồ Tát Ma Ha Tát sạch sẽ, thấu đáo không còn khởi Ngã Sở, thật tỏ Ngã Sở thảy đều Ngã Dụng vào biển pháp vi diệu thật tuyệt mỹ, lại trọn hưởng Bát Nhã, Ma Ha Bát Nhã Ba La Mật Đa./- 66. Thánh-Hiền Phật-Giác “Thiền Sư tĩnh tọa xong, Ngài lẩm bẩm hai chữ Thánh Hiền! Phật Giác! Hồn nhiên đôi mắt Thiền Sư in tuồng giao cảm mười phương sáng ngời tỏ vẻ vui tươi gật đầu nói: Thánh bổn tánh hiền! Phật đại diện Toàn Chân Chánh Giác nên gọi Thánh Hiền! Phật Giác! Hai cấp Thánh và Phật. Có chí dũng công năng tự thành Phật Thánh, nào phải mong cầu xin mà đặng? Về Thánh xuất thời chẳng thiếu chi, như hoàn toàn xuất Thánh rất hiếm. Vì sao? Vì con người chưa vẹn mười điều toàn mỹ “Nhân Vô Thập Toàn”, dù con người kết nạp bản năng toàn chân chăng năm, ba, bảy điều vẫn phục diện học làm Thánh vươn mình khai hoang làm Thánh Xuất. Thánh Xuất có nghĩa giải nghiệp Xuất Thánh, sạch nghiệp viên minh liền tự xuất, khi thành đạt không học vẫn Xuất Thánh.” –T.V. Tôi nghe như vầy: Thánh xuất là Bậc sở đắc Chân lý, mỗi Bậc sở đắc một môn, mỗi môn khi thâm nhập ích lợi vô kể cho nhiều ngành. Cũng như một pháp sanh vạn pháp, vạn pháp hồi một pháp. Bậc Thánh xuất tùy theo chuyên môn của mình mà triển khai cho từng lớp giải nghiệp, sau lớp này được Thánh xuất. Thánh xuất do nơi Chí Dũng, đức tánh thanh cao, bao dung thành hiền hòa. Bậc Thánh Xuất không còn tự mãn, tự cao, không còn tam độc nơi chúng sanh tánh, không còn tự mãn củng cố học hỏi tăng thượng có Hiền hậu mới Thánh Xuất. Bậc Thánh Xuất Thánh Nhân như Khổng Tử, Thánh Thiên như Lão Tử. Bậc Thánh Xuất nhiều thường hiện nơi thế gian, Bậc hoàn toàn Xuất Thánh rất hiếm. Vì chưa vẹn toàn mười danh hiệu như Đức Bổn Sư, như Đức Di Lạc thời Hạ lai đã hiện thể. Có Bậc thực hiện được Như Lai, Ứng Cúng, Chánh Biến Tri thuộc Hành Dụng Phẩm, có Bậc được Minh Hạnh Túc, Thiện Thệ, Điều Ngự Trượng Phu một phần của Diệu Dụng Phẩm. Không vị nào đủ mười danh hiệu Xuất Thánh. Bậc Xuất Thánh nếu ai có Đại căn gặp được đã khó, mà biết hưởng được Như Lai Phật nơi Ngài càng khó hơn. Biết được Ngài quá ư khó. Biết rồi mới y tôn, y chỉ không còn lầm lạc xuất Thánh. Bậc Xuất Thánh siêu đẳng hạnh Thế Gian Giải, khó nghĩ bàn. Bậc này giải nghiệp, sạch nghiệp được viên minh nên được tự xuất không cần học. Có tự xuất làm gì cũng được nên Ngài mới ban hành Hịch Chứng Minh Vũ Trụ theo ý Ngài tự xuất. Ai có quyền uy cũng chỉ là “Con Nộm” Ngài điều khiển từ xa nếu cần làm an lành chúng sanh. Dù có một rừng vũ khí tối tân, vi trùng học, nguyên tử hóa học, vũ khí bấm nút từ xa cũng không qua được “Quyền uy siêu đẳng bất nhường” này. Thật lắm, trăm ngàn chân thật, còn vĩ đại gấp triệu lần, văn tự không kể hết Bậc Xuất Thánh. Bậc Thánh Xuất không biết nổi Bậc Xuất Thánh. “Thiền Sư vừa giải đến đây, hai bàn tay Ngài đặt trên mặt bàn nhỏ, nhìn mười ngón tay, trầm lặng tiếp nói: Chánh Biến Tri là một danh hiệu Phật, bao la rộng rãi vô cùng, yếu tố sáng soi quân minh vô tận. Vì sao? Vì trí hóa tâm thức biến tri, nghề nghiệp biến trí, cải cách biến trí, biến trí tùy thuộc nghiệp, còn Chánh Biến Tri thuộc Giác Tướng về Như Tướng Kiến tri mà Tri Kiến Phật. Thiền Sư hai bàn tay đưa thẳng ngang tai rộng rãi mỉm cười tiếp nói: Chánh Biến Tri sai lạc thì Tà Biến Tri làm thế nào phân biệt? Như nhà Thông thái, gắng tạo thành thông thái chỉ là một con người tạo thành làm thuê cho thông thái. Phải có căn bản nơi chủ thể chủ tánh cao đẹp vững vàng gọi là đức tánh bao dung đến thành công thông thái. Đó mới thật chính thật mình thông thái.” –T.V. Bậc thông thái cần tạo cho mình có Chủ Thể Chủ Tánh để tự điều động sự thông thái. Bằng không có Đức tánh tự chủ bao dung thì sự thông thái này lại đi làm nô lệ cho một người nào cũng đem đến tai họa cho nhân sinh. Vì vậy Bậc thông thái còn tạo mối nguy hiểm bên cạnh cái lợi cho đời vẫn bị trí hóa sanh mạng lai sanh làm loài súc vật theo luật luân hồi thật tai hại lắm! “Đứng trước tinh thần hóa giải vô minh ngăn cách, đứng trước tinh thần lướt qua các trở ngại phân chia trở nên lành lẽ, đứng trước tinh thần chống trả bản thân lười trễ thật là trí dũng vô cùng, khó nghĩ bàn những Bậc Đại Hùng từ mê lẫn đến Ngộ. Từ thế gian đến xuất thế gian tinh thần xây dựng nên sự việc tất cả, thiếu tinh thần bị tê liệt tất cả thì thử hỏi tinh thần là cái gì? Lợi hại như thế? Tinh thần chẳng là cái gì mà cái gì cũng đoạt đến. Tinh thần Bất Khả Tư Nghì, khó nghĩ bàn đặng. Tinh thần là chủ thể năng lực Như Lai. Vì sao? Vì Phật Ấn Chỉ Như Lai vô sở tùng lai, Diệt vô sở trú, Cố danh Như Lai. Hàng Bồ Tát đại nguyện Như Lai vô biên thề nguyện sự. Bồ Tát hành dụng phụng sự cứu giúp chúng sanh, chúng sanh là hành dụng theo thể dụng vận chuyển Như Lai, nên Bồ Tát đem hết tinh thần phụng sự thành tựu Chánh Biến Tri, Kiến diện Như Lai Chủ thể Năng lực Như Lai thọ ký.” –T.V. Bậc trí đều công nhận tu hành thành hay không thành đều do tinh thần. Tinh thần thù thắng cái gì cũng đoạt được. Chư Phật Chư Bồ Tát cũng theo con đường này, nó rất thực tiễn. Tinh thần là Chủ thể có năng lực vô biên từ nơi Như Lai, làm chúng sanh và Như Lai là một không thể nghĩ bàn. Bồ Tát nhập thể mới xác thật Như Lai không lui tới, không chỗ trú. Đâu đâu chủng tử Như lai cũng sẵn vô thủy vô chung thường còn bất biến lại sống động viên dung vô cùng tận. Tinh thần chí dũng là chính yếu cho tu cầu Tri Kiến Giải Thoát. Dù tinh thần thiết tha, thành thật chưa trí tuệ vẫn lâm nơi tinh thần cuồng tín nên rất cần Bậc Thiện Tri Thức chỉ đạo mới đi đúng đường Tri Kiến Giải Thoát được. Nếu chưa gặp nên có tinh thần thiện căn, thiện chí, cúng dường công đức, cúng dường ngôi Tam Bảo, tinh thần như thế rất an lành rất đáng qúy. “Bậc tu đọc tụng Kinh Pháp, dùng sắc Kinh, chưa tụng ý Thánh nghĩa Kinh làm thế nào Tri Kiến. Hai là nghe thuyết pháp chưa thọ lãnh an toàn, nhận định khiếm diện, chưa đúng với tinh thần pháp, làm thế nào kiến tri Thánh Pháp?” –T.V. Chúng sanh sống không rời Tâm Thức. Bậc có học hoặc nhà thông thái cũng không thoát khỏi tâm thức dù cho có ý thức cũng ý thức của tâm thức cá nhân mình. Bậc tu Phật xem Kinh Pháp, nghiên cứu, học hỏi Kinh điển có ý thức cũng không ngoài tâm thức hiểu biết theo Bị Biết cùng Bị Tu. Ba điểm trên đều lầm lạc. Tâm Thức giờ phút điều hành tất cả làm Bậc nào cũng sống trong quanh co do nó nuôi dưỡng hỗn loạn, hỗn độn. Tâm thức như tia chớp sấm sét, như ánh trăng dưới nước, lay động không ngừng... Thật khó khăn giải giới tận thấu cho sạch sẽ chu toàn được. Vì quy chế chúng sanh tu chúng sanh chưa thực hành trí tuệ căn bản, trí tuệ cứu cánh, trí tuệ Bát Nhã làm thế nào đến Thánh ý Chánh Giác. Giác theo học thuyết, giả thiết cũng nhiều nhưng đó là Bị Tu Bị Chứng còn tạo Thánh ý Chánh Giác đến Xuất Thánh thật khó khăn. Chỉ một quan niệm còn là Thọ Ngã, Ngã Sở. Nó như bụi vi trần rất dễ lầm nhận. Bởi vậy Bậc tu chí dũng cần Bồ Tát, Bồ Tát nương Như Lai Phật cứu độ mới kết quả./- 67. Thiền Viện Rừng A Đề • Năm 1972, lập Thiền Viện Rừng A Đề ở thôn Phú Hữu. Năm 1972 tôi tìm một đồi núi ở thôn Phú Hữu xã Vĩnh Ích quận Ninh Hòa tỉnh Khánh Hòa, sau khi trình Ngài ra xem và rất vừa ý. Tôi lập hồ sơ xin chính quyền xã Vĩnh Ích chấp thuận và mang lên Ty Điền Địa tỉnh Khánh Hòa cũng được chấp thuận đo đạc cấp giấy phép để lập Thiền Viện. Cũng năm đó Ngài cho lập một căn nhà nhỏ vách bằng cây rừng mái lợp tranh trên triền đồi núi, dân địa phương thường quen gọi rẫy Pháp Tạng, cứ sáng chủ nhật Ngài thường ra thăm, nghỉ ngơi, dạy giáo pháp và truyền Thiền ở đấy. Ngài cử hành Đại Lễ đặt tên Thiền Viện Rừng A Đề. • Sau 1975, huỷ bỏ thiền viện vì bị truy thu thuế. Đến năm 1975 cuộc thế nước Việt Nam đảo lộn. Vợ Ngài và hai Chân Phật tử làm rẫy ở đấy. Đến năm 1979, chính quyền Cộng Sản đánh thuế truy thu nông nghiệp. Đất núi chỉ trồng khoai và bắp không đủ nuôi sống gia đình, ngoài ra không trồng hoa mầu khác được. Ngài không tiền đủ để đóng thuế và biết ý họ nên làm văn thơ hiến lại chính quyền, địa phương họ nói chia cho dân làm rẫy nhưng chỉ chia đồi núi Pháp Tạng cho ba ông: Bí thư xã, Chủ tịch xã, Trưởng công an xã từ đó đến nay. • Ngài Khai Thị nên lập Thiền Viện và mở khoá Thiền. Một hôm tại Trung Ương Hội Thượng số 42 đường Hồng Bàng Nha Trang, Ngài khai thị cho tôi như vầy: Sau này có Bậc tín tâm ông nên lập Thiền Viện, cách tổ chức cho xuất gia 3 tháng hay 6 tháng một khóa. Tùy Bậc muốn 3 tháng hay 6 tháng cũng được. Cứ chiều thứ bảy đến chiều chủ nhật cho về sinh hoạt với gia đình. Tối chủ nhật trình diện tại Thiền Viện học giáo pháp tu Thiền ôn lại Đạo Đức. Sau mỗi khóa Chân Phật tử trở về gia đình sẽ biết lối tu thực tế Như Lai Pháp ngay trong gia đình. Ông nhớ đừng cho xuất gia ở mãi trong Thiền Viện. Vì sao? Thời khoa học hiện đại cần cho họ giáp mặt với xã hội, với gia đình để thâm nhập vui buồn, sướng khổ, được mất, có không. Trong công tư sở, trong gia đình họ thực hiện được, thâm nhập được vạn pháp, con người sẽ trở nên trầm tĩnh, thông minh hơn, giải quyết việc nước việc nhà hợp tình hợp lý hơn. Một người ý thức sửa tánh không còn tánh xấu, nóng giận, tranh giành, cãi cọ... Nhờ Thiền mà Trực Giác, nếu không Thiền Định rất khó kềm giữ tánh xấu, tánh độc bộc phát. Người không thanh tịnh giải quyết một việc gì nơi đâu cũng không sáng suốt bằng Bậc bình tĩnh chẳng còn tánh nóng giận, tánh lo lắng, tánh sầu khổ... • Tôn Phái Thiền: Bậc Thiện Tri Thức phải biết tùy theo Tâm Thức của mỗi hành giả mà hướng giáo, không tùy thuộc Bậc giỏi văn tự mới tu Thiền. Vì Thiền môn không tự. Bậc Thiền Sư phải là Bậc thấu đạt tâm thức di chuyển nên tùy Chân Phật tử mà lựa thế chỉ dạy tu Thiền. Thiền đi sâu bản năng, tiềm lực chủ trì Phổ Chiếu làm con đường Giác ngộ mới trực giác vạn pháp duy tâm: Vũ trụ và thân tâm vốn một Bản Thể duy nhất không hai./- 68. Như Lai Thiền “Về Như Lai Thiền duy chỉ có Đức Đại Nhựt Như Lai Phật mới chủ trì trọn mà thôi, còn kỳ dư những vị hiện thể như Phật chẳng hạn vẫn Thừa Hành Tôn để mà chỉ đạo môn Như Lai Thiền, vị ấy dùng phương thức tùy thời đưa Bồ Tát tu hạnh, lập môn đến chừng Bồ Tát sở đắc Nhất Tôn Như Lai Thiền. Vì vậy nên đời này hoặc đời sau, nếu Bậc tín tâm gặp đặng Phật, vị Phật thừa hành chỉ đạo theo môn Như Lai Thiền thì Thiền ấy mới đúng Như Lai Thiền, bằng chẳng như thế khó mà tu đặng Như Lai Thiền.” –T.V. Cách đây 2538 năm, Đức Bổn Sư đã thừa hành Đức Đại Nhựt Như Lai Phật chỉ dạy môn Như Lai Thiền. Đến thời Hạ lai Đức Di Lạc Tôn Phật cũng Thừa Hành Tôn chỉ đạo môn Như Lai Thiền. Chư Phật tùy căn cơ Bồ Tát chỉ dạy đủ phương thức cốt cho Bồ Tát sở đắc Như Lai Thiền, nếu chưa sở đắc khó mà tu được Như Lai Thiền. Từ A La Hán đến chúng sanh tu Thiền có sở đắc cũng không phải Như Lai Thiền. “Ngoài ra Bậc tín tâm gặp Bồ Tát, vị Bồ Tát ấy, một là sáng tác danh nghĩa Như Lai Thiền, hai là y theo Tôn Chỉ Như Lai Thiền này, dụng tất cả phương cách chỉ dạy cho tín chúng, sau tín chúng sở đắc Thiền Môn, thì môn Thiền ấy chẳng phải sở chứng Như Lai Thiền, chính là Bồ Tát Thiền. Đến A La Hán, Bích Chi, Duyên Giác, Thinh Văn, Phàm phu hoặc ngoại giáo gặp đặng tập Như Lai Thiền này đem ra chỉ dạy cho tín chúng, Đạo hữu y theo Tôn Chỉ đến nơi kết quả, thì sự kết quả tùy theo sở chứng mức độ A La Hán, Bích Chi, Thinh Văn, Duyên Giác Phàm phu hay ngoại giáo mà thôi.” –T.V. Từ hàng Bồ Tát đến Ma Ha Tát còn gần Như Lai Thiền vì đã được Chư Phật khai ấn. Còn chư vị A La Hán, Bích Chi, Thinh Văn, Duyên Giác cũng đã từng gặp Phật dạy Như Lai Thiền nhưng trình độ tu chứng chưa đến mức thọ lãnh Như Lai Thiền nên có chỉ dạy cho Phật tử cũng tùy theo sở chứng Giác Ngộ đến Liễu Ngộ của Bậc này mà Phật tử được kết quả một phần nào. Đối với Phàm Tăng hay ngoại giáo Thiền còn xa, quá xa Chân lý nên Thiền cho có Thiền nhưng dễ bị lạc hướng. Dù có theo cuốn Như Lai Thiền tu hành nhưng do Tâm Thức điều động vạn pháp diễn hành Thiền không phát triển đúng tinh thần của Chân Tôn được. Bởi thế nên Chư Phật mới cần truyền Tâm Ấn Thiền lưu lại cho hậu thế có cơ sở tin vững để Thiền khỏi lạc lối. Như Lai Thiền là môn Tối Diệu Tâm Truyền Tâm. Ấn Chứng mật thiết đến Vô Thượng bất nhị viên dung trùm khắp. Chư Phật Chánh Giác thừa hành Đức Đại Nhựt Như Lai Phật mới Tâm Ấn Chư Bồ Tát, còn ở cấp Thánh chúng nương theo Bồ Tát điều hành. Thời Hạ Lai Đức Thế Tôn Di Lạc đã từng điều khiển mối đạo theo tôn ty trật tự như vậy. Chân Phật tử nào nhập đạo ở các tỉnh hay Trung Ương cũng được đích thân Ngài truyền Như Lai Thiền sau đó Bồ Tát nuôi dưỡng và theo dõi, chăm sóc bổ sung những diễn biến về Thiền cho họ. Hàng Bồ Tát cũng đã được lệnh Ngài cho truyền Thiền, viết Kinh và dạy đạo khi Ngài còn tại thế. Như Lai Thiền không dụng Lý Trí bằng văn tự luận giải hoặc nghiên cứu mà Trực giác Như Lai Nhãn Tạng được, cũng như Bậc chưa Giác Ngộ khó nhận lãnh được vì tâm còn vọng chạy theo Tâm Thức, Tâm Thức phát sinh Nghiệp thức nên lấy cái vọng loạn làm đường đi khiến Bậc tu không nhận được Như Lai Pháp. Do đó, càng dùng trí suy nghĩ để luận đoán, càng dùng luận gọi là Thiền luận để giải bao nhiêu càng xa với Như nhiên bấy nhiêu. Còn Bậc tu Định Tưởng bị thọ giới tận cùng Phật Giới không trở về Như Lai mà càng lạc lõng bấy nhiêu. Bậc tu Thiền cần chú ý, thể tánh vốn sẵn an nhiên tịch tịnh viên dung bình đẳng nên phải tu cho sở đắc Pháp Tánh, soi xét Thể Tánh mới đi đúng Như Lai Thiền. Tu như vậy có Thiền Trí, nhờ Thiền Trí mời thấy được Nghiệp chủng của mỗi vị tu Thiền thọ chấp Nghiệp Thức gì mà nương theo tháo gỡ. Nói đến Nghiệp nó vô cùng tận làm cho chúng sanh không thoát sinh A Tăng Kỳ kiếp. Cũng chính Nghiệp Thức mà tu chứng có thấp cao đủ trình độ. Thời Đức Thế Tôn Di Lạc Ngài dụng Chân truyền nơi Đức Thế Tôn Bổn Sư Thích Ca Mâu Ni Phật. Nên Ngài lập lại kim chỉ nam cho Chân Phật tử nương Như Lai Thiền tu khỏi lạc. Tôi nghe như vầy: Hành dụng Như Lai lập TÔNG Lấy Không Trụ lập CHỈ Lấy Giác lập THỂ Lấy Hạnh Nguyện lập DỤNG –T.V. Còn Chư Tổ thừa kế từ A La Hán, Bích Chi Phật, Duyên Giác, Thinh Văn gọi là Tổ truyền Thiền như sau: Không Tà Niệm lập TÔNG Lấy chẳng khởi vọng lập CHỈ Lấy Thanh tịnh tâm lập THỂ Lấy Trí Tuệ lập DỤNG –T.V. Chư vị Tổ đưa Bậc tu tọa Thiền kết quả Thanh Tịnh Tâm từ cấp ngang với Tôn Giả Thánh Hiền tức từ Giác Ngộ, Đại Ngộ đến Liễu Ngộ là cao nhất. Hàng Bồ Tát được Phật thừa sở đắc Vô Thượng Đẳng Chánh Giác vào chánh Định Tam Muội khai mở Chư Tổ và Bậc tín tâm tiếp đến Chánh Giác được mới đi sát thể Như Lai Thiền của Chư Phật. Như Lai Thiền của Đức Thế Tôn Bổn Sư truyền tâm ấn đến nay Đức Thế Tôn Di Lạc vừa ra đời cũng dạy rõ Thể Tánh, tu Thiền cốt tỏ Thiền Tánh, tức là Pháp Tánh. Thể Tánh Thiền nương chiều theo từng ý muốn tức TÀ NIỆM, từng khởi vọng của các Hành giả mà nó từ Như Lai Thiền chia ra sáu môn Thiền ngoại giáo, gọi là sáu cửa Thiền Môn. Vì do vọng khởi mà có sáu môn Thiền. Nay Đức Thế Tôn Di Lạc dạy cho các hành giả tọa Thiền KHÔNG TRỤ XỨ, nhiếp độ trùm khắp Như Lai Tạng để đoạt đến Như Lai Thiền. Bằng trụ xứ hay chìm đắm nơi Thiền chưa tỏ lầm lẫn sáu Tông bị sai lạc nơi Tiên Đạo, Thần Đạo chưa có rốt ráo giải thoát./- 69. Sáu Cửa Thiền Môn Sáu cửa Thiền do ưa muốn sở thích mà thành. Đức Thế Tôn Di Lạc khai thị: • Võ Đạo Thần Thông Thiền Lấy Linh Thiêng dưỡng Thần Thức lập TÔNG Lấy điện Pháp, Thiên Điện lập CHỈ Lấy võ công Thiền Tọa nhiếp thâu lập THỂ Lấy Thanh Tịnh dụng hoa quả trường trai lập DỤNG Khi Bậc tu ưa thích môn Thiền này, thời cho nó là Chân lý tuyệt đối cao cống nhất chưa có môn Thiền nào bằng. Vị nào Thiền cao nhất phủ bảy chiếc khăn ướt chồng lên thân làm khô bảy chiếc khăn, còn có nơi dụng Thiền luyện Gồng, luyện Ngãi xâm nơi mình, tu đánh Võ Đạo Thiền, còn ở Việt Nam tại núi Thất Sơn nhiếp thu Tinh Khí Thần. • Ứng Khẩu Thiền Lấy Trai Đàn, lễ bái tín tâm lập TÔNG Lấy Bút Cơ nhập xác ứng Thi thơ lập CHỈ Lấy Thanh Tịnh Thiền tọa Linh Thánh lập THỂ Lấy trống phách, tế lễ, xác lập DỤNG Bậc tu ưa thích Ứng Khẩu Thiền, khi đang hành ứng khẩu thường không nhận thấy bên ngoài liền công nhận là chân lý tuyệt đối cao cống nhất chưa có Thiền môn nào bằng. Phái này có quá nhiều hình thức do trình độ mê tín như cầu Phật Mẫu, cầu Đại Thánh, cầu Thiên Tiên hay lên Đồng, nhập xác... Tất cả không ngoài ứng khẩu cơ bút mà trụ xứ. • Thần Quyền Thiền Lấy Linh Thần hiển hách thiêng liêng lập TÔNG Lấy chiêm ngưỡng thành tâm lập CHỈ Lấy công phu Thiền tọa tín tâm lập THỂ Lấy tinh khiết Thần Miếu trống phách lập DỤNG Môn Thiền này thuộc phái Thần Thánh, chủ yếu linh thiêng huyền phép, tiên tri đúng làm Bậc tu thành tâm cầu khẩn mong Thần Thánh phò hộ cho được phước mà trụ xứ và cho chân chánh tuyệt đối cao cống nhất chưa có Thiền nào bằng. • Nhân Thiên Thiền Lấy hướng Thượng cõi Trời lập TÔNG Lấy suy tưởng luyện Tinh Khí Thần lập CHỈ Lấy Thanh Tịnh nghiên cứu tọa Thiền lập THỂ Lấy thanh thoát ngôn từ cao đẹp lập DỤNG Phái Thiền này hiện nay nhiều nước ưa chuộng, đang nghiên cứu. Người trí thức ưa tìm, một là Dưỡng Thần, nuôi thân chữa bệnh, dùng Thiền Tọa tiếp nhận Thiên Điện, xuất hồn, lấy Tinh Khí Thần làm cho thần thức giao cảm với Cõi Trời sáng soi vũ trụ, hai là dùng Thiền Tọa nghiên cứu Đạo Phật cốt yếu tri kiến Siêu Hình. Hiện nay Nhật Bản dùng Thiền ZEN và YOGA, còn ở miền Nam Việt Nam có phái Thông Thiên Học. • Tịch Tịnh Thiền Lấy nghiêm Luật Giới Luật lập TÔNG Lấy tu Tịnh lìa Ái xuất ly lập CHỈ Lấy Thiền tọa khất thực lập THỂ Lấy công đức Công quả lập DỤNG Phái này thành lập tổ chức giống như Thiền Tông của Chư Tổ, y áo đắp y như thời Phật còn tại thế, tay bưng bình bát, đi đứng trang nghiêm, chủ yếu xuất thế. Nhưng vì lạc hướng không đúng thời, vì tất cả các ngành trong xã hội phát triển thịnh hành nên chi các sư không thể nào gìn giữ đúng nghiêm luật cùng giới luật, do đó mà Tông không thành tựu. Do Chỉ, Thể, Dụng bị sai lạc trở thành tu Tịnh gọi là Tịch Tịnh Thiền cốt Tịnh Giác, Tịnh Giác phải lìa Sở Ngã cùng Ngã Sở mới thành tựu Giác Tịnh. Đã không lìa để tỏ ngộ lại mang thêm sắc tướng âm thanh gọi là Tướng Pháp Sắc Pháp nên đường tu trở nên ảo tưởng Tướng Phật bị tịnh biệt đen tối, chân lý mơ màng. Có phái vẫn y tông chỉ trên nhưng tìm phương thức giải mê chấp, nghiêm luật giữ gìn tùy theo trình độ gọi là phái Nguyên Thủy. • Tiên Đạo Thiền Lấy sơn lâm xuất thế lập TÔNG Lấy thanh khiết thanh tịnh tâm lập CHỈ Lấy Tọa Thiền ly dục ly ái lập THỂ Lấy ép xác trường trai ẩm thực lập DỤNG Tiên Đạo thường Định Tưởng, suy tưởng do căn tánh, trình độ mà có thanh, thô, tế nhị để tu Thiền tọa. Tiên Đạo Thiền thích pháp đẹp, thanh cao, chọn lọc, thanh lọc rồi mới tu luyện, ưa nơi sơn lâm cùng cốc, có Bậc chán đời lên non cao xa lánh trần tục tu Thiền luyện phép. Thời này cũng hiếm, chỉ nhũng Bậc tu Phật chưa chu đáo hiểu lối tu nên dù tín thành tin Phật bao nhiêu mà sai đường vẫn thành phước báo nhân thiên sa vào Tiên Đạo. √ Bốn tướng lầm tưởng. Sự lầm tưởng sáu môn Thiền trên bị an trụ trong bốn tướng: Thiên Tướng, Nhân Tướng, Chúng Sanh Tướng, Thọ Giả Tướng. Thời xưa và thời này đều lầm. 1. Thiên Tướng. Chính là tướng an trụ Định Tưởng, thanh lọc tốt xấu, tránh né thiện ác, chọn lọc lấy bỏ thành tu luyện lâm vào Tiên Đạo. 2. Nhân Tướng. Thường bảo thủ cá nhân cá tánh nên thường chấp, thương ghét không chừng dù tin Phật vẫn bị lạc hướng lầm lạc. 3. Chúng Sanh Tướng. Tu không đều, khi thích tu thật nhiều, lúc buồn chán bỏ tu. Phật khai Kinh bất tăng bất giảm để cứu chúng sanh tu Trung Đạo Tôn đặng trở về Bất Thối. Vì thối sa Địa ngục còn tăng lạc Tiên đạo. 4. Thọ Giả Tướng. Thường cho mình là phải là đúng nên Phật dạy lìa Ngã tu đến Chánh Ngã. Chư Phật lưu lại Kinh sách rất rõ ràng lời khai thị không thiếu cần tu hành đầy đủ công năng công đức nương bốn tướng tỏ thông Không Trụ Xứ khỏi bị sai lạc./- 70. Thể Tánh Thể tánh vốn sẵn có viên tịch, sáng suốt nơi con người, nhưng tại nhân sinh khởi vọng chạy theo sự hoài vọng, khát vọng từng giới hạn này đến giới hạn nọ, vì lẽ đó mà Thể Tánh trở thành chủng tánh riêng biệt chia bốn trình độ cao thấp biệt lập nhau gọi là chủng tánh Chúng Sanh, chủng tánh Bồ Tát, chủng tánh Phật, chủng tánh Như Lai Tánh. “Chủng tánh Phật lúc còn đang Ẩn mê ngộ chưa phân gọi là Phật Tánh, lúc giác ngộ gọi là Tánh Phật. Như Lai bất động không chỗ chỉ, Bồ Tát quán Như Lai phải dụng tánh Bất Động trùm khắp để quán sát Như Lai gọi là Như Lai Tánh hoặc Như Lai Nhãn Tạng. Những gì Thể Tánh cũng làm được, cũng đến được khỏi cầu ai, chỉ cần biết khai thác thể tánh là dùng được tất cả. Vì vậy nhân sinh tu Phật biết nương nơi thể tánh giải mê lầm được Giác ngộ. Nhân sinh tu Thiền Tọa nương nơi thể tánh tỏ Thiền tức là tỏ Thiền Tánh. Nhờ Thiền tánh mà viễn thông tam giới tỏ rõ tam thiên khỏi lầm hết mê. Chớ nên khởi vọng để thấy Tam Thiên, chớ nên hoài mong xuất hồn nhập cảnh mà đoạt Tam Giới. Dù cho hành giả có đoạt Tam Giới, tỏ rõ Tam Thiên bằng khởi vọng bằng ảo tưởng xa lìa thể tánh mà đoạt đến thì nơi chốn đến kia thảy đều nằm nơi vọng tưởng đảo điên thành tựu. Nó không bền chi cả.” –T.V. Bậc trí khi tu Thiền tọa cần nhất tự kiểm điểm lấy mình từ tinh thần cầu đạo đến Nghiệp chướng, nghiệp thức, nghiệp căn, nghiệp lậu, nghiệp kiết sử làm trở ngại sự tu tập như thế nào phải tự hóa giải, phải thù thắng tìm Bậc chỉ hóa giải nếu tự mình không giải toả nổi, nếu thấy tánh nào xấu làm tổn hại đường tu bất tín, thiếu hạnh nguyện nên hóa giải, nên chỉnh trang lại để cho thể tánh được dung thông sẽ kết quả vô biên xứ. Từ đó nhận biết được thể tánh đồng hợp với Thể tánh chân nguyên vũ trụ. Chủng tánh chúng sanh có bốn đặc điểm: Tăng-Giảm-Cấu-Tịnh như đã giải ở phần trước. Đối với chúng sanh tánh hay lấy thanh tịnh để an phận tuổi già nó chẳng khác nào viên thuốc ngủ dùng lúc cứu con bệnh đang đau nhức. Buổi ban đầu Bậc tu Thiền tọa bị vọng loạn giao động điên đảo mới dùng Tịnh cốt độ vọng loạn điên đảo, sáng soi tỏ rõ sự điên đảo vọng loạn gọi là TỊNH GIÁC. Phải tu nơi Giác Tịnh mới tỏ Thiền Tánh hay Pháp Tánh vốn là một. Bằng chẳng Giác Tịnh dụng Tịnh tu tịnh như hầu hết Bậc tu thời Hạ lai bị CẤU TỊNH lần đưa hành giả vào nơi Tịnh Biệt. Giác tịnh sống động, linh hoạt, dung thông vì biết nương vạn pháp. Còn Tịnh biệt bị thọ giới chúng sanh thành cấu tịnh là như thế. Bậc rơi vào tịnh biệt Thiền môn thì hành giả tối tăm mơ màng sinh căn bệnh rỗng nơi đỉnh đầu rất khó chịu, có thể khùng dại nữa. Khi Bậc tu Thiền tu sai lạc thì càng xa Chân Thể, còn biết điều hành ngự chế thì Tăng Giảm Cấu Tịnh là bốn Bảo châu. Nếu tu tự ý muốn, tự sanh khởi vọng đảo điên, chưa biết sử dụng, điều hành ngự chế Thiền môn thì nó đem hành giả càng tu đến đâu, càng bị Ngộ Độc đến đó. Bậc tu lần tỏ Thể Tánh viên dung Thiền Tánh thì con đường tu hành rất sống động viên thông. Phật đạo đối với chân lý không có pháp nào là pháp thiện ác, tốt xấu, lành hoặc dữ cả. Chỉ Bậc tu hành chưa am tường vạn pháp sống động linh hoạt, chỉ biết xem Kinh không hóa giải thực hành chính là tu BỊ BIẾT nên khó liễu nghĩa Kinh. Thể tánh luôn luôn sống, hành giả tọa Thiền khởi vọng thế nào, nguyện vọng ra sao, Đức Trí tới đâu thì Thiền biểu lộ ra theo Tánh của hành giả. Hành giả tưởng là Thiền Ứng nên thọ chấp Thiền mà chìm đắm. Đức Thế Tôn Di Lạc căn dặn: “Nó muốn thế nào, thì Thiền Tánh thảy đều đồng nương, đồng ứng theo cái muốn của nó mà thuyên diễn y như thật. Nó ngỡ là xuất nhập mong mỏi thụ chấp nơi Thiền Tánh.” –T.V. Tâm Phật và tâm chúng sanh không khác mà khác vì chúng sanh chưa hợp với Tâm Phật nên chưa thành Phật. Bởi vậy Bậc tu phải nương theo Thiền Tánh để biết rõ nó không bị lầm. Vì thế Chư Bồ Tát biết Thiền Tánh phiên diễn do cái muốn nên Chư Bồ Tát biết được mới đại nguyện Bi Chí Dũng cho được làm chủ Thể Tánh Thiền mà hóa thể cùng Như Lai Phật. Đối với vũ trụ bao la, nhân sinh cùng khắp các cõi được gọi là Như Lai Thể. Còn đối Bậc tu từ nơi thể mà hiện tánh tư riêng nên gọi là Thể Tánh. Lúc tọa Thiền gọi là Thiền Tánh, Thiền Tánh có lúc làm xấu gọi là tánh xấu, lúc làm được an lành gọi là tánh tốt. Nó không ngoài thể tánh. Bậc biết nương theo thể tánh tu tập đầy đủ công năng công đức Như Nhiên Tự Giác, nhờ như thế nên hợp hóa với vũ trụ gọi là Như Lai Thể. Hành giả tu Thiền nên nương nơi vết chân Chư Bồ Tát đã đi thực hành tu học. Chư Phật thời trước cũng đã từng Bi Nguyện tận độ chúng sanh nay Chư Bồ Tát cũng noi theo đồng Bổn nguyện cho đặng thông giác rốt ráo cùng cứu độ chúng sanh. “Tại sao Thiền Tông lại Tâm Truyền Tâm Liễu Ngộ đến Chánh Giác?” –T.V. Vì Thiền Tông chỉ chuyên Thể Tánh Tự Giác nên Thiền Tông không dùng văn tự dù cho có dùng văn tự chăng cũng là ngón tay chỉ cốt Trực Giác. Vì vậy nương Thiền Tánh để tỏ tánh chớ chẳng phải THỤ THIỀN mà Giác Ngộ. Do đó mới gọi là Thể Tâm. Tâm Truyền Tâm Liễu Ngộ. Bậc rốt ráo đến Chánh Giác. Bậc tu Thiền xa lìa Thể Tánh ắt không rõ Thiền Tánh lại tự lập Định Tưởng, thường tưởng hay nghiên cứu suy nghĩ dự đoán đều sai lạc Như Lai Thiền./- 71. Phương Thức Tọa Thiền Và Bài Niệm Phật Trước tiên vào tu Tọa Thiền phải niệm Phật. Hành giả rửa tay, rửa mặt, nếu tắm càng tốt, xong đâu đó đốt hương lên bàn thờ Phật bái lạy 3 lạy. Xong vào nơi Tịnh Cốc hay phòng riêng. Ngồi bán già, hai bàn chân để ngửa, tay phải để dưới, tay trái đặt lên trên, hai cánh tay đồng duỗi thẳng, đặt hai bàn tay ngửa dưới rún giữa nhượng chân của bán già. Ngồi yên Tâm Thanh Tịnh giây lát, bắt đầu niệm Phật mỗi câu 10 lần, lúc chưa thuộc thì niệm mỗi một danh hiệu Nam Mô Tịnh Vương Phật độ 15 phút. Niệm bằng Tâm Niệm tức là niệm không ra tiếng, niệm bằng tư tưởng niệm. Niệm xong bái một bái. B À I N I Ệ M P H Ậ T - Nam Mô Đông Độ Dược Sư Lưu Ly Quang Như Lai - Nam Mô Tây Phương Cực Lạc Thế Giới A Di Đà Phật - Nam Mô Giáo Chủ Hiện Tại Bổn Sư Thích Ca Mâu Ni Phật - Nam Mô Bảo Tạng Phật - Nam Mô Tịnh Vương Phật. - Nam Mô Pháp Tạng Hội Thượng Phật Bồ Tát Ma Ha Tát - Nam Mô Đa Bảo Như Lai - Nam Mô Hiện Thân Tỳ Lô Giá Na Phật. - Nam Mô Di Lạc Tôn Phật. - Nam Mô Tối Thắng Quán Thế Âm Bồ Tát. - Nam Mô Đại Nhựt Như Lai Phật. - Nam Mô Diệu Âm Phật. - Nam Mô Hộ Pháp Bồ Tát Đồng Thanh Tương Ứng Nguyện - Nam Mô Chư Long Thần Chư Hộ Pháp Bồ Tát Ma Ha Tát Nguyện. ******* –TỊNH VƯƠNG NHẤT TÔN Hóa thân Đức Di Lạc Tôn Phật * Chú ý: Tọa Thiền niệm “Nam Mô Tịnh Vương Phật” bảy (7) lần. Niệm rất chậm, hơi thở đều theo tâm niệm. • Trang Trí Chỗ Ngồi: Hành giả phải ngồi trên một tấm nệm, ngồi trên ván hay trên giường ngủ của mình có nệm càng tốt, chớ nên ngồi dưới đất không có nệm. Nếu hành giả có cốc riêng, phòng riêng càng tốt. Nên nhớ: Nhà có sẵn bàn thờ Phật thì đốt hương bàn thờ, bằng chưa có bàn thờ Phật thì trước khi tọa Thiền bái ba bái sau đó mới ngồi niệm Phật. • Tọa thiền: Khi niệm Phật mặc áo rộng hoặc đồ bà ba mỏng. Niệm Phật xong bái một bái như đã nói trên. Bắt đầu ngồi Bán Già. Trước khi ngồi nên thay áo, mặc quần cụt, dây lưng nơi quần nên nới rộng, vì lưng quần bị thắt chặt lúc ngồi, các pháp chẳng thông hay bị đau lưng, hay bị đau ruột về sau. Pháp môn Thiền Tọa phải cho thong thả thoải mái. Lúc chỉnh trang xong Hành giả tọa Thiền tỉnh tâm yên lặng để nhập Thiền cho đạt đến dứt tư tưởng. • Thế Nào Là Nhập Thiền: Nhập Thiền không phải cái hồn của Hành Giả nhập hết vào nơi Thiền mới gọi là nhập. Cũng không phải tọa Thiền vắng bặt không còn nghe gì ở bên ngoài mới gọi là nhập Thiền. Nhập Thiền không phải như là xác chết mới gọi là nhập Thiền đâu. Những quan niệm trên đều là sai hết, nên bãi bỏ ý định mong cầu trên. Nhập Thiền hành giả tựa như say, như ngật ngật, thân mình lâng lâng, bồng bềnh nhè nhẹ tựa như ngồi trước mây gió hay giữa hư không, phần bên ngoài vẫn nghe tiếng động nhưng bên trong gìn giữ tịch tịnh. Khi hành giả gặp diễn cảnh nơi Thiền, cảnh ấy lâu mau, rõ hay chưa rõ đó là công phu tịch tịnh chưa vững. Có Hành giả không thấy chi cả thì lấy mức tịch tịnh lâng lâng, bồng bồng say Thiền. Các vị này nên cố gắng chớ nên thối chí. Rồi đến thời công phu đầy đủ vẫn đạt đến chí nguyện. Tọa Thiền phải lấy Kiên Dũng làm đích không khác nào kẻ đi đường xa, cứ đi mãi nó sẽ đến. Khi thân chưa điều hòa, tâm chưa điều hòa, khẩu chưa điều hòa, nên có đêm công phu thoải mái, có đêm lại trầm đen tối. Phải kiên dũng, quyết tâm bền chí, quyết lòng qua bờ bến Giác. Vì tâm chí của Bậc tu Thiền như vậy nên đêm nào chán chính là đêm cố gắng đánh đuổi con Ma Lười Trễ. Hành giả nên xem xét tùy theo thời tiết nóng lạnh, chỗ ngồi tọa Thiền bị nóng có thể cởi áo, lúc lạnh thì mặc áo./- 72. Phương Thức Chư Tổ Lập Thiền Tông "Các Tổ về Thiền Tông có 28 Vị, còn ngoài ra các Bậc Giác Ngộ khác chưa kể được. Thiền Tông thời các Vua Chúa Đinh, Lê, Lý, Trần ở Việt Nam rất thịnh hành. Theo tinh thần của Thiền Tông các Tổ chỉ đạo cho hành giả phải Tín Hạnh Nguyện cùng với Định Tuệ là nòng cốt Thiền Tông. Nếu chưa có hai Bổn Nguyện đó xem như bất thành Thiền Giả.” –T.V. Hai mươi tám vị đây là các vị Tổ từ thời Đức Bổn Sư Thích Ca Mâu Ni Phật truyền từ thời Tổ Ma Ha Ca Diếp đến tổ thứ 28. Đến thời Hạ Lai Mạt Pháp năm 1956 Đức Di Lạc Tôn Phật chú trọng về Thiền Tôn. Đến năm 1965 theo sự đòi hỏi của nhiều Chân Phật Tử, Ngài mới quyết định thành lập Pháp Tạng Thiền Tôn. Sau được hợp thức hóa lấy danh hiệu Pháp Tạng Phật Giáo Việt Nam. Tính đến năm 1975, có 3.000 Chân Phật Tử nhưng cơ sở Thiền Đường chưa có, những Chân Phật Tử có nhà được mượn tạm làm nơi Đạo Tràng từ Trung Ương đến các Tỉnh trong miền Nam. Khi hành lễ mặc áo màu vàng như Thiên Thừa, ngày thường vẫn ăn mặc như thế gian để sinh sống làm ăn. Ngài dụng Phật Pháp Bất Ly Thế Gian Giác. Và thành lập Tứ Chúng như sau: • Tín đồ Đạo Chúng: Là những vị mới vào Nhập Đạo, sau đó được xem xét thích hợp với chúng nào thì xác nhập vào chúng đó. • Trưởng Giả Chúng: Chăm sóc Đạo Tràng, hương đăng cúng dường, xây dựng. • Hộ Pháp Chúng: Thuyết pháp, chăm lo việc hành Đạo. • Thị Giả Chúng: Hầu cận bên Đức Tăng Chủ./- 73. Về Mật Tôn • Tọa Thiền Mật Tôn hay còn gọi là Mật Pháp. Khi Tọa Thiền Mật Tôn thì căn cơ ứng hiện, khi Bậc tu được truyền Thiền mỗi tối trước khi đi ngủ hoặc sáng trước khi đi làm ngồi tọa Thiền từ 30 đến 45 phút. Đặc biệt Thiền Pháp Tạng, khi hành giả đang công phu tọa Thiền, dù người căn cơ chậm lụt nhất cũng đến đêm thứ bảy thân mình chuyển động tựa như dòng điện mạnh chạy toàn thân, đầu cổ rung chuyển, thân mình quay cuồng chuyển động. Đó là Mật Tôn còn gọi là Mật Pháp hóa giải các Nghiệp cho Bậc tu, nên bình tĩnh. • Chỉ có Mật Pháp mới có thể sửa tánh. Nhờ Mật Pháp hành giả mới sửa tánh, xem xét các đố tật ngăn ngại mà cổi giải tâm chớ nên thọ chấp nữa. Mật Tôn lần lượt thay đổi từng giai đoạn tùy căn tánh hành giả của quá khứ nay ứng hiện: Khi thì bắt Ấn, lúc đi quyền thảo... Nên cẩn thận đừng để bên ngoài thấy họ không biết Mật Pháp chuyển phê phán khó tu, nên giữ gìn: Thân-kín-nhiệm, Khẩu-kín-nhiệm, Ý-kín-nhiệm. Tọa Thiền cốt có trí tuệ để giải mê lầm. Thiền là một pháp môn trợ giúp con đường Tri Kiến Giải Thoát. • Thiền Mật Pháp cùng Giáo Lý mà Chánh Giác. Khi Bậc biết tu, biết nghe Giáo Lý cũng không phải bỏ tu Thiền, bằng tu Thiền cũng không thể xa lìa Giáo Lý mà Chánh Giác được. • Tôn Giả, Hộ Pháp phải được Ngài chứng minh. Chỉ một số ít được Ngài chứng minh Tôn Giả, Hộ Pháp là tu thiền tọa còn có trật tự kỷ cương theo cách A La Hán, Duyên Giác, Thinh Văn và một Bồ Tát chỉ đạo truyền thừa do Ngài Ấn-Truyền. Còn có đông tín chúng Pháp Tạng cũng có Mật Tôn nhưng tu chưa được Ngài chứng minh. Thời Đức Thế Tôn Bổn Sư cũng vậy, 1250 Chân Phật tử chỉ có 10 Tôn giả và vài vị Bồ Tát ở thế giới Ta Bà này, chớ đâu phải ai cũng truyền Mật Pháp có kết quả đâu. • Một chân tử bị vô minh che đã tự xưng Phật ngang với Ngài. Ngay khi Đức Thế Tôn Di Lạc còn tại thế, có một chân tử tu lơ-là lại tự mãn xưng mình là Phật Hoan-Lạc ngang vói Đức Ngài. Ngài đã làm thinh bắt tay, lấy ghế mời ngồi. Vì bị vô minh che nên Bậc này không hề hay biết. Ngài cũng không có Bút Ký chứng minh Hộ Pháp bao giờ vậy kiếp nào người chân tử này mới được vào dòng Thánh?./- 74. Tứ Cấp Thiền Về Thiền Trí vốn có Tứ Cấp nhận thức cùng khai hoang nơi chân lý thực tiễn đến toàn diện sở đắc như sau: 1. Sơ Thiền: “Những Bậc Sơ Thiền cấp nương nơi công năng đức độ hóa giải hay dùng Lý Trí mà nhận Chân nơi: Phật Pháp Bất Ly Thế Gian Giác, biết rõ, thấy rõ, nghe rõ những điều mà nhân sinh chưa nhận chân đặng thế gian, Bậc Sơ Thiền nhìn nhận chu đáo hơn. Như ta bị Nghiệp kéo lôi biếng trễ. Tu vướng vào hoàn cảnh trói buộc mong thoát sanh. Ta mong thoát nó ra nó mãi đeo đuổi. Ta bị vạn pháp hữu hóa trăm phương nghìn cách. Ta phải vươn mình để khỏi bị sanh, tu qua các trở lực điều ngự vạn pháp mà chứng tri Phật Đạo. Ngược lại lúc công năng đức độ Sơ Thiền tiến hóa hơn, liền nhận chu đáo hơn Nhưng: Chính thân tâm mình hữu hóa vạn pháp, tất cả các nghiệp chính mình tự tạo còn phiền trách ai. Mình trói buộc mình lại kêu nài thoát sanh. Những Bậc biết nhìn nhận như thế, tiến qua cấp Bậc Nhị Thừa khỏi sai lạc Thiền Tông.” –T.V. 2. Nhị Thiền: “Mục điều ngự là một giới Thiền quan trọng, điều ngự cho thân kín nhiệm, khẩu kín nhiệm cùng ý kín nhiệm. Thân khẩu ý có kín nhiệm thời Thiền mới có thể điều ngự vạn pháp di chuyển. Vì sao? Vì thân đang tọa Thiền, di chuyển biến hóa, khi thân nhỏ, lúc thân to. Mắt nhìn thấy cây cảnh núi sông, tai nghe tiếng nhạc trời, ý chẳng mừng rỡ, khẩu không nói ra khi mình tọa Thiền diễn biến mà vướng nơi Năng Sở chấp.” –T.V. Khi tọa thiền thường thấy trước mắt nhiều cảnh vật đẹp. Có khi thấy yến sáng, thấy mây bay, có lúc thân to dần to dần trùm khắp, cũng có lúc thân thu nhỏ như một cái chấm, có khi nghe nhạc trời. Những diễn biến như vậy đừng mừng, đừng mong đợi, vì đó là diễn cảnh của Thiền. Lắm Bậc không gặp Thiền Sư Chân truyền bị trụ chấp mà sanh ra một trong sáu thứ Thiền đã nêu phần trước bị lạc Như Lai Thiền. Khi thấy diễn biến đủ hình thức lúc Thiền cũng đừng nói ra mà phải Thân Khẩu Ý kín nhiệm vì người nghe mong đợi: Mỗi hành giả tùy căn Nghiệp mà diễn cảnh khác nhau. Có Bậc trong lúc Thiền đánh võ, nếu trụ chấp thành Võ đạo Thần thông Thiền. Có Bậc tự nhiên biết bắt Ấn đủ kiểu hãy cẩn thận đừng nên mừng quá, phải bị thụ Thiền. “Những Bậc Nhị Thiền đều nhìn nhận: Đa số bị lầm nhau, do nơi cảnh sanh tình, bất đồng nên gây ra hoàn cảnh, mỗi con người bảo thủ nhận lấy cái phải nơi mình mà tự sanh lắm nỗi bất hòa nhau, dù muốn hay không muốn chăng, nông nổi bất hòa luôn xảy đến. Hàng Nhị Thiền thật tỏ rõ đó chính là tai nạn hữu hóa mà ra, nơi hữu hóa này tự nơi tâm ý của mỗi người ấy, hai nữa trình độ giai cấp thứ vị ấy mà hữu hóa, có từng phần ảnh hưởng nghề nghiệp từng lớp con người hữu hóa. Hữu hóa nó có hai cơ sở: Thuận Hữu hóa mến thương, hai là Nghịch Hữu hóa thù ghét, chỉ vì Hữu hóa từng con người cho đến lớp người mới phát sanh cạnh tranh hơn thiệt nhau, thành ra mới có: Đời trăm mặt. Đất trăm phương Phật Vương, Chư Phật một nguồn Giác Nguyên. Diễn hành hữu hóa Chân thường Lòng không chìm đắm, đâu vương mạch sầu? –T.V. Bậc Nhị Thiền tọa đạt Thiền Tánh, do tâm ý mong cầu mà Thiền Pháp ứng hiện. Tâm ý mong Thần, cầu Thánh, Thiền pháp đồng hiện Thần Thánh, có khi không mong cầu vẫn gặp nơi ứng hiện. Hành giả nào hay biết hữu hóa lầm nhận ngưỡng vọng. Đối với Bậc Nhị Thiền cho đó là Thiền Tánh ứng hiện, không lầm lạc. Vì sao? Vì Thiền là môn Chân Lý thực tiễn tu đạt Thiền Trí, ngoài Thiền Trí thảy đều danh ngã dã tưởng. Do đó không lầm. Từ hàng nghìn xưa cho đến nay. Đương lai nơi thời này. Lạc pháp chỉ vì: Nó muốn như thế nào nó tu theo nó muốn, không còn cơ bản Ấn quyết hướng dẫn. Vì sao? Vì theo Ấn quyết bị Giáo điều, theo cái muốn lạc hướng, hiếm Bậc thực hiện đúng theo thời Thiền Tọa để tu đạt đến hàng Tứ Không Thiền đặng. Dù có Bậc tu đạt đến Tứ Không Thiền vẫn trực thuộc về Tiên Đạo Thiền, chớ chưa hoàn mỹ mức Như Lai Thiền đặng. Hôm nay ta minh thuyết, con đường trọng yếu về Thiền môn là một Long Mạch Chân Lý Thực Tiễn Thiền Trí. Còn phương diện Thiền tọa là kiến tạo công năng đức độ, bồi dưỡng Thiền Trí phát huy. Không hẳn dùng Sắc Thiền mà Giác, chẳng phải dụng âm thanh nơi các cõi Trời mà Ngộ, duy nhất có Thiền Trí, Giác Trí về Như Trí nơi Nhất Thiết Trí, tỏ rõ từng Chủng Trí hoàn chân Chánh Giác. Sự việc nơi thời Hạ Lai đối với Thiền Tông thảy đều là con số không căn bản Liễu Ngộ, toàn diện hay đa số Hành giả tu Thiền thảy đều công dụng Thiền Quán Sắc Thinh ứng hiện cho đó là mục tiêu chính trở thành sai lệch với Chính Tông nên chi mới có, phát huy Thiền Thần Giao Cách Cảm. Thiền Xuất Hồn, Thiền Chữa Bệnh, Thiền Nghiên Cứu tu đạt Thánh Thần. Những điều này đối với hàng Nhị Thiền thảy đều tỏ rõ. Vì sao? Vì Thiền tánh di chuyển hữu hóa tùy thuận theo vọng tâm, ý muốn tu cầu, rất hiếm Bậc chủ đích về trí tuệ, thâm nhập trưởng thành Thiền Trí. Bậc Nhị Thiền nhờ điều ngự Thân Khẩu ý, từ nơi ý thức kiểm chứng nhỏ nhen trở thành chốn hỷ xả viên đạt rộng rãi. Từ nơi khẩu kín nhiệm lúc nào cần diễn đạt mới diễn đạt, khi nào chưa phải lúc diễn nói liền lặng thinh sáng soi thực tế đúng lúc, đúng hồi mới diễn nói. Tâm trưởng thành bình dị mà tận thấu tu đạt Thiền Tánh, được như thế, đỉnh đạt như vậy mới vẹn tuyền pháp giới mà thâm nhập từng pháp giới, được gọi là Điều Ngự Trượng Phu, tiến qua Bậc cấp Tam Thiền khỏi sai lạc.” –T.V. 3. Tam Thiền: “Mục Đề Thiên Nhân Sư. Hàng Tam thiền không nhiễm trước. Trí tuệ đã từng qua giai đoạn cứu cánh, nên chi không ngưỡng vọng quá khứ, không hoài vọng vị lai, duy nhất hiện tại làm mức tiến, do như thế nên chi tỏ rõ Thiền Tánh, thấy rõ tất cả chúng sanh, sanh sanh hóa hóa từng lúc từng khi, họ chỉ sống đồng từ nội tâm đến ngoại cảnh, thân nhau rồi xa nhau. Thân hình sắc mặt thay đổi, đổi thay, trong cơn vui buồn sướng khổ, sự thay đổi này do lầm nên hữu hóa. Bậc Tam Thiền nói: Tâm Tánh Nó Như Thế Nào Nó Hay Hóa Như Thế Ấy. Tất cả Tam Thiên Đại Thiên thế giới mỗi nơi, mỗi cảnh giới từng hàng Chư Thiên đến Rồng Người, cho đến Ma Vương, quái tặc, loài chim chốc thượng cầm hạ thú, mỗi một cho đến bá thiên vạn triệu vô số, vô biên không thể nói, không thể nào kể hết. Tất cả đều có tâm tánh duy nhất nơi nó, một là nó hành động đi đứng, nằm ngồi, cử chỉ của mỗi một giống nòi, thảy đều đến cử chỉ giống nòi nó mà hành sự nói năng, hay gầm thét, hoặc giả ầm ừ dùng làm hiểu biết nhau, thân cận nhau, cảm mến nhau, sống với nhau thỏa thích ưa chuộng, không khác nào thế giới loài người sống chung trong đô thị, vui vẻ nhảy múa ca hát cùng nhau hưởng thụ, cùng nhau xô xát, cùng nhau tranh cãi, khi hòa cho là phải, lúc bất hòa cho là quấy. Sự nghe thấy của từng các cõi, các cảnh giới đồng với bất đồng, đối với Bậc Thiền Trí thảy đều trái ngược nhau, do nơi hàng Tam Thiền dùng Giác mà thấy Tướng, còn tất cả dùng Tướng thấy Tướng nên chi khó nhận được Giác Tướng vậy. Hàng Tam Thiền, thật chứng cùng kiểm chứng thân mạng nơi cơ sở bồi dưỡng Thiền Trí, trau dồi sáng soi tâm tánh lầm lạc nơi chốn Hữu hóa mới nói: Hay thay đức độ lầm mê thật tuyệt tác thay, giờ đây Ta mới thấu. Nếu đem thân mạng Ta, đứng trước con người, đứng nơi quần chúng họ thảy đều tán thán ta gọi ta là vị tu. Nhưng nào tận thấu tâm tánh Ta, đang lúc ấy, đang khi ấy toàn thân tâm Ta đang hóa ra hung thần, đang diễn tuồng Qủy tặc Ma vương, hay Càng cát nào ai đặng thấy, mấy ai đã hay biết để mà tường tận? Bậc Tam Thiền tiếp nói: Ta nói thật Hữu hóa đã tường tận. Khi Ta làm Phật hóa Ta không mừng, giai đoạn làm Qủy Ma hóa Ta nào có sợ, Ta thường hóa hay hóa tâm tánh nơi Ta thuần túy, cho nơi hóa là một món ăn đầy đủ phương thức, thành thử tâm không quái ngại, ý chẳng vương mang, thức đặng tự tại mà tận thấu tất cả, vì chính Ta đã từng hóa tất cả. Ta chưa bao giờ ưa thích xuất định. Nhưng Ta thường hóa thành thử xuất định. Ta không thừa nhận nơi chốn Nhập định nhưng Ta sáng soi Thường Tịch Quang trở thành Nhập Định. Ta chưa hề có nơi chốn nào là Chánh hay Tà, vì đã từng ra vào các cõi, nơi này có thì nơi nọ không, chốn này đồng thời chốn kia thiếu, thành ra chỗ này một môn chỗ kia một khóa. Do đó mà tất cả Ta chưa hề nghĩ đến tu cầu, Ta chỉ tu sợ vấp chấp. Bậc Tam Thiền chính Bậc đã gần như hoàn tất Bát Nhã Trí qua tần số siêu đẳng Thiền Trí, nương nhờ cung kính Như lai thề nguyện sự là trọn lành như thế, nên được gọi là Thiên Nhân Sư.” –T.V. 4. Tứ Không Thiền: “Thứ Bậc Tứ Không Thiền này đương thời Đức Bổn Sư còn tại thế, tất cả những vị tu Thiền Tọa hiếm Bậc đã tu đạt. Chỉ trừ ra Đức Thế Tôn tu đạt mà thôi, do đó nên chi có một số tu sai lạc phải qua nơi Phi Phi tưởng, chỉ lầm nơi chốn Không mà tai hại. Chốn KHÔNG nầy là chốn Viên Minh Thiền Tịch, sạch sẽ từ Sơ Thiền đến Tứ Không Viên Minh Chánh Giác, được gọi là TỨ KHÔNG." Thiền Sư vừa nói đến đây, đôi mắt in tuồng thưa gởi, tất cả Bậc khai môn, Ngài gật đầu, đứng lên thở một hơi dài, miệng đọc: Người Cư Sĩ, nào cầu danh giả, Lòng nhủ lòng, đồng hóa nhân sinh, Dụng đời để chỉ viên minh, Biết chăng, chăng biết lộ trình thế thôi. Người Cư Sĩ, khúc nôi tường tận, Đâu nào đâu vướng bận non sông, Tình chung vui sống nhịp đồng Đạo tràng khắp khắp, nói không bến bờ . –T.V. Chương V: LẠC Quốc An Khương Năm 1956, Ngài mở màn chuyển Pháp Luân Khai Đạo ở tại gia đường Sinh Trung gần chợ Đầm Nha Trang. Đến năm 1965, Ngài tổ chức thành lập Tứ Chúng Pháp Tạng và dời Đạo Tràng về số 42 đường Hồng Bàng, Nha Trang. Những năm sau dời về số 6 đường Huỳnh Thúc Kháng, Nha Trang. Đến năm 1988 Ngài tuyên ngôn đã đào tạo được một Bồ Tát, một số Tôn Giả và Hộ Pháp, hàng Thánh Chúng này sẽ tuyên dương Chánh Pháp cho đến năm ngàn (5000) năm mới trở lại Mạt Pháp. Mối đạo làm an lành tốt đẹp cho nhân loại và Tam Thiên đã ổn. Ngài hội tề Chư Bồ Tát, Chư Thiên Thần, Nhân Thần, Địa Thần, Tứ Bộ Thần, Long Thần Hộ Pháp cùng Thượng Đẳng Chánh Thần chứng minh nước nhà đổi mới cho dân ấm no và kêu gọi Chư Thiên, Địa Thần dọn sạch sẽ các thành phố. Đầu năm 1989, nhà nước bắt đầu đổi mới, dần dần theo qui chế thị trường đặc biệt không khắc khe theo lối Vô Sản làm cho Đảng Viên CS được tư hữu, được quyền hưởng sung sướng, quyền có của, quyền chỉnh trang tiện nghi cuộc sống thoải mái mà không lo sợ và nhờ đó người dân cũng được không khí làm ăn dễ thở một phần. Thành phố cả nước dân được cho xây cất nhà đẹp, nghĩa địa đã được đưa ra khỏi thành phố. Cho đầu tư làm ăn với nước ngoài. Chỉ còn mối Đạo mà Đức Di Lạc quyết đem cho nhân loại thoát khỏi sanh tử luân hồi đem lại yên bình cho dân là chưa được tháo gỡ, Thiền Viện Rừng A Đề ở Phú Hữu tỉnh Khánh Hòa còn bị hiến trả. Âu đó cũng là nghiệp chủng chúng sanh buổi giao thời Mạt Pháp và Chánh Pháp vậy. Ta chẳng phải vì vua trong một nước. Cũng không làm Bá tước Hầu vương Quyền uy siêu đẳng bất nhường Trang nghiêm Quốc độ Phật thường tới lui. –T.V. Tôi nghe như vầy: Tuy Ngài đã nhập Bát Đại Niết Bàn nhưng Ngài vẫn còn Hiện Thể và Chư Long Thần Hộ Pháp vô hình đang ở tại thế gian. Ngài vẫn còn tới lui Ta Bà Thế Giới này chỉ đạo tận độ chúng sanh. Ngài là một người dân như muôn người công dân khác mà không khác vì Ngài đã thật có Quyền Uy Chánh Báo Siêu Đẳng Bất Nhường, có một chứ không hai trong thời Hạ Lai Mạt Pháp này. Thế giới với muôn ngàn vạn diễn cảnh, vạn lối cách ngăn nhưng Khoa học gia, chuyên gia nghiên cứu mới thấy Ngài đã tạm sắp đặt an bài không để bấm nút sát phạt nhau bằng vũ khí giết nhân loại hàng loạt. Quan Âm không thể bắt cầu Ngón tay Ta chỉ Chư Hầu đều vâng. –T.V. Những câu thơ tuyên minh của Ngài không thể lấy lý trí thế gian tỏ biết đầy đủ được. Cái thế chân vạt ngày xưa, hóa thân Ngài là Khổng-Minh đã sắp đặt thì nay thế kỷ 20 này thế giới hình thành khối Thứ ba Trung Quốc từ Cộng sản đổi mới với hình thái riêng không tự do mà cũng chẳng bảo thủ, cho thấy hòa nhập Tây phương mà không mất bản chất truyền thống dân tộc. Cộng Sản Việt Nam ngày nay được thừa hưởng cũng không ngoài qui trình trên. Tôi cam đoan người CS không làm ra nổi mà chính bàn tay Vô Hình Hữu Tình Siêu Đẳng Bất Nhường của Đức Thế Tôn Di Lạc. Lịch sử là một quá trình tiếp diễn, có đắng cay, có khắc nghiệt cũng là gieo mầm cho một tương lai tốt đẹp hơn để Đức Thế Tôn Di Lạc thị hiện, Bồ Tát tiếp nối độ sinh, Chư Tôn Giả, Hộ Pháp lập Phẩm Công Đức cúng dường Như Lai. Ai cũng có cái phải, cái đúng của riêng mình. Người đứng bên này cho mình là đúng và kết tội kẻ bên kia là sai cần diệt, còn người đứng bên kia cũng cho mình là đúng và kết tội kẻ bên này là sai. Do đó sắp xếp an lành là đường lối Trung Đạo Tôn đúng nhất, ít ra cũng một thời gian. Trung Đạo Tôn không bao giờ thay đổi nó viên dung bất biến tròn sáng. Chỉ Bậc thành tựu Diệu Quả Phật như Đức Thế Tôn Di Lạc mới tận tường chốn Hạ Lai Đồng Độ mà vận chuyển cho nước Việt Nam và nhân loại trên thế giới được AN LÀNH, sống hạnh phúc khó nghĩ bàn. Ngày nay Việt Nam có mặt vị trí trong cộng đồng các Quốc gia ASEAN và thu hút được đầu tư các nước khác nữa là điểm đáng mừng cho dân tộc chuyển mình./- Chương VI: TÔN Giả Cúng Dường Sau 37 năm khai Đạo, Đức Di Lạc Tôn Phật đã tuyên ngôn đào tạo được Hàng Thánh Chúng gồm Hộ Pháp, Tôn Giả, Bồ Tát thay nhau làm Tổ đặng xây dựng Chánh Pháp đem đến con đường giải quyết sanh tử luân hồi cho nhân sinh. Tôi nghe như vầy: “Ba mươi sáu vị Tổ đây chính thật chỉ có vài vị chính cùng dòng tu giác ngộ, giác ngộ rốt ráo được chứng minh lai trần lên xuống tiếp nối nhiều lần thay nhau làm Tổ chứ không phải chân tử nào ngoài dòng sẽ vào làm Tổ được.” –T.V. Hiện tại, Di Như Bồ Tát là Vị Tổ Thứ Nhất. Và tiếp tục cứ 20 năm một lần hay lâu hơn nữa sẽ có một vị Hộ Pháp hay một Tôn Giả lần lượt Giác Ngộ, hoặc Đại Ngộ đến Liễu Ngộ tiếp nối được truyền trao làm Tổ kế tiếp lập đời Hiền Kiếp. Chư Tổ giác cấp Thánh Hiền Hạnh Nguyện cúng dường báo ân Đức Thế Tôn Di Lạc cùng Chư Phật Mười Phương đặng tiếp tục hồi hướng quyết tâm cầu Chánh Giác. Có một số Tín chúng phát nguyện viết thư trình, Ngài Ấn ký nên những vị này lầm tưởng mình là Bồ Tát... Điều này không đúng. Phải mất nhiều kiếp nữa Hạnh Nguyện đến khi được Vị Phật Hiện Thể chứng minh cho mới đúng. Ngài còn bảo rằng tự Ngài thấy đến trình độ tu chứng cấp nào Ngài ban hành lệnh ký và đóng dấu Tăng Chủ chứng minh mới đúng là Tôn Giả, là Bồ Tát./- Chương VII: PHẬT Vương Minh Chứng Phật Vương chính là Đức Tịnh Vương Phật có đầy đủ ba thân Viên Minh suốt thấu hạnh nguyện Chư Tổ hàng Bồ Tát, Chư Tôn Giả cấp A La Hán, Bích Chi, Duyên Giác, Thinh Văn cùng hàng Hộ Pháp. Ngài sẽ minh chứng sự hạnh nguyện này bình đẳng từng Vị một không hề có một chút sai chạy. Hàng Bồ Tát Giác Tướng nhận được rõ ràng Chư Phật mười phương nên ý thức hạnh nguyện thấu đạt Như Lai mới Trực Giác sự minh chứng của Đức Phật Vương. Như Lai không có Tướng, Bậc Giác Tướng kiến diện Như Lai, nhập thể Như Lai là một vấn đề mà hàng Tôn Giả chưa tỏ thấu đầy đủ được nên phải Chí Dũng đặng hạnh nguyện được cận Thể của Chư Phật. THỌ KÝ Đức Thế Tôn Di Lạc thọ ký tại Trung Ương Hội Thượng số 6 đường Huỳnh Thúc Kháng, Nha Trang: Thời Đức Bổn Sư Thích Ca Mâu Ni Phật, Ngài Địa Tạng Vương Bồ Tát chủ trì Lục Đạo nương sức oai thần của Như Lai cứu vớt tất cả chúng sanh bị nghiệp báo phải thọ cửa Địa Ngục. Đến thời Hạ Lai Đức Di Lạc Tôn Phật Hiện Thể, Ngài Địa Tạng đã mãn nhiệm kỳ, nay Bồ Tát Mục Kiền Liên đảm nhiệm cứu vớt chúng sanh thọ báo Địa ngục môn được thoát sinh. Lúc bấy giờ có Tôn Giả Pháp Thao và một số Hộ Pháp cùng nghe. Bồ Tát vì chúng sinh mắc vào Địa Ngục nên tùy lúc thị hiện vào Địa Ngục, chủ yếu chỉ dạy cho chúng sinh giải thoát khỏi Địa Ngục chớ Bồ Tát không có ở trong Địa Ngục cũng không ở trong ba cõi sáu đường. Vì Bồ Tát không lấy một cõi nào là cõi của Bồ Tát, do đó không nên đem Bồ Tát ra đứng giữa trời nắng ngoài nghĩa địa. Nam Mô Đông Độ Dược Sư Lưu Ly Quang Như Lai. Nam Mô A Di Đà Phật. Nam Mô Bổn Sư Thích Ca Mâu Ni Phật. Nam Mô Tịnh Vương Phật. Nam Mô Di Lạc Tôn Phật. Thật hy hữu thay chốn Hạ Lai Đồng Độ giữa thời đại Khoa học này mà từ năm 1957-1993 tại thành phố Nha Trang ở miền Nam nước Việt Nam Đức Di Lạc Tôn Phật đã hoàn tất tận độ nhân sanh và tứ loài về ĐỜI cũng như ĐẠO. Với lòng Đại Đại Bi, Đại Đại Chí, Đại Đại Dũng Ngài đã tận dụng Phật Lực vượt qua những tử nạn tai khiên và đã thành tựu cứu an nhân loài tránh Đại Thế Chiến Thứ Ba tiêu diệt sự sống trên quả địa cầu. Những năm 1975 – 1993 Ngài đã nhiều lần cứu an dân miền Nam. Năm 1989 Ngài gỡ rối cho quốc gia đổi mới, dân chúng sống dễ thở hơn. Ngài còn thệ nguyện: “Dù nhân sinh có bạc đãi Ta, Ta vẫn đưa con người Giác Ngộ.” Ngài đã tận thành Thế Tôn Hạnh cùng đầy đủ: Ứng Cúng, Chánh Biến Tri, Minh Hạnh Túc, Thiện Thệ, Thế Gian Giải, Vô Thượng Sĩ, Điều Ngự Trượng Phu, Thiên Nhân Sư, Phật./-